LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình khởi nghiệp, ngƣời khởi nghiệp luôn đứng trƣớc các quyết định có nên khởi nghiệp hay không, nếu có thì nên chọn phƣơng án kinh doanh nào để có tính khả thi, mang lại hiệu quả và thành công cho ngƣời khởi nghiệp. Đối với ngƣời khởi nghiệp, các kiến thức cơ bản về khởi nghiệp cần phải nắm là hết sức quan trọng, các kiến thức và kỹ thuật cơ bản này giúp nhà khởi nghiệp không mắc phải những sai lầm nhất định, mà đặc biệt là các tính toán ban đầu cho một kế hoạch kinh doanh khi khởi nghiệp, nhằm hạn chế các rủi ro không đáng có trong giai đoạn khởi nghiệp ban đầu. Vì vậy, quyển sách này đƣợc biên soạn nhằm trang bị cho sinh viên các kiến thức cơ bản sau: + Khởi sự kinh doanh là gì, các quá trình khởi nghiệp, bao gồm sự đổi mới, sáng tạo, các phẩm chất của nhà khởi nghiệp, mô hình kinh doanh, quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng nhƣ các chiến lƣợc nâng cao kết quả của sự đầu tƣ kinh doanh mới. Hình thành, đánh giá và lực chọn ý tƣởng kinh doanh.
Tập trung xung quanh việc khám phá lý thuyết ở nhiều khía cạnh quản trị cũng nhƣ các tình huống kinh doanh thực tế trong khởi sự. + Các kiến thức nhằm phát thảo một kế hoạch kinh doanh: kiến thức chung về doanh nghiệp, pháp luật, thị trƣờng, marketing, kế hoạch nhân sự, tài chính và kế toán trong doanh nghiệp. Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, xong vì kiến thức về “Khởi sự kinh doanh” đòi hỏi tính tổng hợp và liên quan đến nhiều kiến thức chuyên môn khác nhau, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các chuyên gia, ngƣời đọc góp ý để quyển sách đƣợc hoàn thiện hơn.
Biên soạn TS. Trịnh Thị Thúy Hồng 2 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KHỞI SỰ KINH DOANH 1. Khởi sự kinh doanh 1.
Các định nghĩa về khởi sự kinh doanh Hiểu thông thường khởi sự kinh doanh là bắt đầu công việc kinh doanh. Nếu hiểu đầy đủ khởi sự kinh doanh là quá trình thực hiện các công việc cần thiết để triển khai một hoạt động kinh doanh nào đó (Nguyễn Ngọc Huyền, 2018). Khởi sự kinh doanh là quá trình khởi xướng một dự án kinh doanh, sắp xếp các nguồn lực cần thiết, và chấp nhận những rủi ro hay lợi ích xuất phát từ hoạt động kinh doanh đó. Trong thuật ngữ tiếng Việt chỉ có thể khởi sự kinh doanh vì là bắt đầu một hoạt động kinh doanh.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh ngƣời ta thƣờng phải thành lập doanh nghiệp. Nhƣ thế từ hành vi khởi sự kinh doanh dẫn đến hành vi thành lập doanh nghiệp. Vì vậy, ngƣời đọc thƣờng nhầm lẫn giữa “khởi sự kinh doanh” với thuật ngữ “khởi sự doanh nghiệp” vì chỉ có khởi sự kinh doanh không thể khởi sự doanh nghiệp. Có rất nhiều ngƣời quan tâm đến khởi sự kinh doanh trên toàn thế giới.
The Global Entrepreneuship Monitor (GEM), một chƣơng trình nghiên cứu phối hợp giữa trƣờng Badson và trƣờng kinh doanh Luân Đôn, đã theo dõi khởi sự ở 40 nƣớc, bao gồm cả Hoa Kỳ. Theo nghiên cứu của GEM năm 2003, có khoảng 300 triệu, hay 12,5% ngƣời lớn ở các nƣớc đƣợc điều tra có liên quan đến việc thành lập các doanh nghiệp mới. Báo cáo của GEM cũng xác định liệu những ngƣời trả lời có mở một doanh nghiệp mới nhắm tận dụng những cơ hội hấp dẫn hay là không thật sự cần thiết. Nói cách khác, nó theo dõi liệu con ngƣời có trở thành những doanh nhân vì họ có một cơ hội hấp dẫn hay vì nó không thể tìm một cơ hội làm việc nào đó tốt hơn.
Nhìn chung, khoảng 2/3 ngƣời ở 40 nƣớc điều tra cho biết họ khởi sự để theo đuổi một cơ hội. Thật không may, ở Hoa Kỳ khoảng 20% doanh nghiệp mới thất bại trong năm đầu tiên trong khi khoảng 20% khác thất bại trong năm thứ hai tồn tại. Con số thống kê cho thấy trong khi nhiều ngƣời có động cơ để khởi nghiệp nhƣng động cơ không thôi thì chƣa đủ, nó phải đi đôi với thông tin đầy đủ, một ý tƣởng kinh doanh hay (solid), và việc thực thi hiệu quả nhằm tối đa hóa các cơ hội thành công. 3 Có một khái niệm khác liên quan đến khởi nghiệp.
“Khởi nghiệp” là bắt đầu nghiệp kinh doanh, hay còn gọi là bắt đầu nghề kinh doanh. Mà đã là nghề thì cần đƣợc học và đào tạo bài bản. Theo Eric Ries (2019) thì Khởi nghiệp là một thể chế con người được thiết lập để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới dưới những điều kiện thiếu chắc chắn. Hoặc theo Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses”, Startup là một định chế hoặc tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn.
Hiện nay, chính phủ các quốc gia cũng nhƣ chính quyền của các địa phƣơng quan tâm nhiều hơn tới “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” chứ không chỉ “khởi nghiệp” bởi những vai trò quan trọng và ảnh hƣởng tích cực của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tới các quốc gia nói chung và các địa phƣơng nói riêng. Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giúp ngƣời khởi nghiệp dễ dàng thành công hơn khi khởi nghiệp, và nó cũng tạo đƣợc sự tăng trƣởng tốt hơn giúp tạo nhiều việc làm cho xã hội. Điều này khiến cho các chính phủ các quốc gia đƣa ra các chính sách tập trung cho “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”. Theo đề án 844, “Doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới, và có thời gian hoạt động không quá 5 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu".
Khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa và khởi nghiệp doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo Khởi nghiệp doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN - SME). Loại hình DN này thƣờng do một ngƣời sáng lập để phục vụ thị trƣờng địa phƣơng và sẽ trở thành DNVVN hoạt động trong phạm vi địa phƣơng đó. Những DN khởi nghiệp dựa trên đổi mới, sáng tạo (Innovation – Driven Enterprise- IDE) có nhiều rủi ro hơn và cũng có nhiều tham vọng hơn. Ngƣời khởi nghiệp với IDE khao khát vƣơn xa hơn thị trƣờng địa phƣơng, tới thị trƣờng toàn cầu hoặc ít nhất là trong khu vực.
4 Những doanh nhân này thƣờng làm việc theo nhóm để xây dựng doanh nghiệp dựa trên công nghệ, quy trình, mô hình kinh doanh, hoặc sáng kiến mới tạo ra cho họ một lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các công ty hiện có. Họ quan tâm đến việc tạo ra của cải và giá trị hơn là việc kiểm soát công ty và thƣờng bán cổ phần công ty để theo đuổi kế hoạch phát triển đầy tham vọng của mình. Mặc dù doanh nghiệp IDE phát triển trong giai đoạn đầu chậm hơn doanh nghiệp SME nhƣng họ sẽ đạt đƣợc tăng trƣởng theo cấp số nhân một khi họ thu hút đƣợc khách hàng (xem Bảng 1. Do sẵn sàng đánh đổi quyền kiểm soát công ty để tìm kiếm sự tăng trƣởng nên doanh nghiệp IDE thƣờng có nhiều ngƣời đồng sở hữu.
Trong khi doanh nghiệp SME tăng trƣởng và vẫn giữ quy mô nhỏ (dù không phải lúc nào cũng vậy), doanh nghiệp IDE tập trung hơn vào việc “đột phá hoặc là đóng cửa”. Để đạt đƣợc tham vọng của mình, họ phải lớn mạnh và trƣởng thành nhanh chóng để phục vụ thị trƣờng toàn cầu.1: So sánh doanh nghiệp SME và doanh nghiệp IDE SME (IDE). Khởi nghiệp doanh nghiệp SME Khởi Tập trung vào thị trƣờng khu vực/thế nghiệp doanh nghiệp IDE Tập trung vào thị giới trƣờng địa phƣơng và khu vực Để thành lập và phát triển doanh nghiệp Doanh nghiệp dựa trên sự sáng tạo đột SME không cần thiết phải ứng dụng sáng phá (công nghệ, quy trình kinh doanh, tạo đột phá, lợi thế cạnh tranh của doanh mô hình kinh doanh) và lợi thế cạnh nghiệp SME cũng không dựa vào điều này. tranh cũng phụ thuộc vào điều này.
“Công việc không thay thế đƣợc”, tức là “Công việc có thể thay thế”, tức là các các công việc thƣờng đƣợc thực hiện ở địa công việc không cần phải thực hiện tại phƣơng (nhƣ nhà hàng, tiệm giặt khô hay địa phƣơng. ngành công nghiệp dịch vụ). Thƣờng là doanh nghiệp gia đình hoặc Chủ sở hữu đa dạng hơn bao gồm cả các doanh nghiệp với rất ít vốn đầu tƣ từ bên nhà cung cấp vốn bên ngoài. Doanh nghiệp tăng trƣởng theo đƣờng Doanh nghiệp thƣờng bị thua lỗ trong thẳng.
Khi đƣợc bơm thêm vốn, hệ thống thời gian đầu nhƣng nếu thành công thì (doanh thu, dòng tiền, việc làm…) sẽ phản sẽ đạt đƣợc tăng trƣởng theo cấp số hồi nhanh chóng và tích cực. Đòi hỏi nhiều vốn đầu tƣ. Khi đƣợc bơm thêm vốn, doanh thu/dòng tiền/ việc làm không phản hồi lại nhanh chóng. 5 Doanh thu, dòng tiền, công Doanh thu, dòng tiền, công Doanh việc theo thời gian của SME việc theo thời gian của SME thu, dòng DT, tiền, công dòng việc tiền, công việc Thời gian Thời gian Hình 1.1: So sánh doanh nghiệp SME và doanh nghiệp IDE Doanh nhân thành lập doanh nghiệp IDE thƣờng có “công việc thay thế đƣợc” tức là có thể thuê ngoài nếu điều đó khiến việc kinh doanh trở nên cạnh tranh hơn.
Những doanh nghiệp này ít có xu hƣớng phân bổ trên nhiều khu vực địa lý mà thay vào đó họ tập trung vào việc ứng dụng sáng tạo đột phá. Và thƣờng thì sau khi bơm thêm tiền đòi hỏi phải có thời gian dài mới thấy đƣợc kết quả về doanh thu và công ăn việc làm. Trong ngắn hạn, mô hình doanh ngiệp SME sẽ thu đƣợc kết quả sớm hơn, nhƣng nếu kiên trì doanh nghiệp IDE sẽ có khả năng tăng trƣởng mạnh mẽ hơn nhƣ trƣờng hợp của Apple, Google, Hewlett-Packard và những công ty đại chúng khác. Hệ sinh thái khởi nghiệp Hệ sinh thái khởi nghiệp là cách thức một quốc gia hay một thành phố thiết lập để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp tại địa phƣơng.
Trong khi đó, OECD định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp nhƣ là “tổng hợp các mối liên kết chính thức và phi chính thức giữa các chủ thể khởi nghiệp (tiềm năng hoặc hiện tại), tổ chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tƣ mạo hiểm, nhà đầu tƣ thiên thần, hệ thống ngân hàng,…) và các cơ quan liên quan (trƣờng đại học, các cơ quan nhà nƣớc, các quỹ đầu tƣ công,…) và tiến trình khởi nghiệp (tỉ lệ 6 thành lập doanh nghiệp, số lƣợng doanh nghiệp có tỉ lệ tăng trƣởng tốt, số lƣợng các nhà khởi nghiệp,…) tác động trực tiếp đến môi trƣờng khởi nghiệp tại địa phƣơng”.