Tổng quan nghiên cứu

Thị trường dược phẩm Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với hơn 170 nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn, trên 3.000 công ty kinh doanh phân phối, hơn 21.000 nhà thuốc và quầy thuốc bán lẻ đang vận hành trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, toàn bộ hệ thống kiểm nghiệm nhà nước chỉ có khoảng 2.071 cán bộ chuyên trách thực hiện công tác lấy mẫu và giám sát chất lượng. Sự xuất hiện của hàng loạt hoạt chất mới, công nghệ bào chế phức tạp cùng tình trạng thuốc giả, thuốc kém phẩm chất lưu hành đã đặt ra thách thức nặng nề cho công tác bảo đảm an toàn dược phẩm, đặc biệt tại các tỉnh miền núi biên giới.

Lai Châu là tỉnh địa đầu Tây Bắc có đường biên giới giáp Trung Quốc dài 265,165 km, địa hình hiểm trở với 8 đơn vị hành chính cấp huyện và 106 đơn vị cấp xã, nơi cư trú của 20 dân tộc thiểu số. Hệ thống cung ứng thuốc trên địa bàn bao gồm 3 bệnh viện tuyến tỉnh, 8 trung tâm y tế, 8 công ty dược và 218 cơ sở bán lẻ (gồm 67 nhà thuốc và 151 quầy thuốc). Trong điều kiện đó, Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Lai Châu đóng vai trò then chốt trong việc tham mưu cho Sở Y tế quản lý chất lượng thuốc lưu hành.

Luận văn chuyên khoa cấp I chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược của tác giả Lê Thanh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lã Thị Quỳnh Liên tại Trường Đại học Dược Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết về năng lực kỹ thuật của hệ thống kiểm nghiệm địa phương. Nghiên cứu thực hiện phân tích toàn diện 722 hồ sơ mẫu thuốc được kiểm tra trong năm 2020 tại tỉnh Lai Châu, đồng thời đánh giá chuyên sâu năng lực phân tích trên 232 mẫu thuốc viên nang – dạng bào chế phổ biến bậc nhất hiện nay. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xác định các rào cản kỹ thuật, cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định chiến lược đầu tư trang thiết bị, hóa chất, chất chuẩn và nâng cao năng lực kiểm nghiệm đạt chuẩn GLP và ISO/IEC 17025 cho tuyến y tế cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận về quản lý chất lượng toàn diện trong ngành dược, kết hợp các quy định pháp lý hiện hành của Nhà nước và Bộ Y tế:

  1. Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và thực hành tốt (GXP): Khung đánh giá dựa trên tiêu chuẩn Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (GLP) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tiêu chuẩn năng lực phòng thử nghiệm ISO/IEC 17025 và Dược điển Việt Nam V (DĐVN V) có hiệu lực từ ngày 01/07/2018 với 1.519 tiêu chuẩn quốc gia.
  2. Khung pháp lý quản lý chất lượng thuốc: Áp dụng Luật Dược số 105/2016/QH13, Thông tư 11/2018/TT-BYT quy định về chất lượng thuốc, nguyên liệu làm thuốc và Thông tư 38/2021/TT-BYT về chất lượng dược liệu, vị thuốc cổ truyền.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Thuốc hóa dược: Chế phẩm chứa dược chất đã xác định rõ thành phần, công thức hóa học và độ tinh khiết.
  • Thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền: Chế phẩm có nguồn gốc tự nhiên được bào chế theo y học cổ truyền hoặc bằng chứng khoa học hiện đại.
  • Tiêu chuẩn chất lượng (TCCL): Văn bản kỹ thuật quy định chỉ tiêu, mức giới hạn và phương pháp kiểm nghiệm bắt buộc.
  • Phép thử chất lượng thuốc viên nang: Bao gồm các chỉ tiêu cảm quan, độ đồng đều khối lượng, độ tan rã, độ hòa tan, định tính, định lượng và tạp chất liên quan.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu toàn bộ dữ liệu kiểm nghiệm sẵn có.

  • Cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu bao phủ toàn bộ 722 hồ sơ mẫu thuốc lấy kiểm nghiệm tại Trung tâm Kiểm nghiệm Lai Châu trong thời gian từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2020. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm loại bỏ sai số chọn mẫu, phản ánh trung thực 100% hoạt động chuyên môn của đơn vị. Trong đó, toàn bộ 232 mẫu viên nang được đưa vào phân tích năng lực kiểm nghiệm chi tiết.
  • Thu thập số liệu: Dữ liệu được trích xuất có hệ thống từ biên bản lấy mẫu, sổ nhập mẫu, hồ sơ phân tích, sổ theo dõi kết quả và báo cáo tổng kết năm 2020 thông qua 15 biến số nghiên cứu đã được mã hóa theo biểu mẫu chuẩn.
  • Phương pháp và lý do phân tích: Toàn bộ dữ liệu được làm sạch, nhập liệu kép và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp thống kê mô tả, tính tỷ trọng và tỷ lệ phần trăm được lựa chọn vì tính chính xác cao, giúp minh họa rõ ràng cơ cấu nhóm thuốc, phân bố dạng bào chế, tỷ lệ đáp ứng chỉ tiêu và xác định chính xác các điểm nghẽn kỹ thuật tại phòng kiểm nghiệm. Timeline nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận được tiến hành từ tháng 12/2021 đến tháng 04/2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích 722 hồ sơ kiểm nghiệm tại Trung tâm Kiểm nghiệm Lai Châu năm 2020 đã ghi nhận những phát hiện cốt lõi sau:

Thứ nhất, về khối lượng thực hiện và tỷ lệ đạt chất lượng: Trung tâm đã lấy và kiểm nghiệm 722 mẫu, đạt 103,1% so với chỉ tiêu kế hoạch 700 mẫu do Sở Y tế giao (100% là mẫu chủ động lấy, 0 mẫu gửi dịch vụ). Trong đó, có 720 mẫu đạt tiêu chuẩn chất lượng (chiếm 99,72%) và chỉ có 2 mẫu không đạt tiêu chuẩn (chiếm 0,28%).

Thứ hai, về cơ cấu chủng loại và nguồn gốc:

  • Nhóm thuốc hóa dược chiếm ưu thế tuyệt đối với 646 mẫu (89,5%), trong khi dược liệu và vị thuốc cổ truyền chỉ có 42 mẫu (5,8%), thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền là 34 mẫu (4,7%).
  • Về tác dụng dược lý trong nhóm hóa dược: Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ trọng cao nhất với 52,0% (336 mẫu), tiếp theo là nhóm giảm đau, hạ sốt, chống viêm với 22,3% (144 mẫu), vitamin và khoáng chất chiếm 11,0% (71 mẫu). Các nhóm còn lại như thuốc tiêu hóa (1,1%), chống dị ứng (1,5%) hay tim mạch, thần kinh chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn.
  • Về dạng bào chế và thành phần: Viên nén chiếm 49,4% (357 mẫu) và viên nang chiếm 32,1% (232 mẫu), tổng cộng chiếm tới 81,5% mẫu kiểm nghiệm. Thuốc đơn thành phần chiếm 94,6% (611 mẫu), thuốc đa thành phần chỉ chiếm 5,4% (35 mẫu). Thuốc sản xuất trong nước chiếm 91,0% (588 mẫu) và thuốc nhập khẩu chiếm 9,0% (58 mẫu). Địa bàn lấy mẫu tập trung chủ yếu ở cơ sở bán lẻ và cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện, xã (hạng III, IV) với 89,6% (647 mẫu).

Thứ ba, về năng lực kiểm nghiệm thuốc viên nang:

  • Trong 232 mẫu thuốc viên nang, chỉ có 137 mẫu được kiểm nghiệm đầy đủ 100% các chỉ tiêu đăng ký (đạt tỷ lệ 59,1%), còn lại 95 mẫu bị thiếu chỉ tiêu (chiếm 40,9%).
  • Đối với chỉ tiêu định lượng: Đơn vị thực hiện rất tốt với 219/221 phép thử thành công (đạt 99,1%), trong đó kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC thực hiện 208/210 phép thử (99,0%) và quang phổ UV-VIS đạt 10/10 phép thử (100%).
  • Đối với chỉ tiêu độ hòa tan: Đạt tỷ lệ thực hiện 100% trên cả 206 phép thử (189 phép thử bằng UV-VIS và 17 phép thử bằng HPLC).
  • Đối với chỉ tiêu định tính và tạp chất: Năng lực bị suy giảm rõ rệt. Trong 446 chỉ tiêu định tính, phương pháp sắc ký lớp mỏng TLC chỉ thực hiện được 124/200 phép thử (đạt 62,0%, bỏ sót 76 phép thử). Đặc biệt, 100% phép thử xác định tạp chất liên quan bằng TLC (7/7 phép thử) đều không thể thực hiện được.
  • Tổng cộng có 94 phép thử trên thuốc viên nang không thể tiến hành. Phân tích nguyên nhân cho thấy: Thiếu hóa chất, dung môi chiếm tỷ lệ cao nhất với 83 phép thử; thiếu chất chuẩn đối chiếu chiếm 10 phép thử; thiếu trang thiết bị máy móc chiếm 6 phép thử.

Thảo luận kết quả

Khi so sánh với các trung tâm kiểm nghiệm lân cận, tỷ lệ mẫu không đạt chất lượng tại Lai Châu (0,28%) thấp hơn đáng kể so với Hải Phòng (1,2%), Bắc Kạn (1,1%) và Vĩnh Phúc (1,2%). Tỷ lệ này chưa hẳn phản ánh thuốc trên địa bàn có chất lượng vượt trội, mà chủ yếu bắt nguồn từ việc trung tâm chưa thể thực hiện các chỉ tiêu chuyên sâu như tạp chất liên quan, độ hòa tan mở rộng hay định tính phức tạp.

Cơ cấu kiểm nghiệm đang bộc lộ sự mất cân đối lớn khi tập trung quá mức vào thuốc kháng sinh (52,0%) và thuốc đơn thành phần (94,6%), tương tự thực trạng tại một số tỉnh miền núi như Điện Biên (84,3% đơn thành phần) hay Cao Bằng (94,1% thuốc hóa dược). Việc bỏ ngỏ mảng thuốc đa thành phần, thuốc nhập khẩu và dược liệu bắt nguồn từ rào cản kỹ thuật: Thuốc đa thành phần đòi hỏi kỹ thuật tách sắc ký tinh vi, chất chuẩn ngoại đắt đỏ và quy trình phân tích tốn kém.

Về mặt biểu diễn dữ liệu, các phát hiện này hoàn toàn có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu giữa các phương pháp phân tích (HPLC so với TLC), kết hợp biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguyên nhân gây gián đoạn kiểm nghiệm (hóa chất 88,3%, chất chuẩn 10,6%, thiết bị 6,4%). Điều này làm nổi bật bức tranh thiếu hụt tài nguyên phân tích tại các đơn vị kiểm nghiệm tuyến tỉnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi cao:

  1. Kiện toàn danh mục hóa chất, thuốc thử và chất chuẩn:

    • Hành động: Lập kế hoạch dự trù kinh phí hàng năm tập trung mua sắm các loại dung môi hữu cơ tinh khiết dùng cho sắc ký lớp mỏng (TLC) và chất chuẩn đối chiếu gốc của Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương.
    • Mục tiêu: Giảm thiểu 90% số phép thử định tính bị hủy bỏ do thiếu dung môi, nâng tỷ lệ kiểm nghiệm đầy đủ chỉ tiêu thuốc viên nang từ 59,1% lên trên 85% trong giai đoạn 2023–2024.
    • Đơn vị thực hiện: Phòng Kiểm nghiệm Hóa lý phối hợp Phòng Kế hoạch – Tài chính Trung tâm Kiểm nghiệm Lai Châu.
  2. Đầu tư hiện đại hóa hạ tầng trang thiết bị phân tích:

    • Hành động: Bổ sung thêm ít nhất 01 hệ thống máy sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), 01 máy quang phổ hồng ngoại (IR) và 01 tủ sấy áp suất giảm để đáp ứng trọn vẹn phép thử giảm khối lượng do làm khô.
    • Mục tiêu: Hoàn thiện 100% năng lực thử nghiệm các chỉ tiêu cơ bản theo Dược điển Việt Nam V vào cuối năm 2024.
    • Đơn vị thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu và Sở Y tế Lai Châu phê duyệt đề án đầu tư công.
  3. Đào tạo chuyên sâu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao:

    • Hành động: Cử kiểm nghiệm viên tham gia các khóa đào tạo chuyển giao kỹ thuật phân tích tạp chất liên quan, kỹ thuật định lượng thuốc đa thành phần và phương pháp kiểm nghiệm dược liệu tại Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương.
    • Mục tiêu: 100% kiểm nghiệm viên phụ trách máy vận hành thành thạo quy trình GLP và tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 trước năm 2025.
    • Đơn vị thực hiện: Ban Giám đốc Trung tâm và các phòng chuyên môn nghiệp vụ.
  4. Tái cơ cấu chiến lược lấy mẫu giám sát thị trường:

    • Hành động: Mở rộng địa bàn lấy mẫu sang nhóm thuốc nhập khẩu, thuốc đa thành phần, thuốc y học cổ truyền và tăng tỷ lệ giám sát tại các cơ sở bán buôn, kho dược bệnh viện.
    • Mục tiêu: Nâng tỷ trọng mẫu dược liệu, vị thuốc cổ truyền lên tối thiểu 15% và thuốc nhập khẩu lên 15% tổng số mẫu lấy hàng năm.
    • Đơn vị thực hiện: Đoàn kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc thuộc Trung tâm Kiểm nghiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  1. Lãnh đạo và kiểm nghiệm viên tại các Trung tâm Kiểm nghiệm tuyến tỉnh: Tài liệu cung cấp phương pháp đánh giá thực trạng năng lực, nhận diện điểm nghẽn kỹ thuật và xây dựng kế hoạch mua sắm trang thiết bị, hóa chất, chất chuẩn tối ưu hóa nguồn ngân sách hạn hẹp.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước về Dược (Sở Y tế, Cục Quản lý Dược): Nguồn số liệu tham khảo xác thực để ban hành các chính sách điều phối nguồn lực, hỗ trợ kỹ thuật và phân bổ kinh phí kiểm tra, giám sát thị trường thuốc khu vực biên giới, miền núi.
  3. Học viên sau đại học, giảng viên và nghiên cứu sinh ngành Quản lý Dược: Cung cấp mô hình nghiên cứu mô tả cắt ngang chuẩn mực, phương pháp phân tích biến số kiểm nghiệm và cơ sở dữ liệu so sánh liên tỉnh tại Việt Nam.
  4. Doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu và phân phối dược phẩm: Hiểu rõ năng lực kiểm tra, các chỉ tiêu kỹ thuật trọng yếu được cơ quan quản lý nhà nước giám sát trên thị trường thực tế để chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm xuất xưởng.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ mẫu thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng tại Lai Châu năm 2020 là bao nhiêu và có phản ánh đúng thực tế không? Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ mẫu không đạt tiêu chuẩn là 0,28% (2/722 mẫu). Tỷ lệ này tương đối thấp so với các tỉnh lân cận (khoảng 1,1% đến 1,2%) và chưa phản ánh toàn diện chất lượng thuốc thực tế do trung tâm chưa thực hiện được các chỉ tiêu phức tạp như tạp chất liên quan.

Vì sao có tới 40,9% mẫu thuốc viên nang không được kiểm nghiệm đầy đủ chỉ tiêu? Nguyên nhân chủ yếu do sự thiếu hụt cục bộ về hóa chất, dung môi phân tích chuyên dụng (chiếm 83/94 phép thử không thực hiện được), thiếu chất chuẩn đối chiếu (10 phép thử) và hạn chế về trang thiết bị đặc thù như máy IR hay tủ sấy áp suất giảm.

Tại sao tỷ lệ kiểm nghiệm thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền tại địa phương còn thấp (chỉ chiếm 10,5%)? Công tác kiểm nghiệm thuốc dược liệu gặp nhiều trở ngại do thiếu nguồn dược liệu chuẩn đối chiếu, phương pháp tách chiết phức tạp, chi phí phân tích cao trong khi nguồn kinh phí ngân sách cấp cho hoạt động kiểm nghiệm tuyến tỉnh còn hạn chế.

Kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC đóng vai trò như thế nào trong kết quả nghiên cứu? HPLC là công cụ xương sống trong công tác kiểm nghiệm với tỷ lệ đáp ứng chỉ tiêu định lượng đạt 99,0% (208/210 phép thử) và định tính đạt 100% (207/207 phép thử), tuy nhiên toàn trung tâm chỉ có duy nhất 01 hệ thống máy, tạo nguy cơ quá tải thiết bị.

Làm thế nào để Trung tâm Kiểm nghiệm Lai Châu nhanh chóng đạt chuẩn GLP và ISO/IEC 17025? Đơn vị cần thực hiện đồng bộ: Nâng cấp cơ sở vật chất phòng ốc, bổ sung trang thiết bị máy móc còn thiếu, xây dựng quy trình thao tác chuẩn (SOP) cho mọi phép thử và đào tạo chuẩn hóa hồ sơ phân tích cho đội ngũ kiểm nghiệm viên.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 722 hồ sơ kiểm nghiệm năm 2020 tại Lai Châu, ghi nhận tỷ lệ hoàn thành kế hoạch đạt 103,1% với 99,72% mẫu đạt chuẩn và 0,28% mẫu không đạt tiêu chuẩn chất lượng.
  • Cơ cấu mẫu kiểm nghiệm còn thiên lệch lớn khi thuốc hóa dược chiếm 89,5%, thuốc đơn thành phần chiếm 94,6% và thuốc kháng sinh chiếm tới 52,0% tổng số mẫu hóa dược được phân tích.
  • Năng lực kiểm nghiệm thuốc viên nang bộc lộ điểm nghẽn nghiêm trọng khi 40,9% số mẫu không được kiểm tra đầy đủ chỉ tiêu, trong đó 100% phép thử tạp chất liên quan và 38,0% phép thử định tính bằng sắc ký lớp mỏng bị gián đoạn.
  • Xác định rõ 94 phép thử không thực hiện được chủ yếu do thiếu hóa chất (83 trường hợp), thiếu chất chuẩn (10 trường hợp) và thiếu trang thiết bị chuyên dụng (6 trường hợp).
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ về đầu tư thiết bị HPLC/IR, bảo đảm kinh phí mua hóa chất, chất chuẩn và đào tạo nhân lực GLP là bước đi then chốt giai đoạn 2023–2025 nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân vùng cao.