Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học "Tư tưởng của Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng" được nghiên cứu sinh Nguyễn Khắc Sâm thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62.02, bảo vệ năm 2017) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Bá Lượng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phan Bội Châu (1867 – 1940) là nhà yêu nước, nhà tư tưởng, danh nhân văn hóa tiêu biểu trong lịch sử cận đại Việt Nam, đóng vai trò gạch nối giữa tư tưởng văn hóa truyền thống và hiện đại. Di sản của ông đã được tiếp cận rộng rãi từ các góc độ sử học, văn học, văn hóa và triết học chính trị. Tuy nhiên, trong lĩnh vực tôn giáo học và triết học tôn giáo, tư tưởng của ông chưa được nghiên cứu một cách chuyên biệt, toàn diện và có hệ thống. Các nhận định trước đây còn tản mạn hoặc thiếu thống nhất, chủ yếu tập trung vào hoạt động chính trị – cách mạng giai đoạn trước năm 1925 mà chưa chú trọng đúng mức tới sự biến chuyển tư tưởng trong 15 năm ông bị thực dân Pháp giam lỏng tại Huế (1925 – 1940). Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và thực hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo, việc hệ thống hóa và đánh giá khách quan tư tưởng của Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng là một yêu cầu cấp thiết cả về mặt học thuật lẫn thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và khái lược tiến trình hình thành, phát triển cùng các nội dung cơ bản trong tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng; từ đó chỉ ra giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng này đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ chính):
    1. Phân tích làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và khái lược tiến trình hình thành, phát triển tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu.
    2. Phân tích làm rõ một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng (quan niệm về Trời, Đạo trời, quỷ thần; đoàn kết lương – giáo và tự do tín ngưỡng; quan niệm về Phật giáo; phân biệt tôn giáo chân chính với hành vi lợi dụng tôn giáo; phê phán mê tín dị đoan; khẳng định giá trị đạo đức, văn hóa của tôn giáo).
    3. Bước đầu nêu lên nhận xét, đánh giá về giá trị, hạn chế của tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời rút ra ý nghĩa đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng của Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các trước tác, văn bản trong bộ Phan Bội Châu toàn tập (do nhà nghiên cứu Chương Thâu sưu tầm, biên soạn, Nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2000 cùng các bản in năm 1990, 2012) và các nguồn tư liệu lịch sử, hồi ký, nghiên cứu liên quan đến cuộc đời, hoạt động của Phan Bội Châu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật một khối lượng lớn tư liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, phân định rõ các nhóm công trình theo tiến trình thời gian và phương diện tiếp cận:

Các nhóm nghiên cứu trước đây

  1. Nhóm tư liệu văn bản và tiểu sử: Bộ Phan Bội Châu toàn tập (10 tập năm 1990, tái bản bổ sung 5.000 trang năm 2000 và tập bổ di năm 2012) của Chương Thâu; các khảo cứu của Tôn Quang Phiệt, Phạm Trọng Điềm (Phan Bội Châu niên biểu, 1957), Thế Nguyên (1956), Lê Đình Hà (2007), Vũ Ngọc Khánh (2012); các hội thảo khoa học vào các năm 1997, 2005, 2010, 2015.
  2. Nhóm nghiên cứu của học giả quốc tế: Công trình của G. Boudarel (Pháp, 1969); luận án của Jorgen Unsselt (Đức, 1978/1991: Chủng diệt dự ngôn); nghiên cứu của David G. Marr (Hoa Kỳ, 1971); các công trình của Shiraishi Masaya (1993, 2000, 2012), Imai Akio (2006), Tanaka Tsutomu (2010), Đào Thu Vân (2014) tại Nhật Bản.
  3. Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng: Các công trình triết học, chính trị của Trần Văn Giàu (1993), Nguyễn Văn Hòa (2000), Lê Ngọc Thông (2001), Cao Xuân Long và Doãn Chính (2010), Trần Anh Tuấn (2015).
  4. Nhóm bài viết liên quan trực tiếp đến tôn giáo, tín ngưỡng:
    • Giai đoạn trước 1986: Lê Sỹ Thắng (1967) bàn về quan hệ giữa người với trời, quỷ thần; Đặng Huy Vận (1967) bàn về phong trào vận động đồng bào Công giáo.
    • Giai đoạn sau 1986: Phạm Hồng Tung (1999) phân tích khối đại đoàn kết lương – giáo; Nguyễn Đức Sự (2000) khảo sát quan niệm thần linh của sĩ phu duy tân; Lê Ngọc Thông (2001) và Lê Tuấn Đạt (2010) nêu các nét phác thảo về quan điểm tôn giáo; Nguyễn Quang Hưng (2013) nghiên cứu văn hóa tôn giáo; Lê Thị Lan (2013) bàn về trách nhiệm xã hội của Nho giáo ở Phan Bội Châu.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn chỉ đề cập vấn đề tôn giáo một cách tản mạn trong các bài báo ngắn, hoặc gắn chặt với động cơ chính trị trước năm 1925. Chưa có một công trình nào nghiên cứu chỉnh thể, giải thích cội nguồn lý luận, bối cảnh thực tiễn, phân tích toàn diện nội dung tư tưởng (bao gồm cả quan niệm về Trời, Phật giáo, Đạo giáo, Công giáo, mê tín dị đoan) và đánh giá sự phát triển tư tưởng của Phan Bội Châu trong cả hai giai đoạn hoạt động cách mạng và an trí ở Huế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng. Khung phân tích đặt tư tưởng Phan Bội Châu vào bối cảnh lịch sử cụ thể cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX, tuân thủ nguyên tắc lịch sử – cụ thể theo chỉ dẫn của V.I. Lênin: đánh giá cống hiến lịch sử dựa trên những gì nhân vật mang lại mới hơn so với các bậc tiền bối.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp thống nhất lịch sử và logic.
  • Phương pháp hệ thống – cấu trúc.
  • Phương pháp phân tích văn bản, tổng hợp, so sánh đối chiếu.
  • Phương pháp hệ thống hóa tư liệu thứ cấp.
  • Phương pháp liên ngành: Triết học – Lịch sử, Triết học – Tôn giáo học, Triết học – Văn hóa học.

Nguồn dữ liệu và tư liệu

  • Nguồn tư liệu gốc: 11 tập Phan Bội Châu toàn tập (chứa các tác phẩm chữ Hán, chữ Nôm và Quốc ngữ như Tạp ký, Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Tân Việt Nam, Thiên hồ! Đế hồ!, Phan Bội Châu niên biểu, Xã hội chủ nghĩa, Chu Dịch, Khổng học đăng...).
  • Nguồn tư liệu bổ trợ: Các văn kiện lịch sử, hồi ký của các đồng chí cùng thời, các công trình khảo cứu văn bản học và các bài nghiên cứu chuyên đề trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Tôn giáo, Triết học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình trong và ngoài nước viết về con người, sự nghiệp và tư tưởng của Phan Bội Châu. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành hai mảng lớn: các công trình tiếp cận đa ngành (sử học, văn học, chính trị học, quân sự học) và các công trình tiếp cận trực tiếp vấn đề tôn giáo (chia theo mốc trước và sau năm 1986).

Từ việc tổng thuật, chương 1 xác định 5 vấn đề khoa học then chốt cần giải quyết:

  1. Xâu chuỗi, khảo sát và hệ thống hóa tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu như một bộ phận hữu cơ trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của ông.
  2. Khắc phục sự phiến diện khi chỉ tập trung vào giai đoạn trước năm 1925; nghiên cứu sâu sắc giai đoạn 15 năm an trí ở Huế (1925 – 1940) khi ông hoàn thành các trước tác triết học lớn.
  3. Vận dụng góc nhìn đổi mới, khách quan để đánh giá lại những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo mà trước đây bị xem nhẹ hoặc định kiến.
  4. Làm rõ từng nội dung cụ thể: quan niệm về thế giới siêu nhiên, tinh thần khoan dung, tự do tôn giáo, phê phán hủ tục mê tín và thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của thực dân.
  5. Đánh giá giá trị, hạn chế lịch sử và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc thực thi chính sách tôn giáo hiện nay.

Chương 2. Cơ sở lý luận, thực tiễn và khái lược cho sự hình thành, phát triển tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu

Chương 2 phân tích các nguồn gốc hình thành tư tưởng của Phan Bội Châu qua các bình diện lý luận và thực tiễn:

1. Cơ sở lý luận

  • Kế thừa Nho, Phật, Đạo: Nho giáo là nền tảng ban đầu, rèn luyện ý thức trách nhiệm "kinh bang tế thế", song ông loại bỏ tính chất khoa cử hư văn để giữ lấy cái cốt lõi là đạo đức làm người; Đạo gia mang lại cách nhìn uyển chuyển về quy luật tự nhiên, tinh thần tự tại; Phật giáo đem lại tinh thần từ bi, bác ái, bình đẳng và ý thức chấn hưng văn hóa phương Đông.
  • Tiếp thu Tân văn, Tân thư: Phan Bội Châu tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, thuyết tiến hóa của Darwin, tư tưởng tự do, bình đẳng của Rousseau, Montesquieu, Voltaire thông qua các tác phẩm dịch thuật chữ Hán của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng. Lương Khải Siêu đã trực tiếp tác động đến nhận thức của ông về ba yếu tố tự lực: "dân trí, dân khí, nhân tài".
  • Kế thừa truyền thống khoan dung văn hóa và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam: Truyền thống cố kết cộng đồng, tình nghĩa đồng bào ("lá lành đùm lá rách", "bầu ơi thương lấy bí cùng") là nền tảng để ông xây dựng đường lối hòa hợp tôn giáo.
  • Tiệm cận chủ nghĩa Mác – Lênin: Ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga được ông ví như "trận gió xuân", "tia thái dương" sưởi ấm đêm tối thuộc địa, thể hiện qua tác phẩm Xã hội chủ nghĩa.

2. Cơ sở thực tiễn và tiến trình phát triển

  • Bối cảnh quốc tế và khu vực: Phong trào Duy Tân Minh Trị ở Nhật Bản (đặc biệt là chiến thắng Nga – Nhật 1904 – 1905) và phong trào cải cách ở Trung Quốc đã thúc đẩy Phan Bội Châu xuất dương tìm đường cứu nước.
  • Bối cảnh trong nước: Chính sách thực dân dùng tôn giáo phục vụ cai trị, gây chia rẽ lương – giáo, cùng sự trỗi dậy của các phong trào tôn giáo (Chấn hưng Phật giáo, sự ra đời của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo).
  • Tiến trình phát triển (2 giai đoạn):
    • Giai đoạn trước năm 1925: Tư tưởng tôn giáo gắn liền với thực tiễn vận động cách mạng, phục vụ mục tiêu tối thượng là tập hợp lực lượng đánh đuổi thực dân Pháp, thành lập Hội Giáo đồ yêu nước, đưa thanh niên Công giáo tham gia Đông Du.
    • Giai đoạn từ năm 1925 đến năm 1940: Thời kỳ bị giam lỏng ở Huế, ông chuyển sang nghiên cứu, tổng kết, phản tư sâu sắc về triết học tôn giáo, biên soạn các tác phẩm lớn (Khổng học đăng, Chu Dịch, Phật học đăng), chú trọng giá trị đạo đức, văn hóa và sự tương đồng giữa các tôn giáo.

Chương 3. Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng của Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng

Chương 3 là phần trọng tâm của luận án, phân tích chi tiết các bình diện tư tưởng tôn giáo của Phan Bội Châu:

Nội dung trọng tâm Luận điểm và biểu hiện cụ thể trong trước tác của Phan Bội Châu
Quan niệm về Trời, Đạo trời, Quỷ thần Từng bước giải thiêng thế giới siêu nhiên; phê phán mê tín thần quyền; khẳng định con người là chủ thể quyết định vận mệnh lịch sử; coi Đạo trời là quy luật vận động tự nhiên và công lý xã hội.
Đoàn kết Lương – Giáo và Tự do tín ngưỡng Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân ("ai theo Khổng cứ theo Khổng, ai theo Phật cứ theo Phật, ai theo Da-tô cứ theo Da-tô"); không phân biệt lương – giáo trước nhiệm vụ cứu quốc; thành lập Hội Giáo đồ yêu nước.
Quan niệm về Phật giáo Đề cao tinh thần "đại từ đại bi", "chúng sinh bình đẳng"; gắn triết lý Phật giáo với tinh thần cứu khổ, giải phóng dân tộc; tham gia cổ vũ phong trào Chấn hưng Phật giáo tại miền Trung.
Giá trị xã hội và văn hóa của tôn giáo Tìm thấy điểm chung tối thượng của các tôn giáo ở chữ "Nhân" (Phật từ bi, Chúa yêu thương tha nhân, Nho nhân ái); khẳng định tôn giáo chân chính có chức năng duy trì đạo đức, hướng thiện con người.
Phê phán mê tín và vạch trần thủ đoạn lợi dụng tôn giáo Tố cáo thực dân Pháp mượn danh tôn giáo để thực hiện âm mưu xâm lược (Thiên hồ! Đế hồ!); phân biệt rạch ròi giữa giáo dân chân chính và bọn đội lốt tôn giáo làm tay sai; bài trừ hủ tục, dị đoan làm suy yếu dân khí.
  • Về quan niệm siêu nhiên: Phan Bội Châu hạ thấp vai trò của thần thánh, phủ nhận thuyết định mệnh, nâng cao năng lực chủ quan của con người.
  • Về đoàn kết tôn giáo: Ông chủ trương đặt lợi ích dân tộc lên trên sự khác biệt giáo lý: "không nên bàn tôn giáo nào phải hay trái, mà chỉ nên bàn nước mình mạnh hay yếu". Trong các tổ chức do ông lãnh đạo, nhiều trí thức và chức sắc Công giáo yêu nước như linh mục Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thần Đồng, Đậu Quang Lĩnh, Mai Lão Bạng đã tham gia tích cực.
  • Về Phật giáo: Ông coi giáo lý đạo Phật là nguồn trợ lực tinh thần to lớn để khơi dậy lòng nhân ái, sự hy sinh và bản sắc văn hóa Á Đông chống lại sự xâm lăng văn hóa nô dịch.

Chương 4. Giá trị, hạn chế của tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng và ý nghĩa của nó đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay

1. Một số giá trị và hạn chế

  • Giá trị:
    • Thể hiện chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và tinh thần khoan dung tôn giáo tiến bộ vượt bậc so với giới Nho sĩ phong kiến đương thời.
    • Phá bỏ định kiến giai cấp và tôn giáo hẹp hòi, đặt nền móng cho tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu độc lập.
    • Khẳng định các giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của tôn giáo đối với việc duy trì trật tự và thuần phong mỹ tục xã hội.
    • Cung cấp vũ khí tư tưởng vạch trần âm mưu "chia để trị", lợi dụng tôn giáo của chủ nghĩa thực dân.
  • Hạn chế:
    • Do hạn chế của thế giới quan duy tâm thời đại, đôi lúc ông còn coi tôn giáo là cứu cánh đạo đức trừu tượng, chưa thấy được nguồn gốc kinh tế – xã hội sâu xa của tôn giáo theo quan điểm duy vật lịch sử.
    • Chưa xây dựng được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, độc lập về tôn giáo học mà các quan điểm chủ yếu gắn liền với yêu cầu tập hợp lực lượng chính trị nhất thời.

2. Ý nghĩa đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

  • Sự kế thừa và phát triển ở Chủ tịch Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần đoàn kết lương – giáo, khoan dung tôn giáo của Phan Bội Châu, nâng lên thành đường lối chiến lược đại đoàn kết dân tộc, kết hợp tinh hoa tôn giáo với chủ nghĩa Mác – Lênin.
  • Ý nghĩa thực tiễn hiện nay:
    • Bài học củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy nguồn lực đạo đức, văn hóa của các tôn giáo trong công cuộc xây dựng đất nước.
    • Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của mọi công dân.
    • Nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh phòng chống các hành vi lợi dụng tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia và phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận:
    • Luận án là công trình chuyên khảo hệ thống hóa một cách toàn diện tư tưởng của Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng từ góc độ lịch sử triết học và tôn giáo học.
    • Làm sáng tỏ nguồn gốc lý luận đa tầng (sự kết hợp Nho – Phật – Đạo truyền thống, tư tưởng Tân thư – Tân văn phương Tây và bước đầu tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin) cũng như điều kiện lịch sử thực tiễn chi phối sự hình thành tư tưởng của ông.
    • Khám phá bước chuyển biến nhận thức sâu sắc trong 15 năm sống tại Huế (1925 – 1940), chứng minh đây là thời kỳ tư tưởng triết học tôn giáo của Phan Bội Châu đạt độ chín về mặt học thuật và phản tư văn hóa.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Đánh giá khách quan, khoa học hai mặt giá trị và hạn chế lịch sử trong quan điểm tôn giáo của Phan Bội Châu.
    • Rút ra những bài học kinh nghiệm và luận cứ khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho việc hoạch định, hoàn thiện và thực thi chính sách tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nguồn tư liệu: Một số tác phẩm chuyên luận về tôn giáo của Phan Bội Châu đã bị thất lạc trong chiến tranh và thời gian, tiêu biểu là tác phẩm Phật học đăng, khiến việc khảo sát toàn vẹn hệ thống thuật ngữ Phật học của ông gặp những giới hạn nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng so sánh quan điểm tôn giáo của Phan Bội Châu với các nhà duy tân cùng thời trong khu vực Đông Á (như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi ở Trung Quốc, Fukuzawa Yukichi ở Nhật Bản).
    • Nghiên cứu sâu hơn dưới góc độ triết học văn hóa và xã hội học tôn giáo về ảnh hưởng cụ thể của các phong trào tôn giáo mới đầu thế kỷ XX (như đạo Cao Đài, Hòa Hảo) đối với nhận thức của Phan Bội Châu trong thời gian an trí tại Huế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ học tập, nghiên cứu các chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS, Lịch sử Triết học), Tôn giáo học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam và Lịch sử Việt Nam cận đại.
  • Đối với giảng viên: Cung cấp nguồn ngữ liệu và hệ thống luận điểm phong phú phục vụ giảng dạy các học phần Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Triết học phương Đông và Tôn giáo học đại cương.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách: Đem lại những luận cứ thực tiễn và bài học lịch sử sâu sắc phục vụ công tác dân vận, tôn giáo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng ở nước ta.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở lý luận chính nào hình thành nên tư tưởng tôn giáo của Phan Bội Châu?

Tư tưởng của Phan Bội Châu được hình thành từ ba nguồn lý luận chủ yếu: sự kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc (chủ nghĩa yêu nước, lòng nhân ái, khoan dung tôn giáo); sự kết hợp các yếu tố tinh hoa của tam giáo Nho – Phật – Đạo; sự tiếp thu luồng tư tưởng mới từ trào lưu "Tân văn, Tân thư" của các nhà cải cách Trung Quốc (Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi) và các nhà khai sáng phương Tây (Rousseau, Voltaire, Montesquieu, Darwin), cùng bước đầu tiếp cận lý tưởng xã hội chủ nghĩa qua Cách mạng Tháng Mười Nga.

2. Quan điểm của Phan Bội Châu về mối quan hệ giữa các tôn giáo khác nhau là gì?

Phan Bội Châu cho rằng dù xuất phát điểm, nghi thức và lý luận có khác nhau, các tôn giáo chân chính đều gặp nhau ở một điểm cốt lõi là chữ "Nhân": lòng từ bi bình đẳng của Đức Phật Thích Ca, tình yêu thương tha nhân của Chúa Giêsu, và đạo nhân nghĩa của Khổng Tử. Vì vậy, ông chủ trương các tôn giáo không nên bài xích lẫn nhau mà cần tôn trọng sự tự do tín ngưỡng và cùng hướng đến mục đích phụng sự con người, bảo vệ độc lập Tổ quốc.

3. Phan Bội Châu đã hiện thực hóa tư tưởng đoàn kết lương – giáo qua những hoạt động nào?

Ông chủ trương xóa bỏ định kiến phân biệt lương – giáo, xem đồng bào theo đạo Thiên Chúa là ruột thịt cùng cảnh ngộ mất nước. Ông đã thành lập Hội Giáo đồ yêu nước, thu hút nhiều linh mục và giáo dân ưu tú tham gia phong trào cứu quốc như linh mục Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thần Đồng, Đậu Quang Lĩnh và chí sĩ Mai Lão Bạng; đồng thời vận động thanh niên Công giáo tham gia phong trào Đông Du sang Nhật Bản học tập.

4. Tiến trình phát triển tư tưởng tôn giáo của Phan Bội Châu chia làm mấy giai đoạn chính?

Tiến trình tư tưởng của ông chia làm hai giai đoạn rõ rệt: Giai đoạn trước năm 1925 (thời kỳ hoạt động thực tiễn cách mạng sôi nổi, tư tưởng tôn giáo chủ yếu phục vụ việc tập hợp lực lượng, đoàn kết lương – giáo chống Pháp) và Giai đoạn 1925 – 1940 (thời kỳ bị giam lỏng tại Bến Ngự - Huế, ông tập trung thời gian trước tác, nghiên cứu sâu về bản chất triết học, đạo đức của Khổng học, Phật học, Đạo học và chiêm nghiệm về đời sống tâm linh xã hội).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Khắc Sâm là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện các quan điểm của Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công trình đã làm rõ các tiền đề lý luận, bối cảnh lịch sử, nội dung cốt lõi và sự chuyển biến tư tưởng qua các thời kỳ hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần lấp đầy khoảng trống học thuật trong lịch sử tư tưởng Việt Nam cận đại mà còn mang lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho việc thực hiện chính sách tôn giáo và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.