ĐẶT VẤN ĐỀ Gà Liên Minh là giống gà quý hiếm của người dân thôn Liên Minh, xã Trân Châu, huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Thôn Liên Minh biệt lập với bên ngoài bởi các rặng núi đá tạo nên một vùng tiểu khí hậu và thổ nhưỡng riêng. Gà Liên Minh cũng được coi là sản phẩm đặc trưng của đảo Cát Bà, Hải Phòng được chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, đã được chỉ dẫn địa lý. Ngày 16 tháng 01 năm 2018, Bộ NN và PTNT đã ban hành thông tư số 01/2018/TT- BNNPTNT, công bố danh mục giống vật nuôi được sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, trong đó có giống gà Liên Minh.
Giống gà Liên Minh có đặc điểm đẹp về ngoại hình và màu sắc lông, da vàng, phẩm chất thịt thơm ngon, da giòn và dai, thịt có vị ngọt đậm đà. Dáng gà Liên Minh to cao, chân và cổ dài, lông mượt, da vàng óng. Gà trống có ngoại hình đẹp, màu sắc lông sặc sỡ có thể nặng tới 5kg, gà mái 3kg. Con mái lông màu vàng nhạt, năng suất trứng thấp chỉ khoảng 75 – 78 quả/mái/năm.
Gà thịt thương phẩm ở 6 tuần tuổi nặng 603g, 20 tuần tuổi nặng 1700g. Như vậy gà Liên Minh cũng giống như một số giống gà nội khác, có năng suất trứng và tốc độ sinh trưởng rất thấp. Trước đây, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc chọn lọc quần thể đơn giản, tiến hành chọn lọc đồng thời với cả 2 tính trạng là khả năng tăng trọng khối lượng cơ thể và sản lượng trứng. Hai tính trạng này có tương quan âm, đối nghịch nhau, nghĩa là: những cá thể lớn nhanh và to thì sẽ đẻ kém và ngược lại.
Do đó, khi chọn lọc để nâng cao được tính trạng này thì tính trạng kia trong quần thể sẽ giảm đi và ngược lại. Để khắc phục hiện tượng này và để khai thác hiệu quả nguồn gen của giống gà Liên Minh, đồng thời phát huy ưu thế về chất lượng thịt của giống gà này các nhà khoa học của Khoa Chăn nuôi đã tiến hành chọn lọc để tạo 2 dòng độc lập: 1 dòng trống có khả năng tăng khối lượng nhanh, 1 dòng mái có khả năng cho năng suất trứng cao. Hai dòng gà Liên Minh (dòng 1 trống và dòng mái) trải qua hai thế hệ chọn đã bắt đầu ổn định về năng suất theo định hướng chọn lọc của từng dòng. Để tiếp tục ổn định năng suất theo các định hướng chọn lọc dòng thì vẫn cần phải tiếp tục chọn lọc, nhân dòng ở các thế hệ tiếp theo Xuất phát từ nhu cầu thực tế nêu trên nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của gà Liên Minh dòng mái thế hệ IV giai đoạn hậu bị”.
Đề tài góp phần bảo tồn, nhân giống và phát triển giống gà quý này để phục vụ nhu cầu người tiêu dùng và mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Chọn lọc được dòng gà mái thế hệ thứ 4 giai đoạn hậu bị (từ mới nở đến 18 tuần tuổi). YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI Theo dõi đầy đủ, ghi chép, thu thập số liệu liên quan về đặc điểm ngoại hình, chiều đo cơ thể, tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn của đàn gà Liên Minh dòng mái thế hệ 4 giai đoạn hậu bị nuôi tại Công ty cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, Quảng Ninh. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG GÀ LIÊN MINH Gà Liên Minh được phát hiện và đưa vào danh sách bảo tồn từ năm 2008. Khi mới được phát hiện, tình trạng nguồn gen gà Liên Minh theo tiêu chí đánh giá của FAO (2007a) ở mức độ đe dọa nguy hiểm. Bên cạnh đó, việc chăn nuôi gà Liên Minh theo hình thức nhỏ lẻ, chăn thả tự do làm gà bị lai tạp; tự chọn lọc và nhân giống tại mỗi gia đình nên xảy ra hiện tượng cận huyết, khối lượng cơ thể gà giảm dần qua các thế hệ. Bùi Hữu Đoàn và cs., (2016) nghiên cứu trên 30 hộ tại xã Trân Châu, huyện Cát Hải đã chỉ ra rằng gà Liên Minh nuôi tại hộ theo phương thức chăn thả đẻ trứng ở 197,5 ngày tuổi tương ứng với khối lượng cơ thể 2,25kg/con, số lượng trứng 75,6 quả/mái/năm, khối lượng trứng trung bình 49,8g.
Tác giả cũng cho biết, gà Liên Minh sinh sản ở độ tuổi khá cao từ 2-3 năm tuổi - đây cũng là một trong những lý do làm cho năng suất sinh sản của giống là thấp và khó phát triển rộng rãi ra sản xuất nếu tiếp tục nuôi theo tập quán truyền thống của địa phương. Gà Liên Minh có đặc điểm đẹp về ngoại hình và màu sắc lông, da vàng, phẩm chất thịt thơm ngon, giống gà có đặc điểm to cao, chân và cổ dài, lông mượt và da vàng óng. Gà trống có ngoại hình đẹp, màu lông sặc sỡ có thể nặng tới 5kg, gà mái 3kg. Khi trưởng thành Gà trống trưởng thành có mào cờ rất phát triển, đẹp; mỏ và da màu vàng ; chân cao, dáng thanh tú, nhẹ nhàng, đẹp đẽ; lông ở phần dưới: ngực, bụng và đùi màu vàng sẫm, riêng phần cổ lưng, cánh có màu đỏ ngô; chóp đuôi có màu đen.
Gà mái trưởng thành có mào cờ to vừa phải, đẹp; mỏ và da màu vàng; chân cao vừa, vẩy sừng; thân hình đầy đặn nhưng dáng đi nhẹ nhàng, đẹp đẽ; lông màu vàng sáng, riêng phần cổ nhiều con có cườm đen, chót đuôi màu đen (Trịnh Phú Cử, 2012). CƠ SỞ KHOA HỌC CHỌN VÀ NHÂN GIỐNG Nhân giống thuần chủng là một phương pháp chỉ cho giao phối giữa những con đực và cái trong cùng một giống. Mục đích của nhân giống thuần chủng là tạo nên tính đồng nhất về tầm vóc, màu sắc, tính năng sản xuất của các cá thể trong cùng một giống. Ngoài ra, yêu cầu của nhân giống thuần chủng là duy trì và nâng cao được những đặc tính di truyền tốt của giống, loại bỏ được những đặc tính di truyền xấu.
Có thể nói rằng nhân giống thuần chủng là phương pháp giữ phẩm chất, nâng cao và hoàn chỉnh phẩm chất của giống. Các giống gà địa phương đều có chung một đặc điểm là: tầm vóc nhỏ, sức sản xuất thấp về thịt và trứng nhưng có ưu điểm là thích nghi tốt với điều kiện địa phương, có sức chống bệnh cao và thịt trứng có phẩm chất ngon. Chọn lọc là biện pháp chủ yếu trong công tác giống gia cầm, làm thay đổi đặc tính di truyền của đàn, mục tiêu của chọn lọc là tạo được thế hệ sau có năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn thế hệ sinh ra nó. Một số phương pháp chọn lọc: + Chọn lọc cá thể Theo phương pháp này việc chọn lọc được thông qua kiểu hình của các cá thể trong toàn đàn theo các giá trị của giống.
Phương pháp này thu được hiệu quả cao khi sự di truyền trội hoặc lặn được qui định bởi các cặp gen. Ví dụ ở gà Plymouth trắng lặn qui định bởi alen - c, mào đơn bởi alen - r, các cá thể mang các tính trạng này là đồng hợp theo màu lông và hình dạng mào nên chọn lọc là rất đơn giản. Phương pháp chọn theo cá thể là rất hiệu quả với các tính trạng có hệ số di truyền cao. + Chọn lọc theo gia đình, dòng họ Phương pháp chọn lọc này được thực hiện thông qua giá trị giống trung bình của gia đình, dòng họ.
Giá trị giống trung bình được tính cho cả các cá thể trong gia đình được chọn lọc. Phương pháp này có hiệu quả cao khi các tính trạng chọn lọc có hệ số di truyền thấp. 4 + Chọn lọc trong gia đình Là phương pháp chỉ căn cứ vào giá trị của các cá thể trong từng gia đình và chọn tất cả các cá thể tốt nhất trong từng gia đình đều được giữ lại làm giống. Tất cả các gia đình đều được tham gia vào quá trình chọn lọc, những cá thể có giá trị lớn hơn giá trị trung bình của từng gia đình đều được giữ lại làm giống.
Như vậy, gia đình nào cũng có sự đóng góp các cá thể tốt nhất cho thế hệ sau. Ưu điểm của phương pháp chọn lọc này là có hiệu quả tốt đối với các tính trạng có hệ số di truyền thấp và khi gia đình được nuôi dưỡng chăm sóc trong cùng điều kiện tương tự nhau, sẽ hạn chế mức tăng đồng huyết ở các quần thể khép kín. + Chọn lọc cá thể kết hợp với gia đình Trong phương pháp này cho phép chọn các cá thể tốt nhất trong các gia đình tốt nhất, là phương pháp có nhiều triển vọng và được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia cầm. Phụ thuộc vào chương trình công tác giống khác nhau, việc chọn lọc được thực hiện trên 1 tính trạng hay nhiều tính trạng mà sử dụng các hình thức chọn lọc sau: Chọn lọc liên tục theo một tính trạng: Được sử dụng chỉ trong các trường hợp đặc biệt.
Chọn lọc chỉ theo giá trị giống của một tính trạng và kéo dài liên tục qua nhiều thế hệ cho đến khi đạt mục đích giống đặt ra thì dừng lại. Sau đó chuyển sang chọn lọc theo tính trạng khác. Phương pháp này được tiến bộ di truyền tương đối nhanh nhưng chỉ ở một tính trạng. Ở gia cầm các tính trạng luôn có liên quan với nhau nên việc chọn lọc theo phương pháp này gặp trở ngại, vì vậy thường chỉ ứng dụng trong công tác giống với các dòng chuyên dụng.
Chọn lọc độc lập: Theo phương pháp này việc chọn lọc đồng thời ở một số tính trạng cho đến khi các tính trạng đó đạt giới hạn của giá trị giống xác định. Tức là đánh giá các cá thể thoả mãn đòi hỏi thấp nhất được xác định cho mỗi tính trạng, nếu không thoả mãn một tính trạng thì phải loại thải. Chỉ chọn các cá thể theo tất cả 5 các tính trạng trên giới hạn qui định. Nhược điểm của phương pháp này là phải loại thải đi các cá thể có giá trị cao chỉ ở một tính trạng mong muốn, các gia cầm có đặc tính quí ở một hướng sản xuất nào đó.
Đòi hỏi phải có số lượng lớn để chọn lọc. Phương pháp này ứng dụng nhiều trong chăn nuôi gia cầm. Chọn lọc theo chỉ số giống: Chỉ số giống được qui định cho tất cả cá thể và cho tất cả tính trạng giống. Chỉ số giống chung nhất được thể hiện với mô hình toán học tổng quát là: I = V1P1+V2P2+… +VnPn Trong đó P1, P2… Pn là giá trị chuyển đổi của các tính trạng giống; V1, V2.Vn là hệ số xác định của giá trị giống; n là số lượng tính trạng giống.