CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VẺ HỆ THỐNG KIẺM SOÁT NỘI B ộ VÀ VÁN ĐẺ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG 1.VÈ KIỂM SOÁT NỘI B ộ TRONG NGÂN HÀNG 1. Lịch sử phát triển của hệ thống lỷ luận về kiểm soát nội bộ Chức năng kiêm soát luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi quá trình quản lý, và được thực hiện bởi công cụ chính yếu là hệ thống kiểm soát nội bộ (Internal control system) của đơn vị. Trong hơn một trăm năm qua. lý luận về kiểm soát nội bộ đã không ngừng phát triển trong nhận thức của con người: từ một khái niệm đơn giản ban đầu của các kiểm toán viên cho đến khuôn khổ lý thuyết hoàn chỉnh và phức tạp như ngày nay.
Thời kỳ tiền c o s o (từ năm 1992 trở về trước) Khái niệm kiểm soát nội bộ (KSNB) xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu về kiểm toán với một ý nghĩa rất đơn giản: các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị nhân viên biển thủ. Sau đó khái niệm này được mở rộng: Người ta cho rằng KSNB không dừng lại ở việc bảo vệ tài sản (không chỉ có tiên) mà còn nhăm bảo đảm việc ghi chép kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động và khuyến khích tuân thủ các chính sách của nhà quản lý. Khái niệm này được đề cập chính thức trong Federal Reserve Bulletin (Công bố của Cục Dự trữ Liên Bang Floa Kỳ - tiền thân của chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ) vào năm 1929. Từ thập niên những năm 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ tại Hoa Kỳ đã xuât bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu kiếm soát nội bộ trong các cuộc kiểm toán.
Đên giữa thập niên những năm 1970, kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiên hệ thống kiểm soát nội bộ và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. 5 Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate, trong đó có các khoản thanh toán bất hợp pháp cho chính phủ nước ngoài bị phát giác, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua Điều Luật Hành vi hối lộ ở nước ngoài. Điều luật này nhấn mạnh việc KSNB nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp và dẫn đến yêu cầu ghi chép rất đây đủ mọi hoạt động. Lần đầu tiên, hoạt động kiểm soát nội bộ trong các tổ chức được đề cập đến trong một văn bản pháp luật.
Giai đoạn tứ năm 1980 đến năm 1985, sự đổ bể của các công ty cổ phần có niêm yết làm cho các nhà lập quy quan tâm đến KSNB. Các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến kiểm soát nội bộ được phát triển và sàn lọc thông qua các lần ban hành và sửa đổi, như là: □ ủy bản chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ (ASB) ban hành bản điều chỉnh chuẩn mực kiểm toán về KSNB vào năm 1988. □ ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) ban hành các nguyên tắc về báo cáo trách nhiệm và đánh giá hiệu quả của hệ thống KSNB cũng vào năm 1988 I Năm 1991, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ (IIARF) hướng dẫn kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin. Từ năm 1985 trở đi, sự quan tâm tập trung vào kiểm soát nội bộ thể hiện với cường độ mạnh mẽ hơn.
Quá trình phát triển của các công ty ở Hoa Kỳ cũng là quá trình phát triển quy mô của gian lận gây thiệt hại đáng kể cho nền kính tế. Hội đồng chống gian lận quốc gia về báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting, hay còn gọi là Treadway Commission) được thành lập năm 1985. Hoạt động của hội đồng này là nhằm mục tiêu xác định các yếu tố gian lận trên báo cáo tài chính và đưa ra các dề xuất để giảm thiểu phạm vi ảnh hưởng của chúng. Hội đồng này cũng đưa ra một loạt các vấn đề về kiểm soát nội bộ.
Nó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trường kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, các Uỷ ban Kiểm toán và các chức năng của kiểm toán nội bộ. c o s o là một ủy ban bao gồm nhiều tổ chức nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cho ủy ban Treadway. Các tổ chức nghề nghiệp trên bao gồm : Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ 6 (AICPA), Hội kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội các nhà quản trị tài chính (FEI), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) và Hiệp hội kể toán kế toán viên quản trị (IMA). Qua quá trình tìm hiểu về gian lận, c o s o đã nhận thấy KSNB đã có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xảy ra gian lận.
Vì thế, việc nghiên cứu và đưa ra chuẩn về KSNB được đặt ra. Báo cáo c o s o năm 1992 là kết quả của quá trình nghiên cứu này, cùng cấp một hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB cho đến thời điểm này, kế thửa và phát triển các nghiên cứu trước đó về KSNB. Báo cáo c o s o năm 1992 gồm có 4 phần : Phần 1 - Bản tóm lược : Tống quan về KSNB cho nhà quản lý cấp cao. Phần 2 - Hệ thống lý luận : Định nghĩa về KSNB, mô tả các yếu tố của KSNB và chỉ ra những tiêu chí để kiểm soát hệ thống.
Phần 3 - Báo cáo cho các thành phần bcn ngoài : Hướng dẫn cách thức báo cáo cho các đối tượng bên ngoài về KSNB liên quan đến tài chính. Phần 4- Các công cụ đánh giá : Bao gồm các bảng biểu phục vụ cho việc đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB. Thời kỳ hậu c o s o (từ năm 1992 đến nay) Báo cáo c o s o năm 1992 đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB. Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra đời như dưới đây : Phát triển theo hướng quản tr ị: năm 2001, dựa trên báo cáo c o s o năm 1992, c o s o nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp (Enterprise Risk Management Framework -viết tắt là ERM).
Bản dự thảo đã hình thành và công bố và tháng 07/2003, theo đó ERM được định nghĩa gồm 8 yếu tố : Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiếm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Phát triến theo hướng công nghệ thông tin: Năm 1996, CoBIT (Control Objectives for Information and Related Technology) do ISACA (Inform System Audit and Control Association) ban hành. CoBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong 7 môi trường CIS, theo đó bao gồm những lĩnh vực sau: Hoạch định và tổ chức mua và triển khai, phân phổi và hỗ trợ, giám sát. P hát triên theo hư ớ ng kiêm toán độc lập: Các chuân mực kiểm toán của Hoa Kỳ chuyển sang sử dụng báo cáo c o s o làm nền tảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm : SAS 78 (1995): Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính (,điều chỉnh SAS 55) SAS 94 (2001): Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, các chuẩn mực kiểm toán quốc tế vẫn giữ quan điểm riêng của mình về KSNB theo hướng phục vụ cho công tác kiểm toán. ISA 400 xem KSNB bao gồm ba yếu tố : Môi trường kiểm soát, các thủ tục kiểm soát và hệ thống kế toán. Các yếu tổ này được trình bày theo ISA 400 thiên về phía kiểm soát kế toán. P hát triển theo hướng kiêm toán nội bộ : Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) định nghĩa các mục tiêu của KSNB bao gồm : □ Độ tin cậy và tính trung thực của thông tin.
1 Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định. □ Bảo vệ tài sản. □ Sử dụng hiệu quả các nguồn lực. □ Hoàn tất các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động hoặc chương trình.
Các chuẩn mực của ỈIA không đi sâu vào nghiên cứu các thành phần của KSNB. Vì IIA là một thành viên của c o s o nên về mặt nguyên tắc không có sự khác biệt giữa hai định nghĩa của IIA và c o s o. P hát triến theo hư ớ ng chuyên sâu vào nhữ ng ngành nghề cụ thể: Báo cáo Basle 1998 của ủy ban Basic các Ngân hàng Trung ương đã đưa một công bố về KSNB trong ngân hàng. Báo cáo Basle 1998 không đưa ra những lý luận mới mà chỉ vận dụng những lý luận cơ bản của báo cáo c o s o 1992 vào lĩnh vực ngân hàng.
8 Phát triến theo hướng quốc gia : Nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh huớng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB. Điển hình là báo cáo CoCo 1995 (Canada) và báo cáo Tumbull 1999 (Anh). Các báo cáo này có những quan điểm riêng nhưng về tổng thể không có sự khác biệt lớn so với báo cáo c o s o 1992. Sơ ỉươc về lý luân kiểm soát nôi bô tai Viêt Nam Có thể nói lý luận về kiểm soát nội bộ ở Việt Nam gẳn liền với sự ra đời và phát trien của hoạt động kiểm toán độc lập của Việt Nam trong những năm vừa qua.
Hoạt động kiểm toán tại Việt Nam đã có một lịch sử lâu dài, trước thập niên 90 hoạt động này chủ yếu do nhà nước tiến hành thông qua công tác kiểm tra kế toán. Phải đến cuối những năm 1980, khi Việt Nam từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là khi có luật đầu tư nước ngoài, chính sự xuất hiện của những nhà đầu tư nước ngoài đã tạo nên nhu cầu về loại hình kiểm toán độc lập để kiểm toán báo cáo tài chính. Để phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới hoạt động kiểm toán độc lập bắt đầu hình thành với sự ra đời của Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) tháng 5/1991, sau đó nhiều công ty kiểm toán khác được thành lập bao gồm các công ty kiếm toán quốc tế tại Việt Nam và các công ty liên doanh. Việt Nam cũng từng bước thể chế hoá hoạt động kiểm toán.
Khởi đầu là vào tháng 01/1994, Chính phủ ban hành quy chế kiểm toán độc lập, đến tháng 7/1994. Cơ quan kiểm toán nhà nước trực thuộc chính phủ được thành lập và hoạt động theo điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước. Sau cùng, đến tháng 10/1997, Bộ Tài Chính đã chính thức ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước.