mở đầu, kết luận và các danh mục tài liệu tham khảo, bảng biểu và sơ đồ, nội dung của khóa luận được kết cấu gồm ba chương: Chƣơng 1: Tổng quan về hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động M&A của các NHTM Việt Nam hiện nay Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng hoạt động M&A của các NHTM Việt Nam hiện nay 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP, HỢP NHẤT (M&A) NGÂN HÀNG 1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động M&A ngân hàng 1. Khái niệm Khu vực ngân hàng là một thành phần quan trọng của nền kinh tế, vì thế, việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng phải được nhìn nhận trên phương diện tổng thể.
Các nước trên thế giới đã trải qua nhiều hình thức, phương thức tái cấu trúc NHTM khác nhau như: Quốc hữu hóa NHTM, Cổ phần hóa NHTM Nhà nước, Chứng khoán hóa tài sản của ngân hàng … Hệ thống NHTM ở Việt Nam cũng đã trải qua nhiều giai đoạn tái cấu trúc và phương pháp mà NHNN đang hướng tới là sáp nhập và mua lại (M&A) ngân hàng. Tại Việt nam, các vấn đề về sáp nhập, mua lại và hợp nhất được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Luật doanh nghiệp 2005 quy định sáp nhập doanh nghiệp là “Một hay một số công ty cùng loại có thể sáp nhập vào một công ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Hợp nhất doanh nghiệp là “Hai hoặc một số công ty cùng loại có thể hợp nhất thành một công ty mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất” (Điều 152) [11, tr.
Trong luật doanh nghiệp không đề cập đến hoạt động mua bán doanh nghiệp mà được nhắc đến trong Luật cạnh tranh 2004: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” (Điều 17) [11,tr. Rõ ràng, để có một thương vụ sáp nhập, mua lại hay hợp nhất là các doanh nghiệp phải cùng loại hình và có sự chấm dứt hoạt động kinh doanh của một hoặc cả các bên tham gia. Cùng với các quy định về việc thành lập doanh nghiệp mới, 2 việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích, ta có cơ sở để xác định hình thức chính xác một thương vụ. Việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD được quy định trong Quy chế sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD cổ phần Việt Nam năm 1998 và TT 04/2010/TT- NHNN.
Trong đó, các khái niệm về sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD trong TT04/2010 mang tính kế thừa của Luật cạnh tranh 2004, Luật doanh nghiệp 2005, và Quy chế sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD cổ phần 1998. Theo TT 04/2010/TT- NHNN quy định thì việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD được định nghĩa như sau: “Sáp nhập TCTD là hình thức một hoặc một số TCTD (TCTD bị sáp nhập) sáp nhập vào một TCTD khác (TCTD nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp sang TCTD nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của TCTD bị sáp nhập”. “Hợp nhất TCTD là hình thức hai hoặc một số TCTD (TCTD bị hợp nhất) hợp nhấtthành TCTD mới (TCTD hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các TCTD bị hợp nhất”. “Mua lại TCTD là hình thức một TCTD (TCTD mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của TCTD khác (TCTD bị mua lại).
Sau khi mua lại, TCTD bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của TCTD mua lại”. Như vậy, mặc dù mang tính kế thừa nhưng TT 04/2010-NHNN có sự sai khác một chút trong việc đưa ra khái niệm về “mua lại” so với Luật cạnh tranh 2004. Nếu như trong Luật cạnh tranh 2004, khái niệm mua lại được dùng khi một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác thì trong TT 04/2010, khái niệm mua lại được dùng khi một TCTD mua lại toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của TCTD khác. Trong Luật cạnh tranh 2004 cũng nêu rõ, doanh nghiệp tiến hành mua lại sẽ kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
Còn trong TT 04/2010, TCTD bị mua lại sẽ trở thành công ty trực thuộc của TCTD mua lại. 3 Dù là sáp nhập hay mua lại thì đây đều là các hình thức thâu tóm doanh nghiệp khác nhau, mục đích cuối cùng là nắm giữ quyền kiểm soát toàn bộ hoặc một phần đối với doanh nghiệp khác. Nếu các ngân hàng lựa chọn hình thức hợp nhất thay vì sáp nhập và mua lại, thì khác biệt lớn nhất chính là không có ngân hàng nào biến mất hoàn toàn dưới sự quản lý của một ngân hàng khác, mà là các ngân hàng chấp nhận hợp nhất chấm dứt sự tồn tại này để bắt đầu một sự tồn tại mới, chuẩn bị cho một sự phát triển mới. Hơn nữa, tính tự nguyện được đề cao trong thương vụ hợp nhất, bởi nó chỉ có thể thực hiện được khi các bên tham gia hợp nhất nhận thức đầy đủ về những lợi ích cũng như khó khăn khi tiến hành thương vụ này.
Quá trình này có thể diễn ra giữa các ngân hàng không phân biệt quy mô lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu. Với các ngân hàng có uy tín, thương hiệu, việc liên kết, hợp nhất để tạo ra một thương hiệu mới sẽ là yếu tố tích cực cho sự phát triển chung của các ngân hàng hợp nhất. Mergers and acquisitions (M&A) là một thuật ngữ thông dụng chỉ sự thâu tóm (mua bán, sáp nhập) và hợp nhất giữa hai hay nhiều công ty với nhau. Hai thuật ngữ nhỏ cấu thành là “mergers” và “acquisitions” rất hay được nhắc đến cùng nhau, nhưng chúng lại khác nhau về mặt bản chất.
“Mergers” có nghĩa là hợp nhất; “acquisitions” có nghĩa là thâu tóm (mua lại, sáp nhập). Tại Việt Nam hiện nay, các văn bản pháp quy cũng như một số phương tiện thông tin đại chúng sử dụng thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” để chỉ khái niệm M&A. Dựa trên những khái niệm trên, hoạt động M&A ngân hàng trong bài nghiên cứu bao hàm hoạt động thâu tóm và hợp nhất giữa các ngân hàng với nhau. Thâu tóm trong lĩnh vực ngân hàng là phương thức mà NHTM bằng cách nắm giữ toàn bộ hay phần lớn cổ phần của NHTM khác hoặc các định chế tài chính phi ngân hàng khác để có đủ khả năng tham gia khống chế quyết định của NHTM mục tiêu, được thể hiện bằng hình thức sáp nhập hoặc mua lại ngân hàng.
Còn hợp nhất ngân hàng là phương thức hai ngân hàng, hoặc giữa một ngân hàng với một định chế tài chính khác thỏa thuận cùng nhau hủy bỏ pháp nhân cũ tạo ra pháp nhân mới. Lợi ích và hạn chế của M&A ngân hàng a. Lợi ích của hoạt động M&A ngân hàng Lợi thế nhờ quy mô. Hai hay nhiều ngân hàng sáp nhập với nhau sẽ tạo nên một giá trị cộng hưởng nhờ lợi thế về quy mô được mở rộng hơn về vốn, con người, số lượng chi nhánh phòng giao dịch… Từ đó sẽ tạo khả năng cung ứng vốn cho các dự án lớn, đòi hỏi vốn lớn và thời hạn kéo dài với lãi suất cạnh tranh.
Hơn nữa, sự gia tăng về số lượng chi nhánh, ngân hàng sau M&A sẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng tốt hơn. Việc sáp nhập sẽ dẫn đến cắt giam những chi nhánh của hai hay nhiều ngân hàng trước đây có địa bàn hoạt động trùng nhau để duy trì một chi nhánh chính thức. Từ đó sẽ cắt giảm được số lượng nhân viên không cần thiết, chi phí thuê văn phòng, chi phí tiền lương nhân viên, chi phí hoạt đông của chi nhánh, phòng giao dịch. Chi phí giảm xuống đồng nghĩa với doanh thu tăng lên là yếu tố sẽ làm cho hoạt động của ngân hàng sau sáp nhập, mua lại hoạt động hiệu quả hơn.
Đồng thời, hai hay nhiều ngân hàng riêng lẻ có những sản phẩm khác nhau khi kết hợp sẽ tạo ra một dòng sản phẩm dịch vụ hỗ trợ hoặc thay thế hoàn hảo, gia tăng được tính tiện ích của dịch vụ ngân hàng. Từ đó thu hút nhiều khách hàng hơn. Giá dịch vụ ngày càng tăng cao cũng đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng mới. Tận dụng được hệ thống khách hàng.
Vì mỗi ngân hàng có một đặc thù kinh doanh riêng phù hơp với tiềm năng vốn có của nó nên khi kết hợp lại sẽ có những lợi thế riêng để khai thác, bổ sung cho nhau. Nếu ngân hàng có hệ thống khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi kết hợp với ngân hàng chuyên về cho vay cá nhân thì sẽ làm cho ngân hàng mới tận dụng được triệt để lợi thế của mình. Từ đó, nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Hoặc khi ngân hàng nhỏ bị sáp nhập hoặc mua lại bởi ngân hàng lớn hơn, họ sẽ có điều kiện tiếp cận với nhóm khách hàng tiềm năng với nhu cầu vay vốn lớn hơn hoặc sẽ có điều kiện để kinh doanh những sản phẩm mà trước kia họ không có điều kiện để thực hiện như: phát triển phòng giao dịch ngoại tệ cần có sự đầu tư lớn, đồng bộ về công nghệ, nhân lực… điều này vượt qua khả năng của 5 bản thân các ngân hàng nhỏ.
Sau khi sáp nhập, ngân hàng mới sẽ kế thừa hệ thống khách hàng của các ngân hàng trước nó, khách hàng sẽ được cung cấp những dịch vụ mới, hấp dẫn, tiện nghi hơn. Qua đó, làm tăng sự gắn bó của khách hàng với ngân hàng, gián tiếp tăng thu nhập cho ngân hàng. Hơn nữa, thông qua việc tận dụng hệ thống giao dịch cũ, ngân hàng mới có thể tiếp cận với nhiều khách hàng hơn mà không mất nhiều chi phí thiết lập chi nhánh hay phòng giao dịch mới, vừa tốn kém tiền của, vừa mất rất nhiều thời gian để gây dựng niềm tin khách hàng. Thu hút được nhân sự giỏi.