Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2013 - 2017, các cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh Quảng Ngãi đã thụ lý điều tra 2.987 bị can và Viện kiểm sát nhân dân truy tố 2.179 bị can, đồng thời tiến hành 2.690 cuộc khám nghiệm hiện trường và 1.347 cuộc khám nghiệm tử thi. Thực tiễn này cho thấy khối lượng công việc tư pháp rất lớn tại một địa bàn phức tạp về an ninh trật tự. Khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm tử thi là hoạt động nghiệp vụ xuất phát điểm, đóng vai trò là "cái gốc" của toàn bộ quá trình điều tra vụ án hình sự. Hiện trường và tử thi là nơi lưu giữ tập trung nhất các dấu vết vật chất phản ánh sự thật khách quan. Nếu để xảy ra sai sót, bỏ lọt dấu vết ban đầu thì không thể phục hồi, dẫn đến nguy cơ làm sai lệch định hướng điều tra, gây oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận nền tảng, đối chiếu các quy phạm của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng công tác kiểm sát khám nghiệm tại 14 đơn vị cấp huyện và các phòng nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Phạm vi không gian trải rộng trên toàn tỉnh Quảng Ngãi trong khung thời gian 5 năm từ năm 2013 đến năm 2017. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc củng cố tỷ lệ kiểm sát viên tham gia trực tiếp đạt trên 98,2%, nâng cao chất lượng lập hồ sơ dấu vết, bảo đảm thực thi nguyên tắc hiến định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 về bảo vệ công lý và quyền con người.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của lý thuyết phản ánh trong khoa học hình sự và thuyết nhà nước pháp quyền về kiểm soát quyền lực tư pháp. Lý thuyết phản ánh khẳng định mọi hành vi phạm tội khi xảy ra trong thế giới khách quan đều tất yếu để lại những biến đổi vật chất trên hiện trường và trên thân thể nạn nhân. Hoạt động kiểm sát khám nghiệm là phương thức giám sát mang tính quyền lực nhà nước, nhằm bảo đảm quá trình thu thập các dấu vết này tuân thủ tuyệt đối tính hợp pháp và tính khách quan.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa bao gồm: Khám nghiệm hiện trường theo Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Khám nghiệm tử thi theo Điều 202 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Kiểm sát khám nghiệm hiện trường và tử thi; Dấu vết hình sự và vật chứng. Mô hình nghiên cứu vận dụng quy trình kiểm sát trực tiếp kết hợp kiểm sát gián tiếp theo Quyết định số 421/QĐ-VKSTC ngày 17/10/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, kiểm soát toàn diện từ giai đoạn tiếp nhận tin báo, bảo vệ hiện trường, thực hiện các thao tác khám nghiệm đến khâu lập biên bản và hoàn tất hồ sơ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bắt nguồn từ cơ sở dữ liệu lưu trữ chính thức của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong 5 năm, bao gồm 2.690 hồ sơ vụ việc khám nghiệm hiện trường và 1.347 hồ sơ khám nghiệm tử thi. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 100% số vụ việc phát sinh thực tế tại địa phương trong giai đoạn 2013 - 2017 mà không phân tách mẫu ngẫu nhiên. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm bảo đảm tính bao quát tuyệt đối, phản ánh đầy đủ các loại tội phạm từ giết người, tai nạn giao thông đến các vụ việc trật tự xã hội trên địa bàn 14 huyện, thành phố.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích định lượng số liệu thực tiễn và phương pháp so sánh đối chiếu pháp luật giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm tìm ra mối tương quan giữa sự có mặt của kiểm sát viên tại thực địa với tỷ lệ giải quyết án thành công, từ đó nhận diện chính xác các nguyên nhân dẫn đến 37 trường hợp khám nghiệm hiện trường và 25 trường hợp khám nghiệm tử thi còn vắng mặt kiểm sát viên trong thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra rằng Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Ngãi đã duy trì tỷ lệ tham gia kiểm sát trực tiếp rất cao. Trong tổng số 2.690 vụ khám nghiệm hiện trường, Viện kiểm sát đã tham gia 2.662 vụ, đạt tỷ lệ 98,96%. Đối với 1.347 vụ khám nghiệm tử thi, kiểm sát viên đã trực tiếp tham gia 1.337 vụ, đạt tỷ lệ 99,26%. Tuy nhiên, vẫn còn 37 vụ hiện trường (chiếm 1,04%) và 25 vụ tử thi (chiếm 0,74%) cơ quan điều tra tiến hành nhưng vắng mặt kiểm sát viên.

Phát hiện thứ hai phản ánh sự gia tăng liên tục về quy mô thụ lý án hình sự. Năm 2013, số vụ khởi tố là 196 vụ với 221 bị can, đến năm 2017 con số này đã tăng lên 301 vụ với 347 bị can, tương ứng mức tăng 53,57% về số vụ và tăng 57,01% về số bị can. Số cuộc khám nghiệm hiện trường đạt đỉnh vào năm 2014 với 586 vụ và năm 2015 với 575 vụ.

Phát hiện thứ ba là sự không đồng đều trong công tác kiểm sát giữa các đơn vị. Một số kiểm sát viên khi tham gia còn thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào điều tra viên, việc kiểm sát đôi khi mang tính hình thức, chỉ ký biên bản sau khi việc khám nghiệm đã hoàn tất. Thậm chí có trường hợp phân công cán bộ chưa có chức danh tư pháp kiểm sát viên đi làm nhiệm vụ, dẫn đến việc thu thập dấu vết nguồn hơi, mẫu lông, tóc và vi vết sinh học tại hiện trường bị bỏ sót.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng vắng mặt hoặc kiểm sát chưa triệt để bắt nguồn từ đặc thù địa lý tỉnh Quảng Ngãi với địa hình kết hợp cả đồng bằng, đồi núi hiểm trở và hải đảo. Khi xảy ra tin báo khẩn cấp, phương thức thông báo của cơ quan điều tra chủ yếu qua điện thoại trực tiếp, khiến kiểm sát viên không kịp di chuyển đến các địa bàn xa xôi. Thêm vào đó, trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng như va ly khám nghiệm, máy đo đạc kỹ thuật số tại 14 huyện thị còn thiếu thốn, chưa đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật hình sự hiện đại.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu tại địa bàn miền núi Kon Tum hay nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Hà Tây trước đây, thực tiễn tại Quảng Ngãi cho thấy tính chất phức tạp hơn do sự đan xen giữa các vụ án tai nạn giao thông đường bộ và các vụ án giết người có tổ chức. Dữ liệu nghiên cứu qua 5 năm có thể được biểu diễn trực quan thông qua bảng thống kê diễn biến và biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tổng số vụ khám nghiệm thực tế với số lượt kiểm sát viên có mặt. Biểu đồ này minh chứng rõ nét nỗ lực kéo giảm số vụ vắng mặt kiểm sát viên, đồng thời chỉ ra tính cấp thiết của việc chuẩn hóa quy trình liên ngành để tiến tới mục tiêu 100% vụ việc đều có kiểm sát viên kiểm sát trực tiếp ngay từ đầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và chuẩn hóa Quy chế phối hợp liên ngành giữa Công an và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2018 - 2020. Quy định bắt buộc cơ quan điều tra phải thông báo bằng văn bản hoặc thông tin điện tử có xác nhận trong thời hạn 15 đến 30 phút ngay khi tiếp nhận tin báo, bảo đảm 100% các cuộc khám nghiệm hiện trường và tử thi đều có kiểm sát viên tham gia trực tiếp theo đúng Điều 201 và Điều 202 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, tổ chức nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cần phối hợp với các cơ sở đào tạo mở tối thiểu 2 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm về kỹ thuật hình sự, kỹ năng giải phẫu tử thi pháp y và phương pháp đánh giá dấu vết cơ học cho 100% kiểm sát viên làm công tác án hình sự đến năm 2022.

Thứ ba, hiện đại hóa trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Ủy ban nhân dân tỉnh cấp kinh phí trang bị 100% bộ phương tiện khám nghiệm chuyên dụng, va ly dự thẩm chuẩn hóa, máy ghi âm, máy quay phim kỹ thuật số cho 14 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong giai đoạn 2019 - 2021, phục vụ số hóa toàn diện hồ sơ hiện trường.

Thứ tư, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu và kiểm tra định kỳ 6 tháng một lần. Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp phải trực tiếp kiểm sát các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phấn đấu triệt tiêu 0% các trường hợp án bị trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc bản án bị cấp giám đốc thẩm hủy, sửa do sai lệch chứng cứ khám nghiệm ban đầu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Kiểm sát viên và Điều tra viên đang công tác thực tế. Luận văn cung cấp cẩm nang xử lý các tình huống thực địa phức tạp, giúp nâng cao kỹ năng kiểm sát khám ngoài, khám trong tử thi và thu giữ vật chứng, áp dụng hiệu quả cho 100% các vụ án hình sự thụ lý mới.

Nhóm thứ hai là Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự. Đây là tài liệu tham khảo giàu tính thực tiễn với kho dữ liệu thực chứng gồm 2.690 vụ hiện trường và 2.987 bị can, phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy và nghiên cứu học thuật chuyên sâu.

Nhóm thứ ba là Giám định viên kỹ thuật hình sự và Bác sĩ pháp y. Công trình phân tích chi tiết cơ chế tương tác tố tụng 3 bên tại hiện trường, giúp tối ưu hóa quy trình giải phẫu, bảo đảm giảm thiểu nguy cơ sai sót kết luận giám định xuống dưới mức 1%.

Nhóm thứ tư là Lãnh đạo các cơ quan tư pháp và các nhà hoạch định chính sách cải cách tư pháp. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn từ 14 đơn vị cấp huyện để tham mưu ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trên phạm vi toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Kiểm sát viên có bắt buộc phải có mặt tại mọi cuộc khám nghiệm hiện trường không? Theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, kiểm sát viên bắt buộc phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường trong mọi trường hợp, không có ngoại lệ. Tại Quảng Ngãi, tỷ lệ kiểm sát viên tham gia đạt 98,96% với 2.662 vụ có mặt trong tổng số 2.690 vụ.

Hậu quả pháp lý khi khám nghiệm hiện trường vắng mặt kiểm sát viên là gì? Việc cơ quan điều tra tự ý tiến hành khám nghiệm mà không thông báo cho Viện kiểm sát là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Hậu quả là biên bản khám nghiệm cùng các dấu vết thu giữ có thể bị tuyên vô hiệu, không có giá trị chứng minh tội phạm và dẫn đến nguy cơ đình chỉ vụ án.

Tỷ lệ kiểm sát khám nghiệm tử thi tại tỉnh Quảng Ngãi đạt mức độ nào? Trong 5 năm từ 2013 đến 2017, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Ngãi đã kiểm sát trực tiếp 1.337 vụ trên tổng số 1.347 vụ khám nghiệm tử thi, đạt tỷ lệ 99,26%, chỉ có 25 vụ không có kiểm sát viên tham gia do tính chất khẩn cấp và khoảng cách địa lý.

Kiểm sát viên cần tập trung vào những yếu tố nào khi kiểm sát khám ngoài tử thi? Kiểm sát viên cần kiểm tra kỹ lưỡng tư thế thi thể, tình trạng quần áo, các vết ố hoen tử thi, sự co cứng cơ, các vết thương tích rách da, hướng chảy của máu và thu giữ đầy đủ mẫu tóc, móng tay nạn nhân để phục vụ công tác đối sánh cơ chế hình thành thương tích.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có điểm gì tiến bộ hơn so với luật cũ về khám nghiệm hiện trường? Điều 201 Bộ luật mới quy định rõ điều tra viên là chủ thể chủ trì khám nghiệm nhằm phát hiện dấu vết, đồng thời mở rộng việc thu thập dữ liệu điện tử tại hiện trường và khẳng định trách nhiệm bắt buộc phải có mặt của kiểm sát viên, thay vì quy định chung chung như Điều 150 luật cũ.

Kết luận

• Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo tinh thần cải cách tư pháp của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. • Luận văn phân tích sâu sắc bức tranh thực tiễn qua 2.690 vụ khám nghiệm hiện trường và 1.347 vụ khám nghiệm tử thi tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013 - 2017. • Nhận diện chính xác các hạn chế cốt lõi về phương thức thông báo, tính chủ động của kiểm sát viên và sự thiếu thốn về trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng tại 14 đơn vị cấp huyện. • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao gắn liền với lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2025 nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát. • Thiết lập chuẩn mực thao tác nghiệp vụ thực địa nhằm bảo đảm 100% vụ việc được xử lý khách quan, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.

Đóng góp của luận văn là nguồn tư liệu khoa học quý giá cho tiến trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Các cơ quan tư pháp và các nhà nghiên cứu cần tiếp tục ứng dụng những đề xuất này vào thực tiễn xét xử và đào tạo nghiệp vụ tư pháp trong kỷ nguyên mới.