Chương 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN VỀ DÂN 1.1 Khái lược về một số tác phẩm của Nho giáo tiên Tần. Trước hết, cần phải nói lại thêm rằng, Nho giáo tiên Tần (hay còn gọi là Nho giáo Khổng – Mạnh, Nho giáo nguyên thủy) là giai đoạn đầu trong lịch sử hình thành và phát triển Nho giáo Trung Quốc. Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử là những nhà tư tưởng tiêu biểu của Nho giáo tiền Tần. Nghiên cứu tư tưởng của những đại biểu này cũng như Nho giáo tiên Tần (và cả Nho giáo nói chung) chủ yếu dựa vào các tác phẩm Luận ngữ, Mạnh Tử và Tuân Tử (trong đó sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử được là những tác phẩm kinh điển của Nho gia).
Luận ngữ là cuốn sách do các học trò của Khổng tử ghi chép lại và bàn luận những lời nói, lời dạy của Khổng Tử với học trò (do vậy mà có nhiều nhà nghiên cứu coi cuốn sách này là tác phẩm “tản văn chư tử”). Sách Luận ngữ gồm 20 thiên, tổng cộng 192 chương. Luận ngữ là nguồn tư liệu phong phú về cuộc đời và học thuyết của Khổng Tử, là bộ sách giáo dục sớm nhất ở Trung Quốc (được chính thức dung làm sách giáo khoa từ thời nhà Đường). Sách này có tầm ảnh hưởng sâu sắc, sâu rộng và lâu dài đối với xã hội và con người Trung Quốc và nhiều nước đồng văn, trong đó có Việt Nam.
Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, mỗi thiên lại chia thành phần thượng và phần hạ (đời sau gọi là chương cú thượng và chương cú hạ). Vì vậy, toàn bộ cuốn sách gồm 14 chương cú. Trong Mạnh Tử liệt truyện, Tư Mã Thiên khẳng định rằng, sách Mạnh Tử do Mạnh Tử viết. Như ông nói: “Lui về cùng với Vạn Chương chi đồ tự Thi, Thư, thuật ý Khổng Tử, viết Mạnh Tử thất thiên”.
Và dù rằng, trong Mạnh Tử liệt truyện, Tư Mã Thiên nói Mạnh Tử là học trò của Tử Tư (cháu nội Khổng Tử) và như lời của chính Mạnh Tử: “Tôi -9- z không được làm môn đồ Khổng Tử, tôi tự học theo người” nhưng sách Mạnh Tử là sự tiếp thu những tinh hoa trong sách Luận ngữ, là sự phát triển tư tưởng của Khổng Tử (do vậy mà đời sau gọi ông là Á Thánh). Cũng như sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đến đời sống tinh thần, đời sống chính trị, phong tục, tập quán của người dân Trung Quốc và các nước đồng văn với Trung Quốc và chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử nói riêng và Nho giáo tiên Tần nói chung, có thể thông qua, tham khảo them 2 cuốn sách khác là Đại học và Trung dung. Theo lời thuật của Chu Hy (trong Tứ thư tập chú), Đại học và Trung dung là hai thiên trong bộ Lễ ký được Chu Hy tách ra thành hai cuốn sách riêng biệt, bỏ công chú giải (chú) và gom nhặt (tập) ý kiến chú giải của các nhà Nho khác, đặc biệt là những chú giải của hai anh em họ Trình (Trình Hạo và Trình Di) [40, tr.
Đại học là do Tăng Tử (Tăng Sâm – học trò của Khổng Tử) viết. Sách này gồm 1 chương kinh văn ghi lại lời của Khổng Tử và 10 chương truyện là lời Tăng Tử giải thích kinh văn (giải thích tư tưởng Khổng Tử). Theo Chu Hy, sách Đại học là “cửa vào đức của người mới học”. Trung dung là do Tử Tư (còn gọi là Khổng Cấp – cháu nội của Khổng Tử ) viết.
Cụ thể là, phần đầu của cuốn sách này gồm 20 chương kinh văn (chép lại lời của Khổng Tử) và phần sau (gồm 13 chương) chép lại những chú giải, giải thích lời kinh văn ( lời của Khổng Tử). Mặt khác, có một điểm dễ nhận thấy rằng, giữa sách Trung dung và sách Mạnh Tử có nhiều điểm tương đồng, thậm chí có nhiều đoạn trong hai sách ấy hoàn toàn giống nhau. Điều đó cho thấy, giữa Tử Tư và Mạnh Tử, tư tưởng của hai ông có ảnh hưởng với nhau. Sách Trung dung được xem là “tâm pháp truyền thụ của Khổng môn”, vì rằng, ngoài ý nghĩa xâu xa, Tử Tư đã tiếp tục giải thích và phát tiển tư tưởng của Khổng Tử là khuyên người ta “doãn chấp, quyết trung” (Thành -10- z thực dốc lòng giữ trung đạo), “chấp lưỡng dụng trung” (cân nhắc hai đầu mối mà dùng chỗ trung), tức là theo ông, mọi người nên tránh chỗ cực đoan, không thái quá và cũng không bất cập (vì đều xa rời trung), mà nên luôn giữ trạng thái hài hòa, cân bằng, vừa phải (trung dung).
Đại học và Trung dung chiếm địa vị rất cao, sánh ngang với Luận ngữ, Mạnh Tử, hợp thành bộ Tứ thư. Dù vậy, như trên đã trình bày, xét về nội dung và nguồn gốc ra đời, những tư tưởng trong Đại học và Trung dung về cơ bản là khá “đồng, hợp” với tư tưởng trong sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử. Do vậy, trong luận văn này, chóng t«i chủ yếu dựa vào sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử và ngoài ra là sách Tuân Tử để trình bày tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân.2 Phạm trù dân trong Nho giáo tiên Tần. Trong các sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử và sách Tuân Tử (những cuốn sách được xem là kinh điển chủ yếu, thể hiện những nội dung chủ yếu của Nho giáo tiên Tần) thì cho thấy, phạm trù dân (dân là ai, gồm những tầng lớp nào) trong những cuốn sách này, chủ yếu được các nhà Nho đặt trong mối quan hệ đối lập với tầng lớp khác - tầng lớp trị dân (gồm vua, quan).
Cơ sở và căn cứ chủ yếu để các nhà Nho tiên Tần phân biệt và chỉ ra sự khác nhau giữa hai tầng lớp này là do sự khác nhau chủ yếu về đạo đức và tài trí, về địa vị và vai trò xã hội của các tầng lớp này. Có thể khái quát một số nội dung cụ thể trong quan niệm (phạm trù) về dân như sau: Thứ nhất, theo các nhà Nho tiên Tần, phạm trù dân bao gồm nhiều giai tầng khác nhau và về cơ bản, họ có cùng địa vị kinh tế, vai trò xã hội, là bộ phận nhiều nhất trong dân cư, đối lập với giai cấp thống trị (hay tầng lớp cầm quyền, cai trị gồm nhà vua và đội ngũ quan lại các cấp). Thứ hai, theo quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, dân là những người bị sai khiến, bị điều khiển. Như trong sách Luận ngữ, Khổng tử đã từng nói, đối với dân thì không nên giảng giải những điều vi diệu, cao siêu mà nên dạy -11- z những điều để dễ sai khiến họ [85, tr.
Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử luôn khẳng định, địa vị xã hội của người dân là những người nô lệ, bị trị, họ luôn chịu sự sai khiến, cai trị của tầng lớp thống trị, do vậy, họ là tầng lớp đối lập với giai cấp thống trị. Và với ý nghĩa này, trong các tác phẩm Luận ngữ, Mạnh Tử và Tuân Tử dân có nhiều cách gọi khác nhau. Vì dân được các nhà Nho tiên Tần xem là những người không có hoặc hèn kém về đạo đức, về trí tuệ, lại là những người bị sai khiến, bị cai trị, cho nên, dân được gọi là kẻ "tiểu nhân" và đối lập với người quân tử. Chữ "Tiểu nhân" - ý chỉ người dân, được các nhà Nho tiên Tần nhắc đến trên ba mươi lần, trong đó sách Luận ngữ chiếm nhiều hơn cả (khoảng hai mươi lần).
Cách gọi này chiếm tỷ lệ cao hơn so với cách gọi khác nhằm chỉ “dân” là người bị điều khiển, bị thống trị. Trong cách nhìn và quan niệm của các của các nhà Nho tiên Tần, dân với tên gọi là kẻ tiểu nhân là hạng người không có địa vị và nhất là không có vai trò và sức mạnh to lớn như người quân tử. Như trong sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: "Đức hạnh của người quân tử (người trị dân) như gió, mà đức hạnh của dân như cỏ. Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống" [46, tr.
"Tiểu nhân" với tư cách là người bị trị không bao hàm "nho tiểu nhân", tức là những kẻ sĩ thiếu tư cách đạo đức tuy họ có tri thức, có tài nghệ. Muốn trở thành "nho quân tử", phải có đủ cả hai tiêu chí đó (đạo đức và tài trí). Bởi vậy mà Khổng tử từng bảo Tử Hạ: "Anh nên làm nhà nho quân tử, không nên làm nhà nho tiểu nhân"[46, tr. Trong sách Luận ngữ, có đôi chỗ, theo Khổng Tử, sở dĩ dân là người bị sai khiến, người bị điều khiển vì họ là kẻ "hạ ngu".
"Hạ ngu" là chỉ tầng lớp người hèn kém về trí tuệ, là hạng người không có tài trí, họ là những người bất tiếu, đối lập với những người hiền, người trí, người quân tử. Sử dụng thuật ngữ "hạ ngu" để chỉ người dân, đã cho thấy, Khổng Tử rất khinh miệt tầng lớp dân đen, nô lệ trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ. Những kẻ "hạ ngu", "khốn nhi bất học" và dẫu có học chăng nữa cũng không thể hiểu được đạo lý, -12- z cho nên Khổng Tử nói: “những điều vi diệu cao siêu thì không nên giảng giải cho họ”. Khổng Tử còn cho rằng, dân- kẻ hạ ngu là đối lập với bậc thượng trí (là hạng người mà theo ông, sinh ra không cần học cũng đã biết).
Sự đối lập này, như Khổng Tử đã nói trong sách Luận ngữ: "chỉ có bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không thay đổi" [46, tr. Còn trong sách Mạnh Tử, ông gọi dân là kẻ "lao lực", tức là những người lao động chân tay, là lực lượng sản xuất ra hầu hết của cải để duy trì sự tồn tại của xã hội, của mỗi người và cho cả tầng lớp thống trị. Theo Mạnh Tử, dân bao gồm ba hạng người: công, nông và thương, có trách nhiệm và nghĩa vụ nuôi dưỡng người, phải chăm sóc kẻ “lao tâm” và phục vụ người cai trị. Kẻ "lao lực" trong quan niệm của Mạnh Tử, cũng giống như Khổng Tử, thực chất là những người thiếu đạo đức và trí tuệ, thuộc tứ dân bách tính tầm thường, trong đó chủ yếu là người nông dân của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ.
Theo sự lý giải của Mạnh Tử thì, trong xã hội bao giỡ cũng "có người làm việc bằng tâm trí; có kẻ làm việc bằng tay chân. Người làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng; kẻ làm việc bằng tay chân thì chịu quyền điều khiển, sai khiến. Kẻ chịu quyền điều khiển có phận sự cung cấp cho tầng lớp cai trị dân chúng được dân chúng phụng dưỡng. Đó là lẽ thông thường trong thiên hạ vậy.