Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Nguyễn Ái Quốc là một bộ phận trọng tâm trong hệ thống khoa học xã hội tại Việt Nam. Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc phản ánh sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, đồng thời kết tinh truyền thống dân tộc và tri thức thời đại. Giai đoạn 1911–1930 là thời kỳ diễn ra bước chuyển biến bản lề trong nhận thức và thế giới quan của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc thuộc địa và con đường giải phóng dân tộc.

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Triết học của tác giả Ngô Thị Tuyết Nhung (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2020, do PGS.TS Trần Thị Hạnh hướng dẫn) xác định rõ mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Phân tích và làm rõ sự chuyển biến trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911–1930, từ đó đưa ra nhận xét về giá trị, ý nghĩa đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích bối cảnh và những tiền đề hình thành tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911–1930.
    2. Phân tích sự chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1911–1930 về hai nội dung chính: vấn đề dân tộc thuộc địa và cách mạng giải phóng dân tộc.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1911–1930.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung khảo cứu các văn bản, bài báo, tham luận và tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1911–1930 được in trong Hồ Chí Minh toàn tập (Tập I, II, III), do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2000.

Cơ sở lý luận và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp việc kế thừa các công trình nghiên cứu lịch sử tư tưởng đã công bố ở Việt Nam.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu văn bản học (khảo sát trực tiếp các tài liệu lưu trữ, bài viết chính trị, tác phẩm lý luận).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp.
  • Phương pháp so sánh lịch sử.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch.
  • Phương pháp lịch sử – cụ thể kết hợp phương pháp logic.

Nguồn ngữ liệu phục vụ nghiên cứu chủ yếu là các văn kiện trong Hồ Chí Minh toàn tập (tập I, II, III), các văn kiện của Quốc tế Cộng sản, các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin cùng các tài liệu khảo cứu lịch sử, chuyên khảo triết học của các nhà nghiên cứu trong nước (Trần Văn Giàu, Song Thành, Phan Ngọc Liên...).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG I: Điều kiện, tiền đề cho sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930

Chương 1 làm rõ bối cảnh lịch sử – xã hội và các tiền đề tư tưởng trực tiếp thúc đẩy quá trình nhận thức của Nguyễn Ái Quốc:

  • Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XX:
    • Bối cảnh quốc tế: Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền đế quốc chủ nghĩa (Anh, Pháp, Đức, Mỹ), hoàn thành việc phân chia thuộc địa thế giới, tạo ra mâu thuẫn sâu sắc giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc.
    • Bối cảnh Việt Nam: Thực dân Pháp hoàn thành việc xâm lược (1858–1883) và tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa. Xã hội phong kiến truyền thống bị phá vỡ cấu trúc "tứ dân" (sĩ, nông, công, thương), hình thành kết cấu giai cấp mới gồm địa chủ phong kiến, nông dân, công nhân, tư sản và tiểu tư sản. Chính sách "chia để trị" (chia thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) cùng chính sách độc quyền kinh tế, ngu dân và hai cuộc cải cách giáo dục (1906, 1917–1929) đẩy nhân dân vào tình trạng bị bóc lột nặng nề.
    • Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước: Phong trào Cần Vương thất bại cùng sự chấm dứt của khởi nghĩa Hương Khê (1896) đánh dấu sự bế tắc của hệ tư tưởng phong kiến. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX (xu hướng bạo động của Phan Bội Châu qua phong trào Đông Du, xu hướng cải cách ôn hòa của Phan Châu Trinh, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền) đều lần lượt thất bại do thiếu một giai cấp tiên tiến và hệ thống lý luận khoa học dẫn đường.
  • Tiền đề tư tưởng:
    • Quan niệm dân tộc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam: Phát triển liên tục từ ý thức tự chủ thời Lý Bí (quốc hiệu Vạn Xuân, thế kỷ VI), ý chí độc lập trong Chiếu dời đô (1010), tuyên bố chủ quyền gắn với cương vực trong Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), tư tưởng gắn dân tộc với lợi ích cộng đồng trong Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), sự hoàn thiện các yếu tố quốc gia dân tộc (lãnh thổ, văn hiến, phong tục, lịch sử) trong Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), cho đến bước chuyển sang khái niệm "quốc dân" ở đầu thế kỷ XX của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.
    • Quan điểm về giai cấp vô sản và dân tộc thuộc địa của chủ nghĩa Mác – Lênin: Quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về quy luật phát triển xã hội, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và mối quan hệ giữa đấu tranh giai cấp với giải phóng dân tộc; lý luận của V.I. Lênin trong thời đại đế quốc chủ nghĩa về quyền tự quyết của các dân tộc, sự gắn kết mật thiết giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa qua khẩu hiệu "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại".
  • Hành trình khảo sát thực tiễn và bước ngoặt lý luận của Nguyễn Ái Quốc:
    • Ra đi tìm đường cứu nước (1911): Nguyễn Tất Thành chọn hướng đi sang phương Tây, hòa mình vào cuộc sống lao động của giai cấp công nhân tại các hải cảng, làm nhiều nghề chân tay, học tập văn hóa và ngoại ngữ (Anh, Pháp) để tìm hiểu bản chất của các nước tư bản.
    • Tiếp cận chủ nghĩa Lênin (1920): Sau khi gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam (8 điểm) tới Hội nghị Versailles (1919), mùa thu năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đăng trên báo L'Humanité. Tại Đại hội Tua (tháng 12/1920), Người bỏ phiếu gia nhập Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, chuyển dứt khoát từ lập trường yêu nước sang lập trường cộng sản.
    • Chuẩn bị tổ chức và thành lập Đảng: Thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925) với cơ cấu 5 cấp (tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ, huyện bộ, chi bộ) để huấn luyện cán bộ lý luận; chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) tại Hương Cảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930.
Giai đoạn / Mốc thời gian Sự kiện thực tiễn chủ yếu Chuyển biến trong tư tưởng
Trước năm 1911 Sống tại quê hương, tiếp thu Nho học, Quốc học và tư tưởng canh tân. Nhận thức sâu sắc nỗi đau mất nước, nhận ra hạn chế của các sĩ phu phong kiến và tư sản.
1911 – 1917 Rời bến cảng Nhà Rồng, lao động chân tay qua nhiều nước châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Nhận thấy ở đâu nhân dân lao động cũng bị bóc lột, chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung.
1919 Gửi Yêu sách của nhân dân An Nam (8 điểm) đến Hội nghị Versailles. Đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân thuộc địa; thức tỉnh phong trào yêu nước.
Tháng 7 – 12/1920 Đọc Sơ thảo Luận cương của Lênin; dự Đại hội Tua, bỏ phiếu lập Đảng Cộng sản Pháp. Tìm ra con đường giải phóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản; trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
1925 – 1930 Sáng lập Hội VN Cách mạng Thanh niên (1925); hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930). Hoàn thiện tư tưởng về đảng tiên phong, khối liên minh công nông và đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam.

CHƯƠNG II: Sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 về một số nội dung

Chương 2 tập trung phân tích sự vận động nội dung tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc ở hai khía cạnh học thuật trọng yếu:

  • Sự chuyển biến tư tưởng về quan niệm "dân tộc thuộc địa":
    • Mở rộng không gian và chủ thể dân tộc: Khái niệm dân tộc thuộc địa trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc không bó hẹp trong phạm vi người An Nam hay người Đông Dương mà được mở rộng ra toàn bộ các dân tộc bị áp bức trên thế giới (người bản xứ ở Madagascar, Algérie, Ấn Độ, Triều Tiên, các cộng đồng người da đen, da vàng). Dù khác biệt về ngôn ngữ, địa lý và trình độ phát triển kinh tế – xã hội, họ đều có chung thân phận bị áp bức, bị tước đoạt độc lập và tư liệu sản xuất.
    • Vạch trần bản chất áp bức văn hóa và nhân quyền: Tác giả phân tích các tác phẩm báo chí, tác phẩm Đông Dương (1923–1924) và Bản án chế độ thực dân Pháp (1925). Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ chủ nghĩa thực dân đã chà đạp nền văn minh lâu đời, phong tục tập quán và đạo đức truyền thống của người bản xứ; dùng rượu cồn, thuốc phiện để đần độn hóa nhân dân; thực thi chính sách "chia để trị" hòng làm nguội tắt tình đoàn kết đồng bào. Dân tộc thuộc địa bị tước đoạt toàn bộ quyền con người, quyền bình đẳng cá nhân và quyền tự quyết.
  • Tư tưởng về mối quan hệ giữa "người bản xứ" và "người thực dân":
    • Bản chất bạo lực và "quyền của kẻ mạnh": Nguyễn Ái Quốc khẳng định mối quan hệ giữa người thực dân và người bản xứ trước hết là mối quan hệ giữa kẻ đi xâm lược và dân tộc bị xâm lược, thiết lập dựa trên bạo lực. Chủ nghĩa tư bản thực dân nắm độc quyền quyền lực chính trị và công cụ thống trị để tổ chức lại xã hội thuộc địa phục vụ việc vơ vét kinh tế.
    • Sự chuyển hóa sang quan hệ giai cấp: Sự bóc lột tư bản thực dân đã tạo ra hai giai cấp vô sản tại xứ thuộc địa: vô sản công nghiệp và vô sản nông nghiệp. Mối quan hệ giữa thực dân và bản xứ vì vậy mang bản chất kép: vừa là mâu thuẫn dân tộc sâu sắc, vừa là quan hệ đối kháng giữa giai cấp tư sản áp bức và giai cấp vô sản bị tước đoạt mọi tư liệu sản xuất.
    • Sự tha hóa của công lý thuộc địa: Ở các nước thuộc địa, công lý bị bóp méo nhằm bảo vệ quyền lợi tối thượng của người Âu thực dân; người bản xứ chỉ được xem như "vật liệu biết nói", bị cưỡng bức lao dịch, đóng sưu thuế nặng nề và làm bia đỡ đạn trong các cuộc chiến tranh đế quốc.
Nội dung phản ánh Dân bản xứ tại thuộc địa (An Nam, Đông Dương) Người thực dân / Dân chính quốc
Quyền chính trị & pháp lý Bị tước đoạt quyền tự do, hội họp, đi lại; bị giam giữ không qua xét xử; chịu "công lý thuộc địa". Nắm trọn quyền lực cai trị, hưởng quyền tự do tuyệt đối, đứng trên luật pháp bản xứ.
Vị thế kinh tế Bị tước đoạt tư liệu sản xuất; gánh chịu sưu cao thuế nặng, tạp dịch; trở thành vô sản công/nông nghiệp. Độc quyền tài nguyên, thương nghiệp cảng biển; thu lợi nhuận kếch xù từ khai thác thuộc địa.
Văn hóa & Đời sống Bị đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện; phong tục tập quán truyền thống bị xâm hại, đồng hóa. Nhân danh "khai hóa văn minh" để bóc lột; được bảo trợ phân phối độc quyền hàng hóa và thuốc phiện.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận rút ra các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc phân tích văn bản:

  1. Làm sáng tỏ quy luật chuyển biến tư tưởng: Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911–1930 tuân theo logic khách quan: khởi đầu từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, trải qua khảo sát thực tiễn đời sống công nhân và các dân tộc thuộc địa trên thế giới, tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin qua Luận cương năm 1920, và phát triển thành đường lối cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng vô sản.
  2. Làm rõ tính sáng tạo trong lý luận về dân tộc và giai cấp: Khóa luận chỉ ra rằng Nguyễn Ái Quốc không rập khuôn lý luận giai cấp của các nước phương Tây mà xuất phát từ thực tiễn thuộc địa: nhận diện đúng kẻ thù, khẳng định "chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước" (chủ nghĩa dân tộc chân chính), đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong mối liên hệ khăng khít và bình đẳng với cách mạng vô sản ở chính quốc.
  3. Đóng góp về mặt học thuật: Khóa luận cung cấp một công trình nghiên cứu chuyên biệt từ góc độ Triết học và Lịch sử tư tưởng, hệ thống hóa các văn bản trong ba tập đầu của Hồ Chí Minh toàn tập để luận giải các khái niệm "dân tộc thuộc địa", "mối quan hệ thực dân – bản xứ", phục vụ nghiên cứu lý luận chính trị và lịch sử tư tưởng Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong mốc thời gian 1911–1930 và chủ yếu dựa trên các văn bản đã in trong Hồ Chí Minh toàn tập (Tập I, II, III xuất bản năm 2000). Đề tài chưa mở rộng khảo sát các văn bản tiếng Pháp gốc lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ hải ngoại hoặc các tài liệu giai đoạn sau năm 1930.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự vận động và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các giai đoạn tiếp theo (1930–1945 và 1945–1969), cũng như so sánh tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc với các nhà lý luận phi thực dân hóa khác ở châu Á và châu Phi trong cùng thời kỳ lịch sử.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chính trị học và Lịch sử Việt Nam cận hiện đại.
  • Phục vụ công tác giảng dạy, học tập học phần "Lịch sử tư tưởng Việt Nam", "Tư tưởng Hồ Chí Minh", "Triết học Mác – Lênin".
  • Phần khảo cứu về các tiền đề tư tưởng dân tộc truyền thống (từ Lý Bí, Lý Thường Kiệt đến Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu) và phần phân tích tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp trong Chương 2 là nguồn tư liệu phân tích văn bản học hữu ích cho các nghiên cứu chuyên sâu về lý luận thuộc địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận chỉ ra Nguyễn Tất Thành có sự khác biệt như thế nào so với các bậc tiền bối khi ra đi tìm đường cứu nước năm 1911?
Tác giả phân tích Nguyễn Tất Thành khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám nhưng nhận thấy những hạn chế trong phương pháp của họ (Phan Bội Châu "đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau" khi dựa vào Nhật; Phan Châu Trinh "xin giặc rủ lòng thương" qua cải lương; Hoàng Hoa Thám còn nặng cốt cách phong kiến). Người chọn hướng sang phương Tây, đi tàu buôn quan sát thế giới, tự đặt mình vào đời sống giai cấp công nhân lao động chân tay, tích lũy tri thức văn hóa phương Tây để tìm kiếm con đường giải phóng thực chất.

2. Sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lênin có tác động bước ngoặt ra sao đến Nguyễn Ái Quốc?
Luận cương gồm 12 điểm của Lênin (được Nguyễn Ái Quốc đọc tháng 7/1920 trên báo L'Humanité) đã giải đáp dứt khoát con đường cứu nước của Việt Nam. Luận cương cung cấp phương pháp luận duy vật và thế giới quan giai cấp để phân biệt quyền lợi giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc áp bức, khẳng định quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa và xác lập mối liên minh chiến đấu giữa giai cấp vô sản chính quốc với các dân tộc thuộc địa.

3. Khái niệm "dân tộc thuộc địa" trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc được định vị gồm những ai?
Nguyễn Ái Quốc xác định dân tộc thuộc địa bao gồm toàn bộ quần chúng bị áp bức, bóc lột ở các xứ thuộc địa khắp châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương (cả người da vàng và người da đen), không phân biệt tôn giáo hay tầng lớp xã hội. Dân tộc thuộc địa là những người bị tước đoạt độc lập, chủ quyền, tư liệu sản xuất và bị chủ nghĩa thực dân chà đạp các giá trị văn hóa, nhân phẩm.

4. Tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925) được tác giả phân tích với cơ cấu và vai trò gì?
Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội năm 1925 với tính chất là tổ chức chuẩn bị tiền trạm, đào tạo cán bộ theo chủ nghĩa Mác – Lênin chứ chưa phải một đảng chính thức. Hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ 5 cấp: tổng bộ, xứ (kỳ) bộ, tỉnh bộ, huyện bộ và chi bộ; mở các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và cử cán bộ đi học tại Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và Trường Quân chính Hoàng Phố (Trung Quốc).

5. Bản chất mối quan hệ giữa "người bản xứ" và "người thực dân" được luận giải thế nào trong khóa luận?
Mối quan hệ này mang bản chất kép: trước hết là quan hệ bạo lực giữa kẻ đi xâm lược và nhân dân bị chinh phục (kẻ áp bức và người bị áp bức); đồng thời dưới góc độ kinh tế – xã hội, việc tước đoạt tư liệu sản xuất của thực dân đã biến quan hệ này thành quan hệ giai cấp đối kháng giữa giai cấp tư sản thống trị và hai bộ phận vô sản thuộc địa (vô sản công nghiệp và vô sản nông nghiệp).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Tuyết Nhung đã làm rõ quá trình chuyển biến có tính quy luật trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 đến năm 1930. Bằng phương pháp nghiên cứu văn bản học kết hợp lịch sử và logic, công trình chứng minh bước phát triển tất yếu từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin và sự hình thành con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định giá trị bền vững và tính sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tiến trình lịch sử tư tưởng dân tộc.