CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THUC TIEN CHÍNH SÁCH ĐÓI NGOẠI CỦA DONALD TRUMP ĐÓI VỚI TRUNG ĐÔNG 1.1 Chủ nghĩa hiện thực Trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, chủ nghĩa hiện thực là một trong những trường phái tư tưởng có tam anh hưởng quan trọng. Với sự phát triển và khác biệt trong quan điểm, chủ nghĩa hiện thực được chia thành hai hệ tư tưởng: chủ nghĩa hiện thực cô điền (classical realism) và chủ nghĩa tân hiện thực (neo-realism). Diém chung của hai lý thuyết này là chính trị thé giới luôn luôn và nhất thiết xung đột giữa các chủ thê theo đuôi quyền lực. Theo đó, các quốc gia phải tìm cách nâng cao quyền lực và luôn tranh giành quyên lực dé có thé dam bảo được an ninh sự tôn tại cla mình trong thế giới luôn bị bao vây bởi tình trạng vô chính phủ.
Nguyên nhân cho tình trạng này là vì thể lưỡng nan an ninh diễn ra khi một quốc gia gia tăng nhiều quyền lực hơn các quốc gia khác, dẫn đến nên độc lập và an ninh của những quốc gia đó bị suy giảm và trở thành môi đe doa trực tiếp đến vị trí quyền lực trên bản đồ chính trị quốc tế. Chính van đề sóng còn vẻ duy trì ảnh hưởng của những nha nước, các quốc gia cảng tăng cường quyền lực thì càng rơi sâu vào tình thé tiễn thoái lưỡng nan về an ninh. Trong chủ nghĩa tân hiện thực, nhân tố quyên lực tương đối giữa các quốc gia trong hệ thông quốc tế không tôn tại một siêu chính phủ là nguồn gốc của chiến tranh. Bởi vì cuộc chạy đua giữa những quốc gia trong hệ thống nhằm tìm kiếm sự cân bằng quyền lực thông qua nâng cao quyền lực của mỗi quốc gia và rút ngắn khoảng chênh lệch về quyền lực với những quốc gia mạnh hơn.
Điều này cũng có nghĩa là một quốc gia có vị trí càng cao trong hệ thống thì giảm thiêu được các đe dọa về an ninh. Khác với chủ nghĩa tân hiện thực tập trung phân tích hệ thông quốc tế trong việc phân tích nguyên nhân các quốc gia tranh giành quyền lực, chủ nghĩa hiện thực cô điền nhân mạnh hành vi của con người chịu ảnh hưởng của sự tư lợi riêng. Nói cách khác, lý thuyết này cho rằng chính bản chất ích kỷ của con người làm họ khao khát quyền lực, dẫn đến các quốc gia và các cá nhân coi trọng lợi ích dưới dạng quyên lực hơn các giá trị khác. Cụ thé hơn, bản chất ích ky, ham muốn quyền lực của con người là nguyên nhân gây ra chiến tranh xảy ra giữa các quốc gia, đặc biệt là cá nhân các nhà lãnh đạo.
Theo Hans Morgenthaus - một trong những học giả chủ chốt của chủ nghĩa 10 hiện thực cô điện — viết trong cuốn sách “Chính trị giữa các quốc gia: Cuộc dau tranh vì quyền lực và hòa bình” cho rằng “chinh trị, giống như xã hội nói chung, bị chỉ phối bởi các quy luật khách quan bat nguồn từ bản chất con người”t. Trong cuỗn sách “Giới thiệu về Quan hệ Quốc tẻ: Lý thuyết và Phương pháp tiếp can” của Robert Jackson và Georg Sorensen cũng đẻ cập quan điềm như sau “đặc trung của con người là quan tâm đến phúc lợi của chính họ trong các mỗi quan hệ cạnh tranh với nhau. Họ mong muon duoc ngôi vào vi trí lãnh đạo. Họ không muốn bị lợi dụng.
Do đó, họ cỗ gang dé có "lợi thể” trong quan hệ với những người khác — ké cá quan hệ quốc tế với các quóc gia khác "2, Như vậy, cấp độ phân tích cá nhân trong chính trị quốc tế là yếu tổ trọng tâm trong chủ nghĩa hiện thực cô điền. Có thê rút ra nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện thực cô điền chính là trong môi trường vô chính phủ, các quốc gia không bị kiêm chế do thiêu trật tự, thiểu quyền lực trung tâm, vì vậy các cá nhân được tự do thê hiện bản chất của mình. Và đây là cơ sở để khóa luận phân tích các điều chinh trong chính sách đối ngoại của Tông thống Donald Trump đôi với khu vực Trung Đông. Ảnh hưởng của địa - chính trị trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Đề có thẻ phân tích sự tác động của địa - chính trị đến quá trình hoạch định chính sách đối ngoại, khái niệm và sự ra đời của thuật ngữ này cần tìm hiểu dau tiên.
Trong tác phâm "Địa lý chính trị” (Politische Geographic) của nhà địa lý học người Đức Friedrich Ratzel được xuất bản năm 1897 đã cho ra đời khái niệm mới về quan hệ giữa địa lý và chính trị. Dù vay Ratzel đã không sử dụng thuật ngữ này trong các bài viết của mình. Theo ông, địa hình lãnh thô là yếu tô ảnh hưởng tới sự phát triển của nhà nước được thé hiện về mặt chính trị “Mhà nước trong tất cả các giai đoạn phát triển với tư cách là một sinh vật đều phải đổi mặt với sự cần thiết phải duy trì mới liên hệ với địa hình và do đó chúng nên được nghiên cứu từ quan điểm địa lý. Như đã chỉ ra trong dén tộc học và lịch sứ, một nhà nước phát triển trên cơ sở không gian - liên hợp và hợp nhất ngày càng nhiều - và khai thác từ nó ngày càng nhiều năng lượng.
Morgenthau, Politics among nations: The struggle for power and peace, Alfred A. Knopf, New York, 1956, p.4 2 Robert Jackson & Georg Sorensen, Introduction to International Relations: Theories and Approaches (fifth edition), Oxtord University Press, New York, 2013, p. đó, một nhà nước bao gồm không gian, được duy trì và sinh động bởi không gian này, va nén được quan lý, mô tả và do lường thông qua địa lý. Một trạng thai được mô tả trong một loạt các hiện tượng, trong dé nguyên tắc mở rộng là nồi bật nhat’?.
Tiếp đó, năm 1901, Friedrich Ratzel có dé cập bảy quy luật thuộc khái niệm “Nha nước hữu co” trong tác phầm “Khong gian sinh tôn” (Living Space). Day là khái niệm được ông tạo ra với góc nhìn mới vẻ không gian sống, cụ thé là dé tồn tai, các nhà nước cũng như các sinh vật tồn tại khác phải đấu tranh nhăm giành lay không gian. Raztel cũng vi “Không gian” (Raum) là sợi dây liên kết chặt chẽ giữa chính trị với nha nước. Vì không gian là một nguôn lực của quyền lực chính trị và cũng là một sức mạnh chính trị, điểm then chốt làm cho sức mạnh bảnh trướng của một quốc gia phụ thuộc vào môi quan hệ không gian đó'.
Do đó, quan hệ của chính trị và nhà nước như một “sinh var vật chất sóng, bắt rẻ trong đất ”Š. Về quy luật banh trướng của một quốc gia với quá trình mở rộng và thu hẹp không gian được Ratzel cho rằng giống với quá trình tự nhiên của một sinh vật sống: sinh ra, lớn lên và qua đời. Theo đó, quá trình về vòng đời nội tại của một quốc gia được cụ thê hóa qua bảy quy luật sau: 7hứ nhất, điện tích của một nhà nước gia tăng liên quan đến nên văn hóa và lịch sử của nó. 7hứ hai, gia tăng din số cùng với sự lớn mạnh trong các lĩnh vực tư tưởng.
sản xuất, hoạt động thương mại là các biểu hiện của sự phát triển của các quốc gia. Thit ba, sự phát triên của một nha nước hữu cơ diễn ra trước khi sát nhập các thành viên nhỏ hơn vào một tông thẻ. Đồng thời mỗi quan hệ của dân cư đối với đất đai trở nên ngày càng gần gũi hơn. Thứ tir, biên giới là phạm vi bên ria của một nhà nước, là công cụ mở đường cho sự tăng trưởng của nhà nước cũng như là pháo đài bảo vệ cho nhà nước.
Biên giới cũng liền quan đến tất cả mọi sự chuyên đôi các tổ chức hữu cơ của nhà nước. Thứ năm, trong quá trình phát triển, các quốc gia luôn tiến hành mở rộng lãnh thô đề xác lập các vị thế có giá trị về phương điện chính trị. 7hứ sáu, động lực đầu tiên dẫn đến sự mở rộng không gian của các quốc gia đến với họ từ các nhân tô bên ngoài. Thứ bảy, 3” Alexander Dugin, (29/03/2019).
Friedrich Ratzel: The State as a Physical Organism. Nhận từ 4 Kasperson, Roger E., and Minghi, Julian V., eds, The Structure of Political Geography, Aldine Publishing Company, Chicago, 1969, p, 20-28 5 Alexander Dugin. Friedrich Ratzel: The State as a Physical Organism. Nhận từ xu hướng chung tiễn tới sát nhập và hợp nhất là được chuyên từ nước nọ sang nước kia và tiếp tục tăng lên về cường độ.
Trong đó, Friedrich Ratzel đã làm nỗi bật quy luật số bốn với nội dung liên quan tới vai trò của biên giới “Biển giới là một bộ phận bên ria của một quốc gia, là công cụ mở đường cho sự tăng trưởng của nhà nước cũng như là pháo đài bảo vệ cho nhà nước. Biên giới cũng liên quan đến tat cả mọi sự chuyển đổi các tô chức hữu cơ của nhà nude’. Phát triển luận thuyết của Friedrich Ratzel, năm 1899, khái niệm “Địa — chính trị” (Geopolitics) đã được phân tích và định nghĩa trong tác pham “Nha nước như một cơ thé sóng” (The State as a Physical Organism) của nhà chính trị gia Rudolf Kjellen. Theo định nghĩa của Rudolf Kjellen “Dia chính trị là lý thuyết về quốc gia với tư cách là một cơ thẻ địa lý hoặc mot hiện tượng trong không gian, tức là với tu cách dat dai, lãnh thổ, khu vực hoặc đặc biệt nhất là một dat nước '?.
Rudolf Kjellen đã nêu Reich, Volk, Haushalt, Gesellschaft và Regierung là nam khái niệm cốt lõi trong lý thuyết địa ~ chính trị. Trong đó, Reich là một khái niệm lãnh thé liên kết giữa không gian sống (Lebensraum) với hình dạng quân sự chiến lược: Volk là một quan niệm liên quan tới dan tộc của nhà nước; Haushalt là giải pháp tự lực cánh sinh của một quốc gia dựa vào đất đai: Gesellschaft là phương diện xã hội của một t6 chức thuộc quốc gia và sự hap dẫn văn hóa, Kjellén anthropomorphizing là mỗi liên kết giữa các quốc gia. và Regicrung là hình thức phối hợp của chính phủ và quân đội. Theo quan điểm của Rudolf Kjellen quyền lực và không gian là hai van đề được chú trọng bởi quan hệ nội tại, đân tộc và không gian.
Vì vậy, có thể thấy một quốc gia để hùng mạnh thì phải có sự là “cố kết nội tại”, "ý chí tâm lý dan tộc” cũng như phát triển thêm “không gian sinh ton’. Dựa trên thuyết “Địa — chính try” từ luận thuyết của Friedrich Ratzel và Rudolf Kjellen, tướng Đức Quốc xã Kalf Haushofer đã van dụng vào kế hoạch, chính sách “ Tran Khánh, Bàn vẻ các luận thuyết liên quan đến địa chiên lược, Tạp chi Khoa học xã hội Việt Nam, số 7, 2019, tr.