Chương 1: Khái quát về kiểm soát nội bộ trong công ty cô phần và pháp luật về kiểm soát nội bộ trong công ty cô phần Chương 2: Pháp luật về kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần ở một số quốc gia trên thé giới Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về kiêm soát nội bộ trong công ty cô phân 12 i CHUONG 1 KHAI QUAT VE KIEM SOAT NOI BO TRONG CONG TY CO PHAN VA PHAP LUAT VE KIEM SOAT NOI BO TRONG CONG TY CO PHAN 1. Khai quát về kiểm soát nội bộ trong công ty cỗ phần 1. Khái niệm và đặc điểm công ty cổ phan Điều 111 LDN năm 2020 quy định CTCP là doanh nghiệp, trong đó: “a) Vốn diéu lệ được chia thành nhiều phan bằng nhau gọi là cé phan; b) Cô đông có thé là tổ chức, cá nhân; số lượng cô đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng toi da; €) Cả đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; d) Cô đông có quyên tự do chuyển nhượng cổ phan của minh cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Diéu 120 và khoản 1 Diéu 127 của Luật nay.” Trước hết, là một trong những loại hình DN được LDN điều chỉnh, CTCP cũng mang những đặc điểm chung của DN, bao gồm: CTCP là tổ chức có tên riêng; có tài sản, có trụ sở giao dịch; được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh". Bên cạnh đó, CTCP có đặc điểm riêng phân biệt với những loại hình DN khác: - Thứ nhất, về bản chất: CTCP là loại hình đặc trưng của công ty mang tính đối vốn.
Điều đó có nghĩa là trong quá trình hoạt động, việc kết nạp thành viên của công ty chủ yếu dựa trên sự quan tâm đến yếu tố vốn góp chứ không phải là nhân thân người gop von. Bởi vậy, CTCP là loại hình doanh nghiệp có cau trúc vốn mở, cho phép tat cả các nhà đầu tư không thuộc đối tượng bị cắm góp vốn, mua cô phần đều có thể tham gia vào công ty. - Thứ hai, về vôn điều lệ: Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, dé phù hợp với phương thức huy động vốn đặc trưng, vốn điều lệ của CTCP sẽ được chia thành nhiều phần băng nhau gọi là cổ phần. Tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp, vốn điều lệ của CTCP được xác định là tổng mệnh giá cô phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.
Các cô đông sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán số cô phan đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày ké từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sau khi kết thúc thời hạn này, vốn điều lệ của CTCP được xác định là tổng mệnh giá cô phần các loại đã bán (đã được các cô đông thanh toán đủ cho công ty). > Khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 13 i - Thứ ba, về thành viên công ty: Thành viên CTCP được gọi là cổ đông. Cổ đông có thé là tổ chức, cá nhân với số lượng tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa.
Việc không giới hạn số lượng cổ đông tôi đa đã tạo ra cho CTCP khả năng tiếp cận VỚI nguồn vốn đầu tư đồi dào từ mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, miễn là họ có nhu cầu đầu tư kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Trong khi đó, việc quy định số cổ đông tối thiểu đã trở thành thông lệ quốc tế. Nếu công ty không còn đủ số lượng cô đông tối thiểu theo quy định trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyên đổi loại hình DN thi sẽ bị giải thế”. - Thứ tw, về tư cách pháp lý: CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN.
Theo đó, ké từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN, CTCP trở thành một chủ thê có tư cách pháp lý độc lập và được pháp luật công nhận. Do đó, theo quy định tại Điều 86 BLDS năm 2015, CTCP có năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân. Day là khả năng của CTCP có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Với năng lực pháp luật dân sự, CTCP có khả năng định đoạt khối tài sản của công ty, có thể tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, nhân danh chính mình và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình; có quyền thành lập, góp von và mua cổ phần của DN tại Việt Nam; có thé trở thành nguyên đơn và bị đơn trước tòa trong các vụ việc có liên quan.
- Thứ năm, về chễ độ trách nhiệm tài sản: Với tư cách là một pháp nhân, CTCP có tai sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Khoản 2 Điều 87 BLDS năm 2015 quy định: “Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình. Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dan sự do pháp nhân xác lập, trừ trường hop luật có quy định khác ”. Như vậy, CTCP có khả năng chịu trách nhiệm tài sản độc lập, do đó cổ đông của CTCP chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (cũng chính là số cổ phần mà cô đông đã đăng ký mua và thanh toán đủ cho CTCP).
Tuy nhiên, dé được hưởng chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn, cổ đông phải thực hiện nghĩa vụ chuyên quyền sở hữu tài sản góp vốn sang cho công ty”. Điều này giúp tach bach tài sản của công ty với tài sản không đầu tư kinh doanh vào công ty của các cổ đông, nhưng đồng thời cũng khiến cho khả năng kiểm soát nguồn vốn đầu tư của các cô đông trở nên hạn chế hơn, từ đó dẫn đến nguy cơ dễ phát sinh xung đột về lợi ích Š Điểm c Khoản 1 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020 7 Khoản 1 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2020 14 i giữa cô đông với người được cô đông ủy quyên dé trực tiếp sử dụng, quan lý phan vốn đầu tư vào doanh nghiệp. - Thứ sáu, về phương thức huy động vốn: CTCP là hình thức tổ chức kinh doanh được tạo ra để tối ưu hóa khả năng huy động vốn từ trong công chúng, vì vậy, so với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty hợp danh, công ty TÌNHH, các phương thức huy động vốn của CTCP được đánh giá là đa dạng nhất. Cụ thể: CTCP có quyền phát hành cổ phan, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty dé huy động vốn.
Bởi vậy, nguồn vốn CTCP có thé huy động được là rất lớn, đi cùng kha năng đầu tư kinh doanh quy mô lớn với phạm vi kinh doanh rộng, trong nhiều lĩnh vực. - Thứ bay, về tính tự do trong việc chuyển nhượng cổ phan: Xuất phát từ bản chất đối vốn của CTCP, pháp luật gần như không hạn chế việc mua bán, chuyên nhượng cô phan của các cổ đông trong công ty. Theo đó, cổ đông được tự do chuyên nhượng cô phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 LDN 2020. Việc chuyên nhượng được thực hiện theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán (đối với CTCP niêm yết).
Những đặc điểm pháp lý nêu trên của CTCP đều có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cau tổ chức quan lý nội bộ của loại hình doanh nghiệp này. Với số lượng cô đông không hạn chế và quy mô vốn lớn, cộng với tính tự do trong việc chuyển nhượng cô phần và sự đa dạng trong các phương thức huy động vốn, CTCP là mô hình kinh doanh có sự tách bạch rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty. Sự tách bạch này khiến cho các cô đông - những “ông chủ” thực sự của CTCP không thé cùng trực tiếp tham gia quản lý, điều hành công ty trong mọi trường hợp. Ngược lại, các cổ đông, thông qua Đại hội đồng cổ đông, sẽ bầu chọn những người thay mặt cho họ nắm giữ các vị trí quản lý quan trọng trong công ty.
Những người được bau, bổ nhiệm như thành viên HĐQT, Giám déc/Téng Giám đốc và một số chức danh quản lý, điều hành khác, sẽ được trao thâm quyền ra các quyết định nhất định theo Điều lệ công ty, để hành động cho và vì công ty, cũng như định đoạt tài sản của công ty. Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vi lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức là các cổ đông và công ty. Với vi tri của mình, người quan lý công ty được cho là luôn có xu hướng tu lợi và không đủ siêng năng, mân cán, và có thê tìm kiêm các lợi ích cá nhân cho mình bã i hay người thứ ba của minh chứ không phải cho công tyŸ. Nếu trường hợp như vậy thực sự xảy ra, đương nhiên nguồn vốn đầu tư mà các cô đông đã tin tưởng giao phó cho những người quản lý sẽ không thể được bảo toàn và phát triển theo đúng kỳ vọng của họ, mà sẽ bị thất thoát vì những hành vi tư lợi hay thiếu thận trọng của người quản lý.
Một khi lòng tin của các cổ đông bị mắt đi và họ quyết định rời bỏ CTCP, thì cũng là lúc uy tín kinh doanh của CTCP đối với các nhà đầu tư trên thị trường bị giảm sút, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn của công ty. Điều này, ở một mức độ nghiêm trọng, có thê đây công ty vào trạng thái mất an toàn về vốn. Do đó, bên cạnh một chế độ đãi ngộ tốt được các cô đông cùng quyết định để làm thỏa mãn và phần nảo triệt tiêu tư tưởng tham ô tài sản công ty của những người quản lý, thì việc thiết lập một cơ chế kiểm tra, giám sát nội bộ trong CTCP dé kip thoi phat hiện, ngăn chan những hành vi không đúng chuan mực của người quan ly khi sử dụng, quan ly vốn đầu tư của các cô đông vào hoạt động sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định đến hiệu quả hoạt động của CTCP.