Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, các quan hệ dân sự ngày càng gia tăng về số lượng, đa dạng về phương thức và phức tạp về tính chất. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng các tranh chấp dân sự được đưa ra giải quyết tại Tòa án.

Chế định chứng cứ và nguồn chứng cứ giữ vai trò then chốt trong tố tụng dân sự, là cơ sở để Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án. Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã kế thừa và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới về nguồn chứng cứ so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy các quy định này vẫn còn bộc lộ một số vướng mắc, bất cập. Tỷ lệ các bản án, quyết định dân sự bị hủy, sửa do việc thu thập, đánh giá nguồn chứng cứ chưa đầy đủ hoặc thiếu khách quan vẫn còn xảy ra, xuất phát từ cả khoảng trống pháp lý lẫn nhận thức, kỹ năng của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng. Từ thực tế đó, đề tài "Nguồn chứng cứ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể theo ba nhiệm vụ:

  1. Trình bày, phân tích làm rõ nhận thức và những vấn đề lý luận về nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự;
  2. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam;
  3. Đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về nguồn chứng cứ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về nguồn chứng cứ; hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh nguồn chứng cứ; mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn áp dụng nguồn chứng cứ tại Tòa án; cùng các quy định pháp luật tương ứng của một số quốc gia (Trung Quốc, Hoa Kỳ).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung và không gian: Tập trung vào tổng thể các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành điều chỉnh chế định nguồn chứng cứ và thực tiễn xét xử tại hệ thống Tòa án nhân dân;
    • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu khung pháp luật hiện hành theo BLTTDS năm 2015, có đối chiếu lịch sử lập pháp qua các thời kỳ (phong kiến, Pháp thuộc, 1945–2004, 2004–2015) và thực tiễn xét xử giai đoạn 2020–2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp. Khung lý thuyết của công trình dựa trên lý luận khoa học pháp lý về tố tụng dân sự, tiếp cận nguồn chứng cứ dưới góc độ lý thuyết phản ánh: sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan khi tương tác sẽ để lại dấu vết; thông tin về vụ việc dân sự được lưu giữ trong ý thức con người, vật hoặc tài liệu, và đó chính là nguồn chứng cứ.

Hệ thống khái niệm và cơ sở pháp lý được tác giả kế thừa và đối chiếu từ các nguồn:

  • Giáo trình chuẩn mực: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam (Trường Đại học Luật - ĐHQGHN, 2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam (Nguyễn Công Bình, 2011).
  • Văn bản quy phạm pháp luật trong nước: BLTTDS năm 2004, BLTTDS năm 2015 (các Điều 91, 94, 95, 98, 99, 101, 104); Luật Giao dịch điện tử năm 2023; Luật Công chứng; Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC.
  • Văn bản và tài liệu quốc tế: Luật Tố tụng Dân sự Trung Quốc 2007, Quy tắc chứng cứ dân sự năm 2019 của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc; Quy tắc Chứng cứ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Rules of Evidence - FRE); tài liệu nghiên cứu của Greg Fullelove, Laila Hamzi, Daniel Harrison (2012) và Miklós Kengyel, Zoltán Nemessányi (2012).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng chương:

  • Chương 1: Sử dụng phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích lý luận và tổng hợp tài liệu nhằm làm rõ các định nghĩa, đặc điểm, thuộc tính của nguồn chứng cứ và tái hiện tiến trình lập pháp lịch sử.
  • Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp giải thích luật và tổng hợp để rà soát chi tiết 9 nhóm nguồn chứng cứ tại Điều 94 BLTTDS năm 2015, từ đó chỉ ra các điểm mới và hạn chế kỹ thuật lập pháp.
  • Chương 3: Sử dụng phương pháp thống kê xã hội học pháp lý, phương pháp luật học so sánh để phân tích số liệu xét xử thực tế của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2020–2022 và bản án thực tế, làm cơ sở xây dựng hệ thống kiến nghị.

Nguồn dữ liệu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các công trình luận văn thạc sĩ chuyên ngành (Bùi Lan Oanh 2018, Nguyễn Văn Thanh 2013, Nguyễn Như Quỳnh 2018), các bài báo khoa học trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, và báo cáo tổng kết công tác hằng năm của Tòa án nhân dân tối cao.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chương 1 làm sáng tỏ bản chất pháp lý, đặc điểm, cơ sở khoa học của nguồn chứng cứ, lược sử lập pháp Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế.

  • Khái niệm và đặc điểm: Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ (thông tin, tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự), bao gồm người, vật và tài liệu. Tác giả phân tích 3 đặc điểm cốt lõi của nguồn chứng cứ:
    1. Chứa đựng các thông tin tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người và có tính liên quan trực tiếp/gián tiếp đến vụ án;
    2. Là căn cứ pháp lý để xác định tính hợp pháp của chứng cứ (chứng cứ chỉ hợp pháp khi được rút ra từ nguồn luật định);
    3. Phải được các cơ quan và người có thẩm quyền thu thập theo đúng trình tự, thủ tục luật định nhằm loại bỏ yếu tố chủ quan và bảo đảm giá trị pháp lý.
  • Đặc thù từng loại nguồn: Tài liệu đọc được (phải là bản chính hoặc bản sao hợp pháp); tài liệu nghe được, nhìn được (phải có văn bản xác nhận xuất xứ hoặc hoàn cảnh thu âm, thu hình); dữ liệu điện tử (tồn tại qua phương tiện điện tử); vật chứng (hiện vật gốc mang tính đặc định, đòi hỏi quy trình bảo quản nghiêm ngặt); lời khai của đương sự và người làm chứng (chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý, quyền lợi nên cần lấy lời khai riêng biệt và thẩm tra chéo); kết luận giám định tư pháp; biên bản thẩm định tại chỗ; kết quả định giá/thẩm định giá tài sản; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý (vi bằng của Thừa phát lại); văn bản công chứng, chứng thực.
  • Tiến trình phát triển lập pháp tại Việt Nam:
Giai đoạn lịch sử Văn bản / Dấu mốc tiêu biểu Đặc điểm quy định về chứng cứ và nguồn chứng cứ
Thời kỳ phong kiến Quốc triều hình luật (thời Lê), Quốc triều khám tụng, Hoàng Việt luật lệ (1802) Quy định kết hợp dân sự - hình sự; bảo vệ chứng cứ hiện trường; quy định lời khai nhân chứng (Điều 665 QTHL), chúc thư (Điều 390 QTHL), trừng trị tội "giả chứng" (Điều 334 HVLL).
Thời kỳ Pháp thuộc Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân sự thương sự tố tụng Bắc Kỳ (1921) Chịu ảnh hưởng của luật Pháp; quy định giá trị chứng minh của sổ sách thương mại (Điều 1405, 1406), chữ khắc văn bia/chuông khánh (Điều 1407), văn tự nợ (Điều 1408).
Giai đoạn 1945–2004 Thông tư 141/HCTP (1957), Thông tư 03/NCPL (1962), Pháp lệnh Giải quyết các vụ án dân sự (1989), Công văn 96/NCPL (1997) Ban đầu quy định mang tính hướng dẫn sơ khởi; Pháp lệnh 1989 bước đầu xác lập nghĩa vụ chứng minh, thẩm quyền thu thập chứng cứ của Tòa án nhưng chưa độc lập hoàn toàn.
Giai đoạn 2004–2015 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Tách riêng Chương "Chứng cứ và chứng minh" (Điều 79 - 98); liệt kê cụ thể các nguồn chứng cứ tại Điều 82; chuyển trọng tâm nghĩa vụ chứng minh cho đương sự.
Giai đoạn 2015 đến nay Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Mở rộng nguồn chứng cứ tại Điều 94: bổ sung dữ liệu điện tử, vi bằng, văn bản công chứng/chứng thực, kết quả thẩm định giá tài sản; bỏ tập quán khỏi danh mục Điều 94.
  • Kinh nghiệm pháp luật quốc tế:
    • Trung Quốc: Luật TTDS Trung Quốc năm 2007 (Điều 63) và Quy tắc chứng cứ dân sự năm 2019 của TANDTC Trung Quốc không quy định danh mục "nguồn chứng cứ" riêng mà liệt kê trực tiếp các loại chứng cứ; bắt buộc xuất trình bản gốc (Điều 61), áp dụng thủ tục đọc văn bản tuyên thệ trước Tòa đối với đương sự và người làm chứng (Điều 63, 68).
    • Hoa Kỳ: Quy tắc Chứng cứ Liên bang (FRE) không giới hạn nguồn chứng cứ cứng nhắc mà tập trung vào tiêu chuẩn tính phù hợp (relevance - Điều 401) và tính có thể chấp nhận được (admissibility - Điều 402, 403), nhằm bảo đảm sự linh hoạt và tính khách quan trong tranh tụng.

Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nguồn chứng cứ trong luật tố tụng dân sự

Chương 2 phân tích nội dung các quy phạm thực định tại Điều 94 và Điều 95 BLTTDS năm 2015 đối với 9 loại nguồn chứng cứ:

  1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử: Phải là bản chính hoặc bản sao công chứng/chứng thực hợp pháp; tài liệu nghe nhìn phải có văn bản xác nhận xuất xứ. Dữ liệu điện tử được đối chiếu theo Điều 3, Điều 7, Điều 11 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 dưới dạng thông điệp dữ liệu, văn bản điện tử, chứng thư điện tử.
  2. Vật chứng: Phải là hiện vật gốc, có tính đặc định, được bảo quản nguyên vẹn để không làm thay đổi đặc tính lý hóa và giá trị chứng minh.
  3. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng: Thực hiện theo Điều 98, Điều 99 BLTTDS năm 2015; người làm chứng dưới 18 tuổi hoặc hạn chế năng lực phải có người đại diện hợp pháp tham gia.
  4. Kết luận giám định: Phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục trưng cầu hoặc yêu cầu giám định tư pháp.
  5. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ: Tiến hành theo Điều 101 BLTTDS năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP, phản ánh hiện trạng có sự chứng kiến của chính quyền địa phương.
  6. Văn bản công chứng, chứng thực: Có giá trị chứng cứ trực tiếp theo quy định của Luật Công chứng và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, không phải xác minh lại trừ khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
  7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản: Quy định tại Điều 104 BLTTDS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC, ghi nhận quyền thỏa thuận giá hoặc chọn tổ chức thẩm định giá của đương sự.
  8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập (Vi bằng): Do Thừa phát lại lập theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP; lập thành 03 bản chính, phải đăng ký tại Sở Tư pháp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày lập.
  9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định: Quy phạm dự phòng cho các nguồn phát sinh trong tương lai và các tập quán thương mại.

Các hạn chế, bất cập trong quy định của BLTTDS năm 2015 được chỉ ra:

  • Thứ nhất: Chưa quy định rõ nghĩa vụ/trách nhiệm chứng minh khi có nghi ngờ, tranh chấp về tính xác thực của tài liệu đọc được là bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp.
  • Thứ hai: Thiếu hướng dẫn cụ thể về hình thức, nội dung của "văn bản xác nhận xuất xứ" đối với tài liệu nghe được, nhìn được.
  • Thứ ba: Bất cập về kỹ thuật lập pháp tại Điều 94 khi đồng nhất "lời khai" (vốn là thông tin) là nguồn chứng cứ, trong khi nguồn chứa đựng thực tế là các biên bản lấy lời khai, băng ghi âm/ghi hình.
  • Thứ tư: Việc loại bỏ "tập quán" ra khỏi danh mục Điều 94 tạo ra sự thiếu hụt quy phạm khi giải quyết các tranh chấp thương mại và dân sự truyền thống.
  • Thứ tư: Tên gọi Điều 95 ("Xác định chứng cứ") chưa thực sự tương thích với nội dung xác định nguồn chứng cứ.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nguồn chứng cứ và kiến nghị

  • Thực trạng và kết quả đạt được: Số lượng vụ việc dân sự Tòa án thụ lý, giải quyết hằng năm liên tục gia tăng. Theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2020–2022:
    • Năm 2022, các Tòa án đã thụ lý 444.402 vụ việc dân sự, tăng 6% (tương ứng tăng 26.636 vụ việc) so với năm 2021.
    • Tòa án các cấp đã tích cực hướng dẫn đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo Điều 91 BLTTDS năm 2015, chủ động tiến hành các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ khi cần thiết; năng lực nhận diện nguồn chứng cứ của Thẩm phán và Thư ký Tòa án từng bước được nâng cao.
  • Hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn:
    • Tình trạng đánh giá sai hoặc thu thập không đầy đủ nguồn chứng cứ (ví dụ: lời khai của người làm chứng có mâu thuẫn nhưng không tổ chức đối chất; hồ sơ địa chính, giấy tờ đất đai có sự mâu thuẫn giữa các cơ quan quản lý nhà nước) dẫn đến bản án bị hủy, sửa, kéo dài thời gian giải quyết vụ án (được minh chứng qua Bản án sơ thẩm số 20/2019/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện C).
    • Đương sự không hiểu rõ nghĩa vụ chứng minh, che giấu hoặc không cung cấp chứng cứ, không hợp tác khi Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ.
  • Hệ thống giải pháp và kiến nghị:
    • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi Điều 94 và Điều 95 BLTTDS năm 2015 theo hướng chuẩn hóa thuật ngữ; bổ sung hướng dẫn chi tiết về quy chuẩn văn bản xác nhận xuất xứ tài liệu nghe nhìn và phương thức kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; bổ sung cơ chế xử lý khi có khiếu nại về bản sao công chứng; ghi nhận lại tập quán như một nguồn chứng cứ bổ trợ.
    • Kiến nghị về thực hiện pháp luật: Tăng cường tập huấn kỹ năng thu thập, đánh giá nguồn chứng cứ cho Thẩm phán; đẩy mạnh phối hợp liên ngành giữa Tòa án với các cơ quan giám định, cơ quan quản lý đất đai và tổ chức Thừa phát lại; nâng cao công tác tuyên truyền pháp luật về nghĩa vụ giao nộp chứng cứ của đương sự.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện các khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự:

  1. Về mặt lý luận: Khái quát hóa và chuẩn hóa khái niệm, đặc điểm và cơ sở khoa học của nguồn chứng cứ; phân định ranh giới lý luận giữa "chứng cứ" (thông tin) và "nguồn chứng cứ" (nơi chứa đựng thông tin); hệ thống hóa tiến trình lập pháp qua 5 thời kỳ lịch sử của Việt Nam và so sánh với mô hình tố tụng của Trung Quốc, Hoa Kỳ.
  2. Về mặt đánh giá thực trạng: Rà soát có hệ thống 9 nhóm nguồn chứng cứ theo BLTTDS năm 2015 gắn liền với các đạo luật chuyên ngành mới (Luật Giao dịch điện tử 2023, Nghị định 08/2020/NĐ-CP); chỉ ra 5 điểm bất cập trong kỹ thuật lập pháp tại Điều 94 và Điều 95.
  3. Về mặt thực tiễn và số liệu: Trích dẫn số liệu thống kê chính thức từ Tòa án nhân dân tối cao chứng minh áp lực thụ lý giải quyết án dân sự (năm 2022 thụ lý 444.402 vụ việc, tăng 26.636 vụ việc so với năm 2021) và phân tích nguyên nhân các sai sót trong thu thập nguồn chứng cứ dẫn đến án bị hủy, sửa.
  4. Về giải pháp: Đề xuất các nhóm kiến nghị lập pháp và áp dụng pháp luật có tính đồng bộ, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về chứng cứ trong tố tụng dân sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Phạm vi khảo sát thực tiễn chủ yếu dựa trên báo cáo tổng kết chung của Tòa án nhân dân tối cao (2020–2022) và một số bản án thực tiễn điển hình, chưa thực hiện được khảo sát định lượng sâu trên phạm vi toàn bộ Tòa án địa phương.
    • Khảo sát pháp luật nước ngoài giới hạn ở hai hệ thống pháp luật tiêu biểu là Trung Quốc (Civil Law) và Hoa Kỳ (Common Law).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu quy trình thu thập, chuyển hóa và xác thực các nguồn chứng cứ số phức tạp (dữ liệu mạng xã hội, giao dịch chuỗi khối, hợp đồng thông minh) trong bối cảnh chuyển đổi số tư pháp.
    • Nghiên cứu chuyên đề sâu về cơ chế kiểm tra chéo và giá trị chứng minh của vi bằng do Thừa phát lại lập trong các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất phức tạp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật: Tài liệu tham khảo hữu ích cho học phần Luật Tố tụng dân sự, chuyên đề Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự.
    • Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư, Thừa phát lại): Tham khảo quy trình nhận diện, thủ tục thu thập và giá trị chứng minh của từng loại nguồn chứng cứ theo luật định.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phần phân tích chi tiết điều kiện hợp pháp của từng nguồn chứng cứ tại Chương 2 (đặc biệt là quy định về dữ liệu điện tử theo Luật Giao dịch điện tử 2023 và vi bằng theo Nghị định 08/2020/NĐ-CP).
    • Bảng tổng hợp lịch sử các quy định pháp luật về nguồn chứng cứ từ thời kỳ phong kiến đến nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt giữa "chứng cứ" và "nguồn chứng cứ" như thế nào?
Theo phân tích của tác giả dựa trên giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội và lý luận duy vật biện chứng, chứng cứ là các tình tiết, sự kiện (thông tin khách quan có liên quan đến vụ án), còn nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng, lưu giữ và rút ra các tình tiết, sự kiện đó (gồm con người, đồ vật, tài liệu).

2. BLTTDS năm 2015 đã bổ sung những loại nguồn chứng cứ mới nào so với BLTTDS năm 2004?
Điều 94 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm các nguồn chứng cứ mới, bao gồm: Dữ liệu điện tử; Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập (vi bằng); và Văn bản công chứng, chứng thực.

3. Quy định về văn bản công chứng, chứng thực trong BLTTDS năm 2015 có điểm gì đổi mới so với BLTTDS năm 2004?
Theo BLTTDS năm 2004, văn bản công chứng/chứng thực chỉ được coi là chứng cứ khi được đương sự thừa nhận hoặc có cơ sở khác xác minh. BLTTDS năm 2015 công nhận trực tiếp văn bản công chứng, chứng thực hợp pháp là nguồn chứng cứ và là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh (trừ khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu), giúp tiết kiệm thời gian xác minh và ngăn chặn việc đương sự cố tình phủ nhận.

4. Tại sao tác giả cho rằng việc loại bỏ "tập quán" ra khỏi Điều 94 BLTTDS năm 2015 là một điểm thiếu sót?
Tác giả lập luận rằng trong các giao dịch thương mại trong nước và quốc tế, tập quán thương mại là thói quen có nội dung rõ ràng được thừa nhận rộng rãi để xác định quyền và nghĩa vụ các bên. Việc BLTTDS năm 2015 bãi bỏ tập quán trong danh mục nguồn chứng cứ tạo ra khoảng trống pháp lý khi giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế, tranh chấp về đi sản thừa kế, chăn nuôi, đánh cá theo tập quán địa phương.

5. Khóa luận trích dẫn số liệu nào của Tòa án nhân dân tối cao để chứng minh tính cấp thiết của đề tài?
Khóa luận dẫn báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2020–2022, trong đó ghi nhận năm 2022 Tòa án các cấp đã thụ lý 444.402 vụ việc dân sự, tăng 6% (tăng 26.636 vụ việc) so với năm 2021, phản ánh khối lượng công việc và tần suất thu thập, đánh giá nguồn chứng cứ ngày càng lớn.


Kết luận

Khóa luận "Nguồn chứng cứ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam" của tác giả Phạm Trung Dũng là công trình nghiên cứu hệ thống về chế định nguồn chứng cứ trong khoa học luật tố tụng dân sự. Công trình đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, phân tích chi tiết điều kiện pháp lý của 9 nhóm nguồn chứng cứ theo BLTTDS năm 2015, đồng thời chỉ ra các bất cập lập pháp và vướng mắc thực tiễn qua số liệu xét xử giai đoạn 2020–2022. Các kiến nghị sửa đổi luật và giải pháp thực thi được đề xuất có giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cho công tác lập pháp cũng như hoạt động xét xử dân sự.