Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo kiểm tra và giám sát chất lượng thuốc năm 2021 của Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương, hệ thống kiểm nghiệm nhà nước đã tiến hành lấy mẫu kiểm tra trên 500 hoạt chất tân dược và 300 vị dược liệu trên toàn quốc. Qua đó, các cơ quan chuyên môn đã phát hiện 338 mẫu thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng (chiếm tỷ lệ 0,92%) và 20 mẫu thuốc nghi ngờ làm giả tại 8 tỉnh, thành phố. Dạng thuốc viên nén hiện là dạng bào chế rắn phổ biến nhất trong mạng lưới điều trị và phân phối, đòi hỏi các yêu cầu kiểm soát chất lượng vô cùng nghiêm ngặt từ khâu sản xuất đến lưu thông trên thị trường.

Tại tỉnh Thái Nguyên, địa bàn trung du miền núi có diện tích tự nhiên 3.536,4 km² với 9 đơn vị hành chính trực thuộc, mạng lưới bán lẻ và sử dụng thuốc phát triển sâu rộng đặt ra áp lực rất lớn cho công tác kiểm tra, giám sát chất lượng. Đề tài luận văn "Phân tích kết quả kiểm nghiệm dạng thuốc viên nén tại Trung tâm Kiểm soát Dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm và Thiết bị y tế Thái Nguyên năm 2021" do học viên Nông Thị Kiều Thu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thanh Bình thuộc chuyên ngành Tổ chức quản lý Dược tại Trường Đại học Dược Hà Nội.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu tập trung vào hai nội dung trọng tâm: phân tích kết quả kiểm nghiệm 206 mẫu thuốc viên nén theo tiêu chuẩn Dược điển và phân tích kết quả 122 mẫu viên nén theo Tiêu chuẩn cơ sở cùng Thường quy kỹ thuật trong năm 2021. Mặc dù Trung tâm đã được công nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005 từ năm 2015 với 26 phép thử trong lĩnh vực Dược, nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ mẫu chưa được kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu còn cao (chiếm 66,99% ở nhóm Dược điển). Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xác lập cơ sở dữ liệu khoa học để hoạch định chiến lược đầu tư trang thiết bị, bổ sung chất chuẩn và hoàn thiện năng lực kiểm nghiệm thuốc địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng thuốc tại Việt Nam được vận hành dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Luật Dược và bộ 05 nguyên tắc thực hành tốt (GPs) do Bộ Y tế cùng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành:

  • GMP: Thực hành tốt sản xuất thuốc nhằm đảm bảo sản phẩm được sản xuất đồng nhất theo tiêu chuẩn chất lượng quy định.
  • GLP: Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc nhằm nâng cao tính chính xác, khách quan của các thử nghiệm.
  • GSP: Thực hành tốt bảo quản thuốc giúp duy trì tính ổn định của dược phẩm trong kho lưu trữ.
  • GDP: Thực hành tốt phân phối thuốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
  • GPP: Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc, bảo đảm an toàn cho người sử dụng cuối cùng.

Hoạt động kiểm nghiệm thuốc là quá trình kỹ thuật mang tính pháp lý nhằm xác định sự phù hợp của sản phẩm với tiêu chuẩn đã đăng ký. Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật gồm hai cấp độ chính: Tiêu chuẩn quốc gia (Dược điển Việt Nam IV, V) và Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) do các nhà sản xuất xây dựng, trong đó mức chất lượng của TCCS không được phép thấp hơn chuyên luận Dược điển tương ứng. Theo định nghĩa chuyên môn, thuốc đạt chất lượng là thuốc đáp ứng 100% chỉ tiêu theo hồ sơ đăng ký; thuốc kém chất lượng là thuốc không đạt một hoặc nhiều chỉ tiêu kỹ thuật; thuốc giả là sản phẩm có ý đồ lừa đảo (không có hoạt chất, sai hàm lượng, sai hoạt chất hoặc mạo danh nhãn mác).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp với hồi cứu số liệu tài liệu sẵn có từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021. Lý do lựa chọn thiết kế này là nhằm phản ánh khách quan, toàn diện hiện trạng năng lực kiểm nghiệm thực tế của đơn vị mà không làm sai lệch quy trình phân tích thường quy.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 328 hồ sơ và phiếu kiểm nghiệm thuốc viên nén đã hoàn thành phân tích trong năm 2021 tại Trung tâm Kiểm soát Dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm và Thiết bị y tế Thái Nguyên (chọn mẫu toàn bộ, không qua chọn mẫu ngẫu nhiên). Mẫu nghiên cứu được phân định thành 3 nhóm tài liệu áp dụng: 206 mẫu theo tiêu chuẩn Dược điển, 105 mẫu theo Tiêu chuẩn cơ sở và 17 mẫu theo Thường quy kỹ thuật.

Bộ biến số nghiên cứu bao gồm 11 biến phân loại độc lập và phụ thuộc: nguồn gốc sản xuất (trong nước/nhập khẩu), cấu trúc hoạt chất (đơn thành phần/đa thành phần), mức độ thực hiện chỉ tiêu (đủ/không đủ chỉ tiêu), tỷ lệ đạt/không đạt chất lượng và các nhóm nguyên nhân gây thiếu hụt chỉ tiêu (thiếu thiết bị, thiếu chất chuẩn đối chiếu, thiếu hóa chất). Dữ liệu được trích xuất vào biểu mẫu thống nhất, tiến hành làm sạch, mã hóa và phân tích thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel 2019, đồng thời đối chiếu chéo với sổ nhận mẫu và báo cáo tổng kết năm để triệt tiêu các sai số kỹ thuật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp phân tích từ 328 mẫu thuốc viên nén kiểm nghiệm trong năm 2021 ghi nhận 323 mẫu đạt tiêu chuẩn chất lượng (tỷ lệ 98,48%) và 05 mẫu không đạt tiêu chuẩn (tỷ lệ 1,52%). Cả 05 mẫu không đạt đều thuộc nhóm sản xuất trong nước và là thuốc đơn thành phần.

Kết quả chi tiết phân theo từng khung tiêu chuẩn kỹ thuật như sau:

  • Tiêu chuẩn Dược điển (206 mẫu): 203 mẫu đạt (98,54%) và 03 mẫu không đạt (1,46%). Thuốc sản xuất trong nước chiếm ưu thế vượt trội với 194 mẫu (94,17%), thuốc nhập khẩu chỉ có 12 mẫu (5,83%). Về thành phần, thuốc đơn thành phần chiếm 98,06% (202 mẫu), thuốc đa thành phần chỉ chiếm 1,94% (04 mẫu). Đặc biệt, chỉ có 68 mẫu được kiểm tra đủ toàn bộ chỉ tiêu (33,01%), còn lại 138 mẫu không làm đủ chỉ tiêu (66,99%).
  • Tiêu chuẩn cơ sở (105 mẫu): 103 mẫu đạt (98,10%) và 02 mẫu không đạt (1,90%). Thuốc sản xuất trong nước chiếm 96,20% (101 mẫu), thuốc nhập khẩu chiếm 1,90% (02 mẫu). Số mẫu kiểm tra đủ chỉ tiêu là 43 mẫu (40,95%), trong khi số mẫu chưa đủ chỉ tiêu là 62 mẫu (59,05%).
  • Thường quy kỹ thuật (17 mẫu): 100% mẫu kiểm nghiệm đạt chất lượng (17 mẫu), trong đó thuốc sản xuất trong nước chiếm 76,47% (13 mẫu), thuốc nhập khẩu chiếm 23,53% (04 mẫu). Tỷ lệ mẫu thực hiện đủ chỉ tiêu đạt 47,62% (10 mẫu) và chưa đủ chỉ tiêu là 52,38% (11 mẫu).

Phân tích các rào cản kỹ thuật khiến chỉ tiêu bị cắt giảm:

  • Ở nhóm Dược điển (138 mẫu thiếu chỉ tiêu): Nguyên nhân do thiếu hóa chất chiếm 64,49% (89 mẫu), thiếu chất chuẩn chiếm 21,74% (30 mẫu) và thiếu thiết bị chiếm 13,77% (19 mẫu). Các phép thử bị bỏ qua nhiều nhất gồm: Độ đồng đều hàm lượng (bỏ sót 5/5 mẫu, 100%), Tạp chất liên quan (bỏ sót 22/35 mẫu, 62,86%), Chuẩn độ thể tích (bỏ sót 5/8 mẫu, 62,50%) và Định tính hóa học (bỏ sót 35/108 mẫu, 32,41%).
  • Ở nhóm Tiêu chuẩn cơ sở (62 mẫu thiếu chỉ tiêu): Thiếu hóa chất chiếm 53,23% (34 mẫu), thiếu thiết bị chiếm 30,65% (19 mẫu) và thiếu chất chuẩn chiếm 16,13% (10 mẫu). Các chỉ tiêu bỏ sót hoàn toàn 100% gồm: Định tính bằng quang phổ hồng ngoại IR (9/9 mẫu) và Thử độ nhiễm khuẩn (2/2 mẫu).

Thảo luận kết quả

Cơ cấu mẫu kiểm nghiệm tại Trung tâm phản ánh sự chênh lệch lớn giữa thuốc sản xuất trong nước (chiếm trên 94%) và thuốc nhập khẩu (dưới 6%), cũng như giữa thuốc đơn hoạt chất (trên 96%) và thuốc đa hoạt chất (dưới 4%). Điều này tương đồng với thực trạng chung tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Vĩnh Phúc (368 mẫu nội địa / 61 mẫu nhập khẩu năm 2017) hay Lai Châu (588 mẫu nội địa / 58 mẫu nhập khẩu năm 2020). Nguyên nhân bắt nguồn từ kinh phí mua mẫu giám sát còn hạn chế trong khi giá thành thuốc nhập khẩu và thuốc đa thành phần rất cao, đồng thời kiểm nghiệm viên có xu hướng ưu tiên thu thập các mẫu có quy trình kiểm nghiệm đơn giản, quen thuộc.

Vấn đề đáng lo ngại nhất được phát hiện qua số liệu là việc có tới 66,99% mẫu Dược điển và 59,05% mẫu TCCS không được kiểm tra trọn vẹn các chỉ tiêu bắt buộc nhưng vẫn được kết luận đạt chất lượng. Việc bỏ qua các phép thử cốt lõi như độ đồng đều hàm lượng, độ hòa tan và tạp chất liên quan có thể bỏ lọt các lô thuốc kém sinh khả dụng hoặc chứa độc tính phân hủy. Báo cáo phân tích có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua các biểu đồ thanh ngang so sánh mức độ đáp ứng phép thử giữa các năm và bảng ma trận đối chiếu nguyên nhân thiếu hụt để phục vụ việc lập ngân sách chính xác.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hiện đại hóa trang thiết bị và mở rộng năng lực thử nghiệm: Ban Giám đốc Trung tâm Kiểm soát Dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm và Thiết bị y tế Thái Nguyên cần ưu tiên đầu tư bổ sung máy quang phổ hồng ngoại (IR), thiết bị kiểm tra độ nhiễm khuẩn và hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) thế hệ mới. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ mẫu kiểm nghiệm đủ 100% chỉ tiêu từ 33,01% lên tối thiểu 75% vào năm 2024 và đạt trên 85% trước năm 2026.

  2. Chuẩn hóa quy trình quản lý chất chuẩn và hóa chất phân tích: Bộ phận chuyên môn phối hợp với Khoa Kiểm nghiệm Dược xây dựng danh mục dự trù chất chuẩn gốc và hóa chất tinh khiết định kỳ theo từng quý. Giải pháp này hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ mẫu không đạt chỉ tiêu do thiếu hóa chất từ 64,49% xuống dưới 15% trong vòng 18 tháng thực hiện.

  3. Tăng cường phân bổ ngân sách lấy mẫu giám sát thị trường: Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên cần tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh tăng mức cấp kinh phí sự nghiệp y tế hàng năm thêm 20% đến 30% cho hoạt động kiểm nghiệm. Nguồn kinh phí bổ sung này dùng để nâng chỉ tiêu lấy mẫu thuốc nhập khẩu từ mức 5,83% hiện nay lên ít nhất 15%, đồng thời tăng cường giám sát các nhóm thuốc đa thành phần lưu thông tại 6 huyện vùng sâu, vùng xa.

  4. Đào tạo liên tục và tăng cường liên kết chuyên môn tuyến Trung ương: Thiết lập chương trình chuyển giao kỹ thuật thường niên với Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương để bồi dưỡng nâng cao trình độ cho 27 cán bộ chuyên môn của đơn vị. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ thuật phân tích tạp chất liên quan, thẩm định quy trình phân tích và vận hành thiết bị công nghệ cao trước quý IV năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Giám đốc và Kiểm nghiệm viên tại các Trung tâm Kiểm nghiệm tỉnh, thành phố: Tiếp cận bức tranh thực tế về các điểm nghẽn kỹ thuật trong thử nghiệm thuốc viên nén, từ đó tham khảo giải pháp xây dựng kế hoạch dự trù chất chuẩn và tối ưu hóa quy trình thử nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025.
  • Cơ quan quản lý Dược (Cục Quản lý Dược, Sở Y tế các tỉnh): Sử dụng các số liệu thực chứng để đánh giá khoảng cách giữa quy chuẩn văn bản và năng lực phân tích tuyến cơ sở, hỗ trợ công tác ban hành chính sách phân bổ ngân sách và chỉ đạo chuyên môn sát thực tế.
  • Khối doanh nghiệp sản xuất và lưu thông dược phẩm: Nắm bắt các chỉ tiêu kỹ thuật trọng yếu thường được cơ quan nhà nước tập trung kiểm tra, giúp hoàn thiện hệ thống phòng ngừa rủi ro cho các lô thuốc viên nén trước khi đưa ra thị trường.
  • Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên ngành Dược: Tài liệu học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu hồi cứu trong Tổ chức quản lý Dược, phương pháp thiết kế bảng biến số và kỹ thuật xử lý dữ liệu kiểm nghiệm thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ thuốc viên nén không kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu tại Thái Nguyên lại chiếm tỷ lệ cao?

Nguyên nhân cốt lõi là do thiếu hụt hóa chất tinh khiết (chiếm 64,49% mẫu thiếu ở nhóm Dược điển) và thiếu chất chuẩn đối chiếu (chiếm 21,74%). Bên cạnh đó, các trang thiết bị phân tích hiện đại như máy quang phổ hồng ngoại IR chưa được trang bị đầy đủ đã cản trở việc thực hiện các phép thử chuyên sâu.

Nghiên cứu đã phát hiện bao nhiêu mẫu thuốc viên nén không đạt chất lượng trong năm 2021?

Trong tổng số 328 mẫu thuốc viên nén được kiểm tra, nghiên cứu phát hiện 05 mẫu không đạt tiêu chuẩn chất lượng (tỷ lệ 1,52%). Cả 05 mẫu vi phạm này đều thuộc nhóm thuốc sản xuất trong nước và có cấu trúc đơn hoạt chất.

Cơ cấu mẫu kiểm nghiệm thuốc trong nước và thuốc nhập khẩu có sự chênh lệch như thế nào?

Số lượng thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ trọng áp đảo với 94,17% (194/206 mẫu theo Dược điển) và 96,20% (101/105 mẫu theo TCCS). Thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất thấp (5,83% và 1,90%) do nguồn kinh phí mua mẫu còn hạn hẹp và giá thành thuốc ngoại cao.

Hệ thống quản lý chất lượng ISO/IEC 17025 tại đơn vị bao gồm những năng lực thử nghiệm nào?

Trung tâm Kiểm soát Thái Nguyên được công nhận tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005 từ năm 2015 trên 3 lĩnh vực Dược, Hóa và Sinh. Hệ thống sở hữu 26 phép thử lĩnh vực Dược, 18 phép thử lĩnh vực Hóa và 04 phép thử lĩnh vực Sinh, bảo đảm giá trị pháp lý cho các phiếu phân tích.

Các chỉ tiêu kiểm nghiệm nào bị bỏ sót nhiều nhất trong quá trình phân tích mẫu viên nén?

Những chỉ tiêu thường bị bỏ qua gồm: Độ đồng đều hàm lượng (không làm được 100% mẫu Dược điển), Tạp chất liên quan (bỏ qua 62,86% mẫu Dược điển), Định tính quang phổ hồng ngoại IR (không thực hiện 100% mẫu TCCS) và Thử độ nhiễm khuẩn (không thực hiện 100% mẫu TCCS).

Kết luận

  • Đề tài đã phân tích toàn diện 328 mẫu thuốc viên nén tại Trung tâm Kiểm soát Dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm và Thiết bị y tế Thái Nguyên năm 2021, ghi nhận tỷ lệ đạt chất lượng đạt 98,48% và tỷ lệ không đạt là 1,52%.
  • Luận văn vạch rõ hạn chế lớn trong công tác chuyên môn khi có tới 66,99% mẫu Dược điển và 59,05% mẫu TCCS chưa được kiểm tra đủ chỉ tiêu kỹ thuật trước khi kết luận chất lượng.
  • Nghiên cứu đã định lượng hóa 3 rào cản kỹ thuật chính gồm thiếu hóa chất (chiếm 53% đến 64%), thiếu chất chuẩn (16% đến 21%) và thiếu thiết bị phân tích (13% đến 30%).
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đã được đề xuất với mục tiêu cụ thể nhằm nâng tỷ lệ kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu lên trên 85% trước năm 2026.
  • Quý cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và các trung tâm kiểm nghiệm hãy chủ động ứng dụng các khuyến nghị từ luận văn để kiện toàn năng lực thử nghiệm, bảo đảm an toàn và hiệu quả điều trị cho cộng đồng.