Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa, đối tượng, phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp 1. Khái niệm Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về khái niệm hoạt động tư pháp, nhưng theo quan điểm tựu chung mà hầu hết các nhà khoa học lẫn thực tiễn “thống nhất” định nghĩa, đó là: hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ cho việc xét xử của Tòa án. Điều đó không có nghĩa là toàn bộ mọi hoạt động của cơ quan tư pháp là hoạt động tư pháp.
Hoạt động tư pháp được nói đến là những hoạt động (hành vi) cụ thể do các chủ thể được trao quyền thực hiện trong hoạt động tố tụng (xét xử) nhằm đảm bảo tính đúng đắn, khác quan trong giải quyết các vụ án. Kiểm sát hoạt động tư pháp là chức của Viện kiểm sát được quy định tại Hiến pháp. Vì Viện kiểm sát làn một chủ thể thực hiện quyền tư pháp nên kiểm sát hoạt động tư pháp mang tính quyền lực Nhà nước (một dạng giám sát của Nhà nước về tư pháp). Kiểm sát hoạt động tư pháp là giám sát trực tiếp việc thực hiện các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tư pháp (Cảnh sát biển, Kiểm lâm,…) khi tham gia hoạt động tố tụng.
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; 7 n trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”. Viện kiểm sát nhân dân là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Pháp luật nước ta quy định, hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp được “trao” cho Viện kiểm sát. Đây là chủ thể duy nhất được pháp luật quy định để thực hiện chức năng này. Kiểm sát viên là người thực hiện hoạt động này với vai trò là người tiến hành tố tụng trên cơ sở quy định của pháp luật.
Là chủ thể duy nhất được Nhà nước trao quyền kiểm sát hoạt động tư pháp, chức năng cũng như nhiệm vụ của Viện kiểm sát là phải bảo đảm cho các hoạt động tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật. Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tính hợp pháp nhằm bảo đảm các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân phù hợp với quy định của pháp luật đó là: - Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật; - Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; 8 n - Bản án, quyết định của TAND đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; - Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Vai trò, ý nghĩa của kiểm sát hoạt động tư pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước Trải qua quá trình xây dựng và phát triển VKSND, kiểm sát hoạt động tư pháp được chứng minh là cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp hữu hiệu, có tác dụng ngăn ngừa khả năng lợi dụng, lạm dụng quyền lực công trong hoạt động tư pháp xuất phát từ đặc điểm về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát (với tư cách là chủ thể thực thi chức năng giám sát, kiểm soát quyền lực) trong quan hệ với đối tượng bị giám sát, bị kiểm soát, vì những lý do sau đây: Thứ nhất, về yếu tố tổ chức, Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, được giao thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Vì vậy, cơ chế giám sát của Viện kiểm sát có tính độc lập nhất định với đối tượng được giám sát.
Tính độc lập này bảo đảm cho hoạt động giám sát của Viện kiểm sát khách quan, trung thực và có tính khả thi. Thứ hai, về hoạt động, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất trong hệ thống các cơ quan tư pháp được Hiến pháp và pháp luật quy định có thẩm quyền tham gia vào tất cả các lĩnh vực tố tụng tư pháp (tư pháp hình sự, tư pháp dân sự, tư pháp hành chính…). Viện kiểm sát có thẩm quyền tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng (từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án). Đây là điều kiện quan trọng bảo đảm cho Viện kiểm sát có khả năng giám sát toàn bộ quá trình tố tụng, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện quyền tư pháp, là cơ sở quan trọng để phát hiện vi phạm trong hoạt động tư pháp.
9 n Thứ ba, về mức độ và phạm vi giám sát, kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát được tiến hành cụ thể, thường xuyên, tác động liên tục tới đối tượng bị giám sát. Đây là điều kiện để bảo đảm cho hoạt động giám sát có tính chuyên nghiệp và có hiệu quả cao. Thứ tư, về tính chất hoạt động, do kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là một cơ chế giám sát nhà nước, nhằm bảo đảm hoạt động của các cơ quan tư pháp đúng pháp luật, hạn chế việc cơ quan tư pháp lạm dụng, lợi dụng quyền lực công để vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, nên trong hoạt động của mình, Viện kiểm sát chỉ xem xét đối tượng kiểm sát ở góc độ có hợp pháp hay không hợp pháp, không can thiệp vào hoạt động có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan tư pháp, khi phát hiện vi phạm thì thực hiện quyền kiến nghị hoặc kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm cụ thể; đồng thời, có thể tập hợp vi phạm có tính chất điển hình, phổ biến để kiến nghị với cấp có thẩm quyền và tham mưu cho cấp ủy Đảng để chỉ đạo, khắc phục vi phạm. Do vậy, hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát không cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan tư pháp.
Kiểm sát hoạt động tư pháp hướng tới mục tiêu bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể (trong đó bao gồm cả quyền và lợi ích hợp pháp của người hoặc pháp nhân đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự), của Nhà nước và của xã hội được bảo vệ và bảo đảm một cách tốt nhất. Thứ năm, thực tiễn kết quả kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trên các lĩnh vực công tác từ năm 1960 đến nay đã chứng minh rằng, trong toàn bộ hệ thống cơ chế kiểm tra, giám sát tư pháp hiện nay ở nước ta thì kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là một cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp hiệu quả nhất. Đây chính là cơ chế sử dụng tổ chức nhà nước để hạn chế sự lạm quyền từ chính Nhà nước – là cơ chế giám sát/kiểm soát từ 10 n bên ngoài, độc lập với đối tượng bị giám sát/bị kiểm soát, nhưng lại có khả năng bao quát và giám sát/kiểm soát được toàn bộ quá trình thực hiện hoạt động tư pháp. Đối tượng của kiểm sát hoạt động tư pháp Các hoạt động tư pháp là đối tượng của hoạt động kiểm sát của VKSND bao gồm hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và hoạt động thi hành án hình sự, dân sự, hành chính.
Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND phải căn cứ quy định của pháp luật để kiểm tra, xem xét việc tuân theo pháp luật của các chủ thể bị kiểm sát (cơ quan, cá nhân) khi thực hiện hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm tính hợp pháp của các hành vi, quyết định. VKSND phải dựa trên các căn cứ pháp lý như Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự….và các văn bản pháp luật khác có liên quan để xem xét, bảo đảm sự tuân theo pháp luật của các chủ thể bị kiểm sát (cơ quan, tổ chức, cá nhân), bảo đảm tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp. Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp Kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật. Nội dung của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp 1.
Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm, thực hiện tốt công 11 n tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm là giai đoạn khởi đầu và đích đến là xác định có hay không dấu hiệu của tội phạm.