Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI 1. Những vấn đề lý luận về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi 1. Những vấn đề lý luận về kiểm sát khám nghiệm hiện trường 1. Khái niệm và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường * Khái niệm kiểm sát khám nghiệm hiện trường Cho đến nay có rất nhiều ý kiến và những quan điểm khác nhau khi đề cập đến vấn đề hiện trường.
Chẳng hạn theo Đại Từ điển tiếng Việt thì: “Hiện trường là nơi xảy ra hoạt động hay sự việc gì” [39]. Tuy nhiên, như khái niệm này thì hiện trường lại quá rộng và là hiện trường chung nhất, nó chưa chỉ rõ được tính chất của sự việc và hoạt động xảy ra là sự việc hay hoạt động gì? Còn theo Từ điển bách khoa thì:“Hiện trường là nơi diễn ra sự việc hay hoạt động thực tế”[24]. Với khái niệm này, chúng ta không xác định được đâu là hiện trường chủ đạo, đâu là hiện trường chính để tiến hành khám nghiệm thu thập dấu vết vật chứng, sự việc khi "diễn ra" là một chuỗi các hành vi khác nhau, kéo dài trong những khoảng thời gian khác nhau và tồn tại trong những không gian cũng khác nhau và khái niệm này cũng rơi vào trạng thái, những sự việc mang tính bất kỳ và những hoạt động thực tế mang tính bất kỳ. Khái niệm này chưa chỉ ra được sự việc cụ thể.
Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam thì ĐTV chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án [29, Đ. Như vậy, hiện trường phải là “nơi xảy ra” hoặc“nơi phát hiện tội phạm”.Trước hết, hiện trường phải là “nơi” tức là nó phải được tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian 8 nhất định, đó là nơi đã xảy ra hoạt động phạm tội hoặc đó là nơi đã phát hiện ra tội phạm. Chính vì thế hiện trường phải tồn tại những dấu vết, vật chứng và chúng phản ánh sự tác động qua lại giữa thủ phạm với nạn nhân và môi trường vật chất xung quanh. Quy định này cho thấy có tính chủ quan của nhà làm luật, vì cho rằng: Hiện trường phải là nơi xảy ra tội phạm, nơi phát hiện tội phạm mà ĐTV tiến hành khám nghiệm, tức là phải thỏa mãn những quy định về tội phạm trong BLHS.
Nhưng trên thực tế, hoạt động điều tra khám phá các vụ án hình sự, là quá trình đi từ không đến có, phải xác định một vụ việc xảy ra có sự kiện phạm tội hay không, tức là phải xác định có phạm tội xảy ra hay không. Chính vì vậy, khi có sự việc hình sự xảy ra CQĐT phải tiến hành khám nghiệm ngay, sau đó mới kết luận có hay không có sự việc phạm tội để đi đến kết luận có hay không khởi tố vụ án hình sự. Chúng tôi cho rằng, cách hiểu như trên là cứng nhắc, chưa chặt chẽ, bởi vì ĐTV muốn tiến hành khám nghiệm được phải xác định: nơi xảy ra tội phạm, nơi phát hiện tội phạm, khu vực phát hiện dấu vết để lại của tội phạm trong khi đó phần lớn muốn xác định được vấn đề này thì phải tiến hành khám nghiệm hiện trường trước mới kết luận được.Vì vậy, khái niệm về hiện trường theo quy định này quá bó hẹp và không mang tính khái quát cao. Chẳng hạn những vụ hiện trường có người chết, phải qua quá trình khám nghiệm, thu thập những thông tin, tìm kiếm các dấu vết, vật chứng xung quanh hiện trường và có thể rãi rác ở nhiều địa điểm, nhiều khu vực khác nhau.
từ đó mới có thể đi đến nhận định ban đầu nguyên nhân cái chết của nạn nhân là do án mạng, do tự sát, do bệnh lý hay do tai nạn rủi ro.và chỉ xác định nguyên nhân chết là do án mạng mới là căn cứ xác định có dấu hiệu của tội phạm để tiến hành khởi tố vụ án hình sự. Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm hiện trường như sau: Hiện trường là khu vực hoặc địa điểm xảy ra sự kiện, nơi để lại dấu vết hoặc phát hiện thấy hậu quả của của tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự. Đây là khái niệm mang tính khái quát cao và đầy đủ. Bởi vì, khái niệm này đã thỏa mãn được những dấu hiệu đặc trưng, cơ bản của hiện trường là: Thứ nhất: Hiện trường phải tồn tại ở một địa điểm, khu vực cụ thể trong khoảng không gian và thời gian nhất định.
Đây là thuộc tính tất yếu của hiện trường. 9 Thứ hai: Phải có sự việc, dấu vết, hậu quả để lại của hành vi của tội phạm xảy ra, những dấu hiệu của tội phạm này có thể bao gồm: những hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự; cũng có thể là những vụ việc mang tính hình sự xảy ra, khi xảy ra nó đã xâm hại đến những khách thể được luật hình sự bảo vệ, như tính mạng, sức khỏe, tài sản.xong chưa thể xác định được các yếu tố của cấu thành tội phạm. Hiện nay, trong khoa học hình sự vẫn chưa có một khái niệm chính thức về khám nghiệm hiện trường.Trong cuốn Giáo trình Điều tra hình sự năm 2002 của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, viết về khám khám nghiệm hiện trường như sau: Khám nghiệm hiện trường là tổ chức việc nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết vật chứng và các tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường[18]. Khái niệm trên chưa chỉ ra được hoạt động khám nghiệm hiện trường là hoạt động gì? Theo quy định pháp luật nào? Khái niệm này chưa chỉ ra được hoạt động khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự quy định.
Bởi lẽ, chỉ khi kết quả khám nghiệm hiện trường là kết quả của hoạt động tố tụng hình sự thì mới đảm bảo giá trị pháp lý để chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Khái niệm khám nghiệm hiện trường trong cuốn Giáo trình bảo vệ và khám nghiệm hiện trường, xuất bản năm 2004 của Học viện Cảnh sát nhân dân được nêu như sau: Khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra tố tụng hình sự nhằm nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, đánh giá các dấu vết, vật chứng và những tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường, phục vụ cho việc điều tra và xử lý tội phạm [14]. Khái niệm về khám nghiệm hiện trường trong cuốn giáo trình này đã đề cập đến tính căn cứ pháp lý của hoạt động khám nghiệm hiện trường, đó là hoạt động được quy định trong Bộ luật TTHS. Do đó, nó đã thỏa mãn thuộc tính thứ ba của chứng cứ, đó là tính hợp pháp của chứng cứ.
Khái niệm cũng chỉ rõ khám nghiệm hiện trường không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết, vật chứng cũng như các tin tức, tài liệu khác tại hiện trường mà còn phải nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng cũng như các tin tức, tài liệu khác tại hiện trường. Tuy nhiên, nếu cho rằng khám nghiệm hiện trường nhằm mục đích phục vụ cho việc điều tra và xử 10 lý tội phạm như được nêu trong khái niệm trên là chưa hoàn toàn chính xác, không phải hiện trường nào cũng là hiện trường của vụ phạm tội, trong thực tế khám nghiệm hiện trường được tiến hành khi có vụ việc được nhận định là mang tính hình sự xảy ra. Nhiều vụ việc, sau khi căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường đã xác định không có sự kiện phạm tội. Do đó, không phải kết quả của cuộc khám nghiệm hiện trường nào cũng phục vụ cho việc điều tra và xử lý tội phạm.
Cho nên, theo tác giả, mục đích bao quát của khám nghiệm hiện trường là nhằm phục vụ điều tra, xử lý vụ việc đúng pháp luật. Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm khác nhau đã nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm khám nghiệm hiện trường như sau: Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động tố tụng hình sự, đồng thời là một biện pháp nghiệp vụ cấp bách được thực hiện trong quá trình điều tra vụ án hình sự, nhằm phát hiện thu thập, nghiên cứu, đánh giá các dấu vết cũng như những thông tin vật chất khác có trên hiện trường, phục vụ cho công tác điều tra, khám phá vụ án và phát hiện xử lý người phạm tội theo pháp luật. Qua thực tiễn nghiên cứu cũng như từ thực tế thực hiện nhiệm vụ của người cán bộ kiểm sát, Tác giả luận văn này nhận thấy chức năng nhiệm vụ của Ngành kiểm sát đã được Hiến định, cụ thể là tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”[25]. Theo đó, Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [30, Đ.
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [30, Đ. Khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa quan trọng trong việc thu thập các 11 thông tin, tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc điều tra, làm rõ vụ việc. Hiệu quả của hoạt động điều tra bị chi phối ở mức độ đáng kể bởi kết quả khám nghiệm hiện trường, thậm chí trong nhiều trường hợp nó mang tính chất quyết định đối với hiệu quả của hoạt động điều tra.