Quá Trình Chuyển Biến Tư Tưởng Của Nguyễn Ái Quốc Từ Năm 1911 Đến 1930

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành triết học phân tích quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930, làm rõ sự hình thành tư tưởng cách mạng.

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

68
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của khóa luận

0.7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

0.8. Kết cấu khóa luận

1. CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƢ TƢỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC GIAI ĐOẠN 1911-1930

1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XX

1.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị thế giới đầu thế kỷ XX

1.1.2. Chuyển biến chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam

1.1.3. Khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

1.2. Tiền đề cho sự ra đời và chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930

1.2.1. Quan niệm dân tộc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

1.2.2. Quan điểm về giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới của chủ nghĩa Mác Lênin

1.2.3. Nguyễn Ái Quốc và một số tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930

1.2.4. Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước

1.2.5. Nguyễn Ái Quốc tiếp cận chủ nghĩa Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản

1.3. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: SỰ CHUYỂN BIẾN TƢ TƢỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC GIAI ĐOẠN 1911-1930 VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG

2.1. Sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về dân tộc thuộc địa

2.1.1. Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về quan niệm “dân tộc thuộc địa”

2.1.2. Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về mối quan hệ giữa “người bản xứ” và “người thực dân”

2.2. Sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng giải phóng dân tộc

2.2.1. Nguyễn Ái Quốc xem xét vấn đề cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ với cách mạng thế giới

2.2.2. Nội dung tư tưởng về mục tiêu, tính chất và các yếu tố của cách mạng Việt Nam

2.3. Giá trị của quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam

2.4. Kết luận chương II

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Điều kiện kinh tế chính trị xã hội thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XX

Giai đoạn 1911-1930 là thời kỳ đầy biến động với sự chuyển biến mạnh mẽ của tư tưởng Nguyễn Ái Quốc. Bối cảnh thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XX đã tạo nên những điều kiện khách quan cho sự hình thành và phát triển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Trên thế giới, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc, dẫn đến sự phân chia thuộc địa và mâu thuẫn giữa các dân tộc. Ở Việt Nam, sự xâm lược của thực dân Pháp đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế, chính trị và xã hội, tạo ra khủng hoảng về đường lối cứu nước. Những biến động này là tiền đề quan trọng cho sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc.

1.1. Điều kiện kinh tế chính trị thế giới đầu thế kỷ XX

Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc, với sự cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc như Anh, Pháp, Đức, Mỹ. Sự xâm lược thuộc địa đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức và dân tộc áp bức. Đồng thời, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và văn hóa phương Tây cũng tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Nam.

1.2. Chuyển biến chính trị kinh tế xã hội Việt Nam

Việt Nam dưới sự đô hộ của thực dân Pháp đã trải qua những thay đổi lớn về kinh tế, chính trị và xã hội. Pháp áp đặt chính sách “chia để trị”, chia cắt Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu dần chuyển sang nền kinh tế thuộc địa – tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự phân hóa giai cấp phức tạp. Những biến động này đã tạo nên khủng hoảng về đường lối cứu nước, đòi hỏi một lý luận mới để giải quyết vấn đề dân tộc.

II. Sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 1930

Giai đoạn 1911-1930 đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, từ tư tưởng yêu nước truyền thống đến việc tiếp cận và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin. Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ vấn đề dân tộc thuộc địa và mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Sự chuyển biến này không chỉ phản ánh logic phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam mà còn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của nước ta.

2.1. Tư tưởng về dân tộc thuộc địa

Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức sâu sắc về vấn đề dân tộc thuộc địa, đặc biệt là mối quan hệ giữa người bản xứ và người thực dân. Ông khẳng định rằng, chỉ có đấu tranh giành độc lập dân tộc mới giải phóng được nhân dân khỏi ách áp bức. Tư tưởng này đã trở thành nền tảng cho các phong trào cách mạng sau này.

2.2. Tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc

Nguyễn Ái Quốc đã xem xét vấn đề cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ với cách mạng thế giới. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp đấu tranh dân tộc với đấu tranh giai cấp, đồng thời vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tư tưởng này đã mở ra con đường mới cho sự nghiệp cách mạng của nước ta.

III. Giá trị và ý nghĩa của quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc

Quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 có ý nghĩa lịch sử to lớn, không chỉ đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam mà còn đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta. Sự chuyển biến này đã góp phần làm sáng tỏ con đường cách mạng Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

3.1. Ý nghĩa lý luận

Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đã góp phần làm phong phú thêm lý luận cách mạng Việt Nam, đặc biệt là việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Đây là cơ sở lý luận quan trọng cho sự ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Những tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đã trở thành kim chỉ nam cho các phong trào cách mạng Việt Nam, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc đến xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc không chỉ có giá trị lịch sử mà còn tiếp tục soi đường cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành triết học quá trình chuyển biến tư tưởng nguyễn ái quốc giai đoạn 1911 1930

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của bài nghiên cứu được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết. 6 NỘI DUNG CHƢƠNG I: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƢ TƢỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC GIAI ĐOẠN 1911-1930 1. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XX 1. Điều kiện kinh tế, chính trị thế giới đầu thế kỷ XX Về kinh tế, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền sang chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, đế quốc, tiêu biểu là Anh, Pháp, Đức, Mỹ.

Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các nước phương tây đã tăng cường tiến hành các cuộc xâm lược thuộc địa và “miếng bánh thế giới đã bị phân chia xong”. Sự xâm lược thuộc địa của các nước tư bản đã làm nảy sinh mây thuẫn dân tộc giữa dân tộc áp bức và dân tộc bị áp bức. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, văn hóa, tư tưởng của các quốc gia phương Tây đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, cũng dẫn đến những tác động tiêu cực.

Đồng thời, nó không thể biện hộ cho bản chất bóc lột và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Các quốc gia phương Đông trực tiếp chịu sự đe dọa và xâm lược của các nước đế quốc phương Tây. Một số quốc gia chịu sự ảnh hưởng của mô hình nhà nước tập quyền chuyên chế của nền văn minh Trung Hoa như Triết Tiên, Nhật bản, Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao với các hình thức khác nhau và dần rơi vào bế tắc, khủng hoảng. Ở các nước phương Đông, mô hình kinh tế dựa trên nền nông nghiệp lúa nước theo phương thức tổ chức sản xuất dựa trên sự kết hợp giữa đơn vị kinh tế hộ gia đình và cộng đồng công xã nông thôn.

Mặc dù thủ công nghiệp và thương nghiệp ra đời sớm và phát triển, tuy nhiên nó không tạo sự thay đổi mô hình phát triển, bởi bị cản trở do các chính sách của nhà 7 nước phong kiến như “trọng nông ức thương”, “nông vi bản, thương vi mạt”, “bế quan tỏa cảng”. Cơ cấu xã hội điển hình của các quốc gia phương Đông gồm các giai cấp, tầng lớp: vua chúa, quý tộc, quan lại, nông dân, nông nô, trí thức chủ yếu là nho sĩ, cao tăng, thiển sư, thợ thủ công, thương nhân. Sự xâm lược của các nước phương Tây đã khiến các quốc gia phương Đông có nhiều thay đổi và dần tạo ra những mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mầm mống của một cơ cấu xã hội mới, kiến trúc thượng tầng mới. Chuyển biến chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam Nửa cuối thế kỷ XIX, nước Pháp nhanh chóng bước vào giai đoạn phát triển chủ nghĩa đế quốc và thành công trong việc hình thành một hệ thống thuộc địa lớn thứ hai sau Anh.

Trong 25 năm từ 1858 đến 1883, Pháp xâm lược Việt Nam và bắt tay vào khai thác thuộc địa với mục đích tối cao là biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn trọng yếu, mang lại lợi nhuận cao nhất cho chính quốc. Trong quá trình xâm lược, Pháp sử dụng nhiều chính sách trong đó có “chia để trị”. Việt Nam bị chia cắt thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ về hình thức vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến, Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm quyền cũng Lào và Campuchia. Hệ thống chính quyền dưới tỉnh là phủ, huyện, xã trên lãnh thổ Việt Nam đề do người Việt quản lý, với các chức tri phut, tri huyện, tri châu, chánh tổng, xã trưởng, lý trưởng.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), với tư cách là một nước thắng trận, Pháp ra sức khai thác thuộc địa, chủ yếu ở Đông Dương và Châu Phi. Pháp chủ trương tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt vào cai trị. Các chính sách của Pháp nhằm lôi kéo một bộ phận nhỏ trong giới thượng lưu người Việt Nam gồm một số nhà tư sản và địa 8 chủ lớn vì quyền lợi cá nhân đứng về phía Pháp để chống lại nhân dân ta, làm cho tình hình chính trị và sự phân hóa trong xã hội ở Việt Nam càng thêm gay gắt. Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thời phong kiến của Việt Nam dưới sự tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa do Pháp áp đặt vào dần chuyển sang nền kinh tế thuộc địa – tư bản chủ nghĩa, có sự phát triển nhanh chóng và tạo ra một cơ cấu kinh tế mất cân đối dẫn đến sự phân hóa không triệt để của cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội.

Từ cuối thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam xuất hiện một bộ phận tư sản, quan cai trị người Pháp. Kết cấu xã hội Việt Nam theo tứ dân: sĩ, nông, công, thương bị xóa bỏ, thay vào đó là sự phân chia giai cấp dựa vào quyền lợi kinh tế và quan hệ dựa trên kiến trúc thượng tầng theo phương Tây, gốm các giai cấp cơ bản: giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân, giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Đầu thế kỷ XX, hệ thống giáo dục Việt Nam tồn tại ba hình thức khác nhau tương ứng với Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Ở Nam Kỳ, chữ Hán hầu như bãi bỏ, đa số các tổng xã đều có trường tiểu học Pháp – Việt dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ.

Ở Bắc Kỳ và nhất là Trung Kỳ, các trường lớp dạy chữ Hán vẫn tồn tại khắp nơi, trường dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ rất ít. Do ba chế dộ giáo dục khác nhau khiến người Pháp gặp khó khăn trong việc thống nhất chính sách cai trị nên Pháp đã thực hiện các cuộc cải cách giáo dục. Năm 1906, cải cách giáo dục lần thứ nhất do toàn quyền P.Beau khởi xướng và chỉ đạo, giáo dục Pháp – Việt và giáo dục Nho giáo cùng tồn tại. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai được chính quyền thuộc địa tiến hành từ năm 1917 đến năm 1929 với mục đích xóa bỏ nền giáo dục Nho giáo, xác lập và củng cố nền giáo dục Việt Nam do người Pháp thóng nhất, tổ chức và nhằm phục vụ mục đích nô dịch của người Pháp.

9 Văn hóa, nghệ thuật, các trào lưu tư tưởng, thành tựu khoa học và kỹ thuật phương Tây du nhập vào Việt Nam thông qua sách báo trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Á – Âu, Đông – Tây, có sự giao thoa, đan xen và tồn tại đồng thời giữa những yếu tố văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại lai. Hoạt động báo chí, văn hóa, các cơ sở sản xuất, mua bán tài liệu, sách báo phát triển và phổ biễn trên cả nước. Nhiều ấn phẩm văn hóa tiến bộ đã góp phần phản ánh được nguyện vọng tự do, dân chủ, nhân đạo, yêu nước của nhân dân, được đông đảo thanh niên hưởng ứng. trở thành động lực quan trọng của cao trào đấu tranh đòi tự do dân chủ những năm 20 – 30 của thế kỷ XX.

Khủng hoảng về đƣờng lối cứu nƣớc ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước đã nổ ra nhưng không mang lại kết quả. Năm 1885, phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi khởi xướng được sự hưởng ứng của cả ba miền đất nước, sỹ phu khắp nơi nổi dậy giúp vua chống Pháp nhằm khôi phục lại nền độc lập. Trong đó, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng. Khởi nghĩa Phan Đình Phùng kéo dài 10 năm nhưng cuối cùng cũng đi đến thất bại.

Khởi nghĩa Hương Khê 1896 thất bại đã kết thúc giai đoạn cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến. Trào lưu dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX nước ta chịu ảnh hưởng của phong trào vận động cải cách duy tân của thế giới và khu vực, lãnh đạo là một bộ phận tiểu tư sản yêu nước, trí thức tiến bộ. Phan Bội Châu chủ trương chống đế quốc, giành độc lập dân tộc mà trước mắt là mục tiêu chống phong kiến. Ông khởi xướng phong trào Đông Du, chủ trương dựa vào nhật, cầu viện Nhật để chống thực dân Pháp.

Trái với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chủ trương chống đế quốc, giành tự do, dân chủ bằng phương pháp ôn hòa, dựa vào Pháp để chống phong kiến. Các phong trào duy tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp khởi 10 xướng nhằm đổi mới chính trị và văn hóa đất nước để đi tới độc lập tự chủ. Phong trào này chủ trương “ỷ Pháp, cầu tiến bộ”, dựa vào sự giúp đỡ của đế quốc Pháp nhằm thực hiện “dân quyền”, “dân chủ” ở nước ta. Phương pháp tiến hành cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lãnh đạo đã phân hóa phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam thành hai xu hướng: bạo động mang tính chất truyền thống và cải cách tư sản mới mẻ.

Trên cơ sở đó, nhiều phong trào cứu nước mang sắc thái, hình thức hoạt động đa dạng nổ ra, tiêu biểu là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can và Nguyễn Quyền khởi xướng với mục tiêu truyền bá nền văn hóa mới để thực hiện chủ nghĩa yêu nước mới. Tuy nhiên các phong trào này đều lần lượt đi đến thất bại. Có thể thấy, tuy các phong trào yêu nước có xu hướng tư sản đều bộc lộ những hạn chế, sự bế tắc, không phát triển được và đi đến thất bại, nhưng chúng đã góp phần cổ vũ, thức tỉnh tinh thần yêu nước trong nhân dân, nhất là thanh niên, trí thức, học sinh. Như vậy, đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước sự khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước, các phong trào yêu nước đều thiếu giai cấp tiên tiến lãnh đạo, tập hợp, thiếu lý luận tiên tiến dẫn đường.

Do vậy, cần một lý luận mới, một bộ phận lãnh đạo có thể giải quyết được các vấn đề trước mắt và lâu dài. Những đặc điểm và chuyển biến trong chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam và thế giới là những điều kiện khách quan cho sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930. Tiền đề cho sự ra đời và chuyển biến tƣ tƣởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 1. Quan niệm dân tộc trong lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam Thời phong kiến, dân được hiểu theo nghĩa thường dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 là một nghiên cứu sâu sắc về hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, tiền thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong giai đoạn từ năm 1911 đến 1930. Bài viết làm nổi bật những yếu tố lịch sử, văn hóa và chính trị đã định hình tư tưởng cách mạng của Người, từ những trải nghiệm ở nước ngoài đến sự hình thành con đường cứu nước. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai muốn hiểu rõ hơn về quá trình phát triển tư tưởng của một trong những nhân vật lịch sử vĩ đại nhất của Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về tư tưởng Hồ Chí Minh, bạn có thể tham khảo Luận án tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước và vận dụng trong tình hình hiện nay, nghiên cứu sâu về cách Người nhìn nhận và kiểm soát quyền lực. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV cung cấp cái nhìn toàn diện về sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với tư tưởng Việt Nam, một yếu tố quan trọng trong bối cảnh lịch sử của Nguyễn Ái Quốc. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ triết học quan niệm của một số nhà tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX về Phật giáo sẽ giúp bạn hiểu thêm về bối cảnh tư tưởng đa dạng của Việt Nam trong giai đoạn này.