Luận Án Tiến Sĩ Về Kiểm Soát Việc Thực Hiện Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Ở Việt Nam Hiện Nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của chính phủ ở việt nam hiện nay, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

227
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ Việt Nam

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ Việt Nam, một vấn đề quan trọng trong hệ thống chính trị và pháp lý hiện đại. Quyền hành pháp là quyền lực nhà nước về tổ chức thực thi pháp luật, đưa các quy định pháp luật vào đời sống xã hội. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc kiểm soát quyền lực này để ngăn chặn tình trạng lạm quyền, bảo vệ quyền lợi của người dân và đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động của Chính phủ. Cơ chế kiểm soát bao gồm sự giám sát từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và người dân.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm soát quyền hành pháp

Kiểm soát quyền hành pháp được định nghĩa là quá trình giám sát, đánh giá và điều chỉnh hoạt động của Chính phủ nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả. Đặc điểm của kiểm soát quyền hành pháp bao gồm tính toàn diện, khách quan và đồng bộ. Luận án chỉ ra rằng, việc kiểm soát này không chỉ giới hạn trong phạm vi pháp lý mà còn liên quan đến các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội.

1.2. Mục đích và nội dung của kiểm soát quyền hành pháp

Mục đích chính của kiểm soát quyền hành pháp là ngăn chặn sự lạm quyền, đảm bảo quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích. Nội dung của kiểm soát bao gồm việc giám sát các quyết định, chính sách và hoạt động của Chính phủ, đảm bảo chúng tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Luận án cũng nhấn mạnh vai trò của các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Tòa án và Kiểm toán Nhà nước trong quá trình kiểm soát này.

II. Thực trạng kiểm soát quyền hành pháp ở Việt Nam

Luận án phân tích thực trạng kiểm soát quyền hành pháp ở Việt Nam, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cải cách hành chính và tăng cường tính minh bạch, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong việc kiểm soát quyền lực. Các cơ chế kiểm soát hiện tại chưa đủ mạnh để ngăn chặn triệt để tình trạng lạm quyền và tham nhũng.

2.1. Kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quyền hành pháp thông qua các chính sách và định hướng lớn. Tuy nhiên, luận án chỉ ra rằng, sự kiểm soát này cần được củng cố và hoàn thiện hơn để đảm bảo tính độc lập và khách quan trong hoạt động của Chính phủ.

2.2. Kiểm soát của các cơ quan nhà nước

Các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Tòa ánKiểm toán Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp kiểm soát quyền hành pháp. Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp này còn hạn chế do thiếu sự phối hợp đồng bộ và nguồn lực không đủ mạnh. Luận án đề xuất cần tăng cường vai trò của các cơ quan này trong việc giám sát và đánh giá hoạt động của Chính phủ.

III. Giải pháp hoàn thiện kiểm soát quyền hành pháp

Luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền hành pháp ở Việt Nam. Các giải pháp này bao gồm việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của kiểm soát quyền lực, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường năng lực của các cơ quan kiểm soát. Chính sách côngpháp luật Việt Nam cần được cải cách để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát quyền hành pháp một cách hiệu quả.

3.1. Nâng cao nhận thức về kiểm soát quyền hành pháp

Việc nâng cao nhận thức về kiểm soát quyền hành pháp là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự tham gia tích cực của các cơ quan nhà nước và người dân. Luận án đề xuất các chương trình giáo dục và tuyên truyền nhằm nâng cao hiểu biết về quyền lực nhà nước và vai trò của kiểm soát quyền lực.

3.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật

Pháp luật Việt Nam cần được hoàn thiện để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc kiểm soát quyền hành pháp. Luận án đề xuất việc sửa đổi các quy định hiện hành và ban hành các đạo luật mới nhằm tăng cường hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của chính phủ ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trong khoa học pháp lý ở nước ngoài, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ được nhiều tác giả ở nhiều quốc gia khác nhau nghiên cứu, tiếp cận trên nhiều phương diện, nhiều góc nhìn khác nhau. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến kiểm soát quyền lực nhà nước và kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ mà tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận án. Các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước Tư tưởng về kiểm soát quyền lực nhà nước đã xuất hiện từ thời cổ đại - khi kiểu Nhà nước và pháp luật đầu tiên tồn tại ở Hy Lạp và La Mã - cùng với sự hình thành và phát triển của thuyết phân chia quyền lực.

Thời kỳ này, trong tác phẩm “The Politics” (Nền chính trị) hay “A Treatise on Government” (Luận về chính quyền), Aristote khi bàn về tổ chức bộ máy Nhà nước đã phân tách Nhà nước thành ba bộ phận là thảo luận hay quyết nghị (lập pháp), áp dụng luật (hành pháp) và cơ quan tòa án để xét xử theo luật (tư pháp). Như vậy, thông qua các tác phẩm này, Aristote đã đề cập đến việc phân chia quyền lực để kiểm soát quyền lực lẫn nhau giữa các bộ phận quyền lực nhà nước, mặc dù mới dừng ở mức độ sơ khai. Tư tưởng này của Aristote đã được các nhà tư tưởng John Locke, Montesquieu, Rousseau kế thừa phát triển và hoàn thiện. Tư tưởng phân chia quyền lực, kiểm soát quyền lực nhà nước của John Locke chủ yếu được thể hiện trong tác phẩm: “Two Treatises of Government” (Hai chuyên luận về chính quyền).

Trong tác phẩm này, John Locke đã lý giải khá cặn kẽ về nguồn gốc, mục đích của Nhà nước và các loại quyền lực nhà nước; phân tích rõ về nội dung, phạm vi giới hạn của từng quyền, về vị trí và mối quan hệ giữa các loại quyền lực nhà nước. John Loke cho rằng, trong thể chế chính trị tự do, cả ba loại quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp và liên bang) đều do Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước thông qua khế ước và cả quyền lực nhà nước nói chung và từng loại quyền lực nhà nước đều phải bị hạn chế hoặc giới hạn bởi chính những điều khoản của khế ước đó. Điều đặc biệt là trong tác phẩm này, John Locke đã chỉ rõ những mối nguy hại của việc lạm dụng quyền lực, đồng thời đã dự kiến được sự xung đột giữa hai bộ phận quyền lực quan trọng là lập pháp và hành pháp với nhau và với Nhân dân. Từ đó, ông chỉ ra những biện pháp để ngăn chặn và giải quyết những xung đột nói trên và đặc biệt là ngăn chặn sự chuyển từ chế độ dân chủ sang chế độ độc tài chuyên chế.

So với tư tưởng phân quyền của Aristote thì tư tưởng phân quyền để kiểm soát quyền lực của John Locke rõ ràng, cụ thể hơn. Tuy nhiên, tư tưởng dân chủ và tư tưởng phân quyền thiếu triệt để là hạn chế cơ bản trong quan niệm về phân chia quyền lực của John Locke. 10 Tác phẩm “The Spirit of the Laws” (Tinh thần pháp luật) của Montesquieu đã đưa thuyết phân chia quyền lực nhà nước đạt đến sự hoàn thiện. Trong tác phẩm này, Montesquieu cho rằng muốn có tự do của con người mà đặc biệt là tự do chính trị thì phải có một cơ chế tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước chống được sự lạm quyền.

Đó chính là cơ chế phân chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền là quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và phải có sự kiềm chế lẫn nhau giữa các loại quyền đó. Theo Montesquieu, ba loại quyền lực nói trên có nội dung khác nhau và phải được chia tách với nhau, phải được trao cho các chủ thể khác nhau thực hiện mới có thể kiểm soát được quyền lực, tránh được sự chuyên quyền, độc đoán và nhiều hậu quả xấu khác, nhờ vậy mới bảo đảm được tự do của công dân. Tóm lại, điểm đặc biệt của tư tưởng phân quyền của Montesquieu là ông đã đề cập đến tính triệt để của thuyết phân quyền. Ông đã đề xướng việc phân chia quyền lực nhà nước thành ba bộ phận quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, hoạt động theo nguyên tắc kiềm chế và đối trọng lẫn nhau, “dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực” để ngăn ngừa sự lạm quyền, chuyên quyền của bất kỳ bộ phận quyền nào, từ đó bảo đảm quyền tự do cho công dân.

Tư tưởng phân chia quyền lực của Monstesquieu đã trở thành nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước của nhiều nước trên thế giới ngày nay. Dù vậy, với tác phẩm này Montesquieu mới chỉ nghiên cứu, luận bàn về cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy Nhà nước mà chưa đề cập đến cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhân dân, xã hội. Tác phẩm “Du contrat social” (Bàn về khế ước xã hội) của Rousseau Jean Jacques: Trong tác phẩm này, Rousseau thừa nhận sự tồn tại của các quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp trong một Nhà nước. Là người khẳng định tư tưởng chủ quyền tối cao là của Nhân dân, nên Rousseau luôn đề cao đến việc ngăn chặn sự lạm quyền trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước và nêu lên các giải pháp ngăn chặn sự lạm quyền của bộ phận quyền hành pháp và tư pháp.

Vì vậy, Rousseau đòi hỏi phải chia tách giữa các ngành quyền, mỗi cơ quan nắm giữ mỗi quyền trên phải chuyên chú và thu hẹp hoạt động vào việc thực hiện chức năng riêng của mình. Đối với bộ phận quyền hành pháp, ông cho rằng những người được ủy thác nắm quyền hành pháp là đang thực hiện chức năng được quốc gia giao phó, đang làm nghĩa vụ công dân chứ không có quyền đặt điều kiện với Nhân dân. Khi Chính phủ lạm quyền và thoái hóa thì sẽ bị giải tán. Rousseau đã nêu việc giải tán Chính phủ có thể xảy ra trong hai trường hợp là: khi người đứng đầu Chính phủ không cai trị theo pháp luật mà lấn át cơ quan quyền lực tối cao (cơ quan lập pháp) và khi các thành viên Chính phủ thoán đoạt quyền hành một cách riêng rẽ mà đáng ra họ phải thực hiện quyền này một cách tập thể.

Như vậy, Rousseau đã góp phần hoàn thiện thêm cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, khẳng định quyền lực nhà nước cần phải bị kiểm soát cả từ bên trong lẫn bên ngoài, tuy vẫn chưa đầy đủ và toàn diện. Điểm đặc biệt trong quan điểm của Rousseau là ông không đề cập đến sự lạm quyền của quyền lập pháp vì theo ông bộ phận quyền này thuộc về Nhân dân, là bộ phận quyền tối cao và ông 11 cho rằng sự lạm quyền chỉ xảy ra với hai ngành hành pháp và tư pháp là những ngành được Nhân dân hoặc luật ủy quyền Chuyên khảo: “Chính thể đại diện” (Representative government) của John Stuart Mill (1861). Đây được xem là một trong những khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị - xã hội ở các nước Anh và Hoa Kỳ thế kỷ XIX. Thông qua tác phẩm, John Stuart Mill đã tập trung phân tích chức năng của các bộ phận quyền lực hợp thành chính thể đại diện: cơ quan đại diện quốc gia - Nghị viện, bộ phận hành pháp, cơ quan đại diện địa phương.

Theo đó, quyền lực kiểm soát tối thượng thuộc về Nhân dân thông qua các đại diện được Nhân dân bầu lên theo định kỳ. Ông cũng bàn về những nguy cơ có thể xảy ra đối với chính thể đại diện đó là nguy cơ về trình độ dân trí thấp trong hội đồng đại biểu và trong công luận kiểm soát hội đồng; và nguy cơ về sự lập pháp giai cấp dựa vào bộ phận đa số số học bao gồm toàn bộ những người cùng một giai cấp. John Stuart Mill dành chương XIV để bàn về hoạt động của bộ phận hành pháp. Đối với bộ phận này, John Stuart Mill nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân chia trách nhiệm rõ ràng, ông đặc biệt coi trọng việc xác định trách nhiệm cá nhân và phê phán kiểu chịu trách nhiệm tập thể.

Ông cho rằng, việc xác định trách nhiệm là yếu tố quan trọng trong kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Tuy nhiên tác phẩm chưa đi sâu vào phân tích việc kiểm soát giữa các bộ phận quyền lực nhà nước, đặc biệt là các hình thức, phương pháp kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ. Các công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò, tổ chức, thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ và kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ Đối với việc nghiên cứu về quyền hành pháp và kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, các tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài dưới góc độ luật học cho thấy bức tranh đa màu sắc về cách thức hiến định vị trí, vai trò Chính phủ, mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan nhà nước khác trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, cách thức kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ. Các công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò, tổ chức và thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ - “Imperial Presidency” (Tổng thống toàn quyền) của Arthur Achlesinger, Jr.

Trong tác phẩm, tác giả đã trình bày quan điểm của ông khi cho rằng quyền lực và đặc quyền của Tổng thống (Chính phủ) Hoa Kỳ đã phát triển quá nhanh trong suốt thế kỷ XX dẫn đến nguyên tắc của Chính phủ cân bằng rơi vào tình thế nguy hiểm. Richard Nixon, người đã lạm dụng quyền lực và cuối cùng đã buộc phải từ chức, đã đại diện cho sự mở rộng khuynh hướng đó của Achlesinger. Trước sự ra đi của Nixon, những học giả, chính trị gia, và những nhà quan sát chính trị đã kêu gọi Quốc hội kiềm chế quyền lực của Tổng thống toàn quyền và Quốc hội đã nỗ lực hành động đạt được những thành công nhất định. 12 - “The excutive, branch of the federal government: purpose, process and people” (Nhánh hành pháp của Chính phủ liên bang: mục đích, quá trình thực hiện và con người), do Britannica Educational Publishing xuất bản năm 2010.

Cuốn sách tập trung nghiên cứu về vai trò của bộ phận quyền hành pháp liên bang, về Tổng thống và Chính phủ, về nhiệm kỳ của Tổng thống, về các nhiệm vụ của Cơ quan điều hành và Văn phòng và cách thức bầu Tổng thống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kiểm Soát Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Việt Nam: Luận Án Tiến Sĩ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế kiểm soát quyền lực hành pháp trong hệ thống chính trị Việt Nam. Luận án này không chỉ phân tích các quy định pháp lý hiện hành mà còn đề xuất những cải cách cần thiết nhằm tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm của chính phủ. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của quyền lực nhà nước, từ đó có thể tham gia tích cực hơn vào các vấn đề xã hội và chính trị.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học chế định đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015, nơi phân tích các quy định về đồng phạm trong luật hình sự. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ chế định kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình vấn đề lý luận và thực tiễn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong bộ luật hình sự năm 2015 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các tội phạm cụ thể trong luật hình sự, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống pháp luật Việt Nam.