Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE KHÁNG CÁO, KHANG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THÁM DAN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc tham dân sự 1. Khái niệm, đặc điểm của kháng cáo theo thủ tục phúc thấm dân sự 1. Khai niệm khang cáo theo thủ tục phúc thẩm dân sự Bản án, quyết định sơ thẩm mặc dù đã dựa trên các chứng cứ, tài liệu được tranh tụng công khai, minh bach tại phiên tòa và các quy định của pháp luật nhưng do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan thì bản án, quyết định sơ thẩm vẫn có thé có những thiếu sót, sai lầm.
Vì vậy, dé bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tô chức, đồng thời khắc phục những sai lầm có thể có trong các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thâm thì pháp luật TTDS của các nước đều quy định cho các chủ thé có quyền va lợi ích liên quan hoặc chủ thé theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu xét xử lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, có thé nói co sở làm phát sinh thủ tục phúc thẩm dân sự phải dựa trên yêu cầu của các chủ thé. Các yêu cầu này được gọi là kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thâm dân sự. Phúc thâm là một thủ tục có tính truyền thống lâu đời của TTDS, nó được áp dụng ngay từ thời La Mã cổ đại.
“Theo trình tự tố tụng đặc biệt (cognitio extraordinaria), các quyết định do các quan tòa cấp dưới đưa ra không phải lúc nào cũng có hiệu lực, do vậy nếu các bên không thỏa mãn thì được quyền kháng cáo lên ool Tòa án cấp trên”'. Tuy nhiên, khang cáo, khang nghị theo thủ tục phúc tham được quy định đầu tiên ở quốc gia nào là một vẫn đề khó có thê xác định một cách chính xác. Theo các tác giả Frederick Pollock and Frederic William Maitland: Vào thé ky thứ mười hai dưới ảnh hưởng của giáo luật khái niệm khang cáo trở nên quen thuộc hơn đối với người Anh. Cụ thể, họ kháng cáo từ phó giáo chủ đến giám mục, từ giám mục đến tổng giám mục, từ tong giáo mục đến giáo hoàng.
Thủ tục này của Tòa án giáo hội ngày càng được công nhận là một mô hình hâp dân. Tòa án của nhà ' Nguyễn Ngọc Đào (2000), Luật La Mã, Nxb tổng hợp Đồng Nai, tr. 254 — 258, trích trong tài liệu: “Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong to tụng dân sự Việt Nam, Luận án tiễn sĩ Luật học, tr. II vua được hưởng lợi từ ý tưởng mới này.
Tòa án của nhà vua đã thiết lập với các Tòa án địa phương theo cách mà viện nguyên lão dưới thời La mã đã thiết lập với các Tòa án của giám mục. Sau đó, phải mất một thời gian, ý tưởng này được áp dụng ở nước Anh theo trình tự từ Tòa án đến Tòa án”. Các tác giả Serge Guinchard and Frédérique Ferrand khi trình bày về luật TTDS của Cộng hòa Pháp có viết rằng, kháng án phúc thâm phát sinh từ việc khang định quyền lực của nhà Vua đối với công lý lãnh chúa và sau này đã được duy trì trong lĩnh vực dân sự ở thời Đại cách mạng Pháp, dưới thé thức kháng án chu luân (appel circulaire) theo danh nghĩa của nguyên tắc bình đăng”. Cụ thé hơn TS.
Nguyễn Đăng Dung khi nghiên cứu về hệ thống tư pháp của Pháp có nói rằng: “Nước Pháp, ở nền cộng hòa thứ nhất cũng đã thử nghiệm chế độ kháng cáo chuyên ngang hay kháng cáo chu luân. Sau khi tuyên xử, nếu đương sự không tâm phục khẩu phục thì vụ án sẽ được chuyền sang Tòa án khác cùng cấp ở địa hạt bên cạnh dé phúc thâm.”” Có thể thấy, cùng với thời gian, kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thâm ngày càng được phát triển và từng bước được khăng định. Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thâm được áp dụng tương đối phổ biến với nội dung và mức độ khác nhau trong khoa học luật TTDS ở các nước thuộc hệ thống pháp luật dân sự cũng như hệ thống pháp luật án lệ. Ở các nước theo truyền thống pháp luật dân sự như Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga.
thì các đương sự, VKS (Viện công tố) có quyền khang cáo, kháng nghị về vấn đề sự kiện và luật pháp”. Ở các nước theo truyền thong pháp luật án lệ như Anh, Mi. thì các ban án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay. Tuy nhiên, dé đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự thì VKS không được kháng nghị phúc thâm mà chỉ có đương sự mới có quyền kháng cáo phúc thâm để yêu cầu Tòa án cấp trên sửa chữa những sai lầm có thé có của Tòa án cấp dưới.
Nhưng các đương sự chỉ được kháng cáo về khía cạnh pháp lý bởi ở giai đoạn sơ ? International Bar Association Series, Charles platto (Editor) (1992), Civil Appeal Procedures Worldwide, Graham and Trotman, London, UK, tr. 4, trích trong tài liệu: “Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phvic thẩm trong tổ tụng dân sự Việt Nam, Luận an tiễn sĩ Luật học, tr. ở Serge Guinchard, Frédérique Ferrand (2006), Procédure civile Droit interne et droit communautaire, édition Dalloz, tr. 1166, trích trong tài liệu: “Nguyễn Thi Thu Hà (2011), PJúc thẩm trong tô tung dân sự đói Nam, Luậnán tiến sĩ Luật học, tr.
* Nguyễn Dang Dung (2001), Luat hiển pháp đối chiếu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 268, trích trong tài liệu: “Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong tô tụng dân sự Việt Nam, Luận án tiễn sĩ Luật học, tr. 9": Ÿ Tòa án nhân dân tối cao (2000), Về pháp luật tổ tung dân sự, Kỷ yêu Dự án VIE/95/017 Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội, tr. 12 thâm các bên đương sự đã có cơ hội như nhau trong việc cung cấp chứng cứ và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
Ở Việt Nam, việc kháng cáo, kháng nghị được thực hiện khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử. Nhưng, hiện nay theo quy định tại Điều 17 của BLTTDS năm 2015, chúng ta áp dụng nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thâm, phúc thâm. Theo đó, các bản án, quyết định sơ thâm của Tòa án có thê bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thấm theo quy định của BLTTDS. Khi đương sự kháng cáo, VKS kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xét xử lại VADS theo thủ tục phúc thâm.
Vậy, về mặt lý luận, khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thấm dân sự được hiểu như thế nào? Khang cáo (theo tiếng la tinh là apelatio) được các nhà khoa học pháp lý ở nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, đề cập đến. Theo tác giả Serge Guinchard and Frédérique Ferrand của Pháp thì “Kháng cáo phúc thâm (appel) là một hình thức kháng cáo theo thông luật (thông thường) và là hình thức kháng cáo nhằm cải sửa hoặc huỷ bỏ, theo đó bên tự cho là bị thương tổn bởi một phán quyết, đưa vụ kiện và phán quyết ra trước các Thâm phán ở một cấp cao hơn”. Kopmynos thì cho rằng: “kháng cáo (Anennauns) là hoạt động tô tụng của các chủ thé làm phát sinh quyền Tòa án cấp cao hơn xem xét lại vụ việc đã được giải quyết ở Tòa án cấp dưới và trên cơ sở đó Tòa án cấp cao hơn có quyền ra quyết định mới về vụ việc hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng đối với vụ việc ””. Hoặc trong cuốn Luận điểm về luật pháp của Anh có khang định rằng: “Kháng cáo (appeal) là việc gửi đơn đến một Tòa án hoặc trọng tài cấp cao hơn để yêu cầu huỷ bỏ, thay đổi hoặc xem xét lại một bản án, quyết định của Tòa án hoặc trọng tài cấp dưới theo thủ tục của hệ thống của Tòa án hoặc trọng tài trên cơ sở là bản án, quyết định của Tòa án cấp đưới đã được quyết định sai hoặc do vấn đề tư pháp hoặc luật pháp cần phải được xem xét lại cho chính xác”Š, Như vậy, có thé thay ở hau het các nước trên thê giới với mục đích đảm bao ° Nguyễn Thị Thu Hà (2011), PJúc thẩm trong to tung dân sự Việt Nam, Luận án tiễn sĩ Luật học, Hà Nội, tr.
Kopmynos (2005) 7pazcòancKuk [poyecc, YucØHnK, Wl3xare/IbcrBo KcMo, MocKsa, tr 475, trích trong tài liệu: “Nguyên Thị Thu Hà (2011), Phúc thám trong tô tụng dân sự Việt Nam, Luận án tiên sĩ Luật học, tr. * Halsburys Laws ofEngland (1991), 4" edition, Volume 37, Lexis Nexis Butterworths, UK, tr. 677, trích trong tai liệu: “Nguyên Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong tô tụng dan sự Việt Nam, Luan an tiên sĩ Luật học, tr. 13 tối đa quyền của các bên tham gia tố tụng nên các bên đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới hay kháng cáo được hiểu rộng hơn, không chỉ là việc chống lại các bản án, quyết định sơ thâm mà bao gồm cả việc chống lai các bản án, quyết định phúc tham dé yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại vụ án.
Ở một số nước như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Nga thì không phân ra kháng cáo của đương sự và kháng nghị của VKS mà dù là đương sự hay VKS thì đều có quyên chống lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới dé yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại theo thủ tục phúc thấm, thủ tục phá án (giám đốc thâm) hoặc thủ tục tái thâm và gọi chung là kháng cáo. Như vậy, các đương sự, VKS có quyền kháng cáo phúc thấm, kháng cáo pha án (giám đốc thẩm) và kháng cáo tái thâm. Ngoài ra, pháp luật TTDS của Cộng hòa Pháp còn quy định về kháng án vắng mặt (opposition) và kháng tố của người thứ ba. Kháng án vắng mặt là việc đương sự bị xử vắng mặt yêu cầu Tòa án rút lại bản án đã xét xử vắng mặt (Điều 571 BLTTDS Pháp).
Kháng tố là việc người thứ ba có lợi ích liên quan đến vu án nhưng không phải là đương sự hoặc không phải là người dai diện trong vụ án đã được Tòa an xét xử yêu cầu Tòa án thu hồi hoặc sửa lại bản án vì lợi ích của người thứ ba (Điều 582, 583 BLTTDS Cộng hòa Pháp)”. Cộng hòa Liên bang Nga cũng có quy định về việc bị đơn có quyền yêu cầu Tòa án ra bản án vắng mặt hủy bỏ bản án đó (Điều 237 BLTTDS Nga)".