CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. Lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Một số khái niệm liên quan. - Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập thu được và các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập đó trong một kì nhất định.
(Giáo trình tài chính doanh nghiệp- Trường Đại học Thương Mại) - Doanh thu: là tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. ( Theo quyết định số 15/2006/QĐ- BTC ban hành ngày 20/03/2006) - Giá vốn hàng bán: phản ánh trị giá gốc sản phẩm hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả một số khoản thuế theo quy định như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng) đã được xác định là tiêu thụ. Khi xác định được doanh thu thì đồng thời giá trị sản phẩm hàng hóa xuất khẩu cũng được phản ánh vào giá vốn để xác định kết quả. Do vậy việc xác định đúng giá vốn hàng bán có ý nghĩa rất quan trọng.
- Chi phí bán hàng: là một bộ phận của chi phí lưu thông phát sinh dưới hình thái tiền tệ để thực hiện nghiệp vụ bán hàng hóa kinh doanh trong kỳ báo cáo. Chi phí bán hàng được bù đắp bằng khối lượng doanh thu thuần được thực hiện, xét về nội dung kinh tế của các khoản mục chi phí bán hàng gồm: chi phí nhân viên bán hàng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác… - Chi phí quản lý doanh nghiệp: là một loại chi phí thời kỳ được tính đến khi hạch toán lợi tức thuần túy của kỳ báo cáo, chi phí QLDN là những khoản chi phí có liên quan đến việc tổ chức quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Công thức chung xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí SVTH: Vũ Thị Chuyên Lớp: SB15I Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS. Đinh Văn Sơn Vì lợi nhuận là biểu hiện của giá trị thặng dư do lao động tạo ra sau một thời kỷ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh nên nó có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với doanh nghiệp, người lao động mà còn có ý nghĩa quan trọng với nền sản xuất xã hội.
Ý nghĩa của lợi nhuận. - Đối với nền sản xuất xã hội: Lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội bởi sự tham gia của các doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước để quản lý và phát triển xã hội thông qua hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp. Đó cũng là cơ sở tăng thu nhập quốc dân, thu nhập quốc dân càng tăng thì khả năng tái sản xuất và phát triển kinh tế xã hội càng nhiều. Hơn nữa lợi nhuận còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
- Đối với người lao động: Sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế sẽ được trích lập các quỹ trong đó có quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng, phúc lợi. Lợi nhuận sau thuế càng nhiều, các quỹ này càng lớn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tạo ra điều kiện sống về vật chất và từ đó kích thích tinh thần hăng say lao động và tạo được môi trường làm việc ổn định cho người lao động. - Đối với doanh nghiệp: Lợi nhuận có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Nâng cao lợi nhuận là mục tiêu kinh tế hàng đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Bởi trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, lợi nhuận là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi mặt của doanh nghiệp như đảm bảo tình hình tài chính vững chắc, tạo điều kiện nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên, tăng tích lũy đầu tư vào sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Kết cấu lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, để tồn tại và phát triển, tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp không chỉ tiến hành sản xuất kinh doanh một loại hàng hóa nhất SVTH: Vũ Thị Chuyên Lớp: SB15I Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS.
Đinh Văn Sơn định mà các doanh nghiệp còn phải đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp không chỉ tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ theo đúng ngành nghề kinh doanh mà với nguồn vốn có hạn, doanh nghiệp phải sử dụng tối đa nguồn vốn và đem lại hiệu quả cao nhất. Vì thế mà các doanh nghiệp còn tiến hành nhiều hoạt động khác mang tính chất không thường xuyên và không chủ yếu. Đó là các hoạt động tài chính và các hoạt động khác.
Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ là tổng lợi nhuận của các hoạt động trên mang lại. Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất- kinh doanh hàng hóa và dịch vụ: Chức năng chủ yếu của kinh doanh thương mại là mua bán trao đổi hàng hóa, cung cấp các dịch vụ nhằm đưa hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng. Vì vậy hoạt động kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp thương mại là tổ chức lưu chuyển hàng hóa. Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được hình thành từ việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp, những nhiệm vụ này được ghi trong quyết định thành lập doanh nghiệp.
Phần lợi nhuận này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại. LN hoạt động = Doanh - Giá vốn - Chi phí - Chi phí quản lý SXKD thu thuần hàng bán bán hàng doanh nghiệp Trong đó: - Doanh thu thuần= Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa – các khoản giảm trừ - Các khoản giảm trừ bao gồm các khoản chiết khấu thương mại giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. - Giá vốn hàng bán chính là giá thành sản xuất sản phẩm tiêu thụ. Giá vốn + Chi phí + Chi phí quản lý = Giá thành toàn bộ bán hàng bán hàng doanh nghiệp sản phẩm tiêu thụ Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như: góp vốn liên doanh liên kết kinh tế; mua bán trái phiếu.
cổ phiếu, cho thuê tài sản; lãi tiền gửi và lãi cho vay thuộc nguồn vốn kinh doanh… Các khoản lợi nhuận thu được từ các hoạt động này làm tăng giá trị lợi nhuận cho doanh nghiệp. SVTH: Vũ Thị Chuyên Lớp: SB15I Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS. Đinh Văn Sơn Lợi nhuận khác: là khoản chênh lệch giữa thu nhập khác với chi phí khác, bao gồm các khoản phải trả không xác định được chủ, khoản thu hồi lại các khoản nợ khó đòi đã được phê duyệt bỏ, các khoản vật tư thừa sau khi đã bù trừ hao hụt mất mát, chênh lệch thanh lý, nhượng bán tài sản cố định. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình lợi nhuận trong doanh nghiệp.
Tổng lợi nhuận. Tổng mức lợi nhuận là một chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số lãi được tạo ra trong năm. chỉ tiêu này được xác định và tập hợp theo từng mảng hoạt động hoặc theo từng đơn vị thành viên của Doanh ngiệp. Tỷ suất lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không? Lợi nhuận ít hay nhiều? Vì lợi nhuận là một chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, để đánh giá chất lượng hoạt động của một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau, còn dựa vào rất nhiều yếu tố khác nhau chứ không thể dùng một chỉ tiêu lợi nhuận. Vì: - Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó chịu ảnh hưởng của những nhân tố khách quan và chủ quan. - Do mỗi doanh nghiệp có đặc điểm kinh doanh khác nhau, do đó hoạt động sản xuất kinh doanh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố về nguồn cung ứng vật liệu, nhân tố đặc thù của ngành, thị trường tiêu thụ… và mức độ tác động của các nhân tố cũng không giống nhau.
- Các doanh nghiệp cùng loại có quy mô sản xuất khác nhau sẽ đem lại mức lợi nhuận khác nhau. Các DN có quy mô lớn thường thì sẽ có mức lợi nhuận lớn hơn những DN có quy mô nhỏ cho dù công tác quản lý của DN nhỏ tốt hơn. Do đó, để đánh giá chất lượng hoạt động của các DN, ta phải kết hợp chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu về tỉ suất lợi nhuận như: tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu… SVTH: Vũ Thị Chuyên Lớp: SB15I Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: GS. Đinh Văn Sơn Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối dùng để so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các kỳ khác nhau trong một doanh nghiệp hoặc giữa các DN với nhau.
Mức tỷ suất lợi nhuận càng cao thì càng chứng tỏ việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả. a) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. (ROE) Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỉ lệ giữa tổng lợi nhuận sau thuế với vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ. Công thức xác định: L ợ inhu ậ n sau thu ế Doanh l ợ i v ố n ch ủ s ở h ữ u= V ố n chủ s ở h ữ u b ì nh qu â ntrong k ỳ Hay: Pr T svc = ×100 % V sh Trong đó: Tsvc: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
Pr : Lợi nhuận sau thuế. Vsh : Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ.