lời mở đầu của Mai Quốc Liên (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học) trong cuốn Nguyễn An Ninh — Tác phẩm, “tác phẩm Nguyễn An Ninh, con người Nguyễn An Ninh, phản chiếu cả một giai đoạn đấu tranh bi tráng của cả đất nước, có phần bị mờ nhạt trong chúng ta” [45, tr. Từ đó, tác giả đi đến quan điểm rang việc tìm đọc di sản tư tưởng Nguyễn An Ninh “là việc hết sức cần kíp lúc này của văn hóa, của khoa học xã hội và nhân văn, của chính tri - tư tưởng. Trong công trình Nguyễn An Ninh — Nhà tư tưởng tiêu biểu dau thé kỷ XX ở Nam Bộ (2017), tác giả Phạm Đào Thịnh đã cơ bản tìm hiểu có hệ thống về những quan điểm, tư tưởng của Nguyễn An Ninh về bốn nội dung chủ yếu: triết học, chính trị, văn hóa, khoa học. Nhìn vào bối cảnh của nửa dau thé ki XX ở Việt Nam va thế giới, Pham Đào Thịnh tìm hiểu và phân tích những tiền đề, nội dung hình thành nên tính hệ thống, liên tục của Nguyễn An Ninh về tư tưởng lẫn sự nghiệp cách mạng.
Phạm Đào Thịnh đã định danh Nguyễn An Ninh vào vị trí lịch sử của một trí thức Tây học trẻ tuổi, một nhà cách mạng lớn. Không những thế, Nguyễn An Ninh còn được coi “là nhân vật lịch sử đặc biệt của Nam Bộ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chúng trong giai đoạn lịch sử từ đầu năm 1920 đến năm 1940” [62, tr. Bên cạnh đó, Nguyễn An Ninh được tác giả công trình nghiên cứu này ghi nhận như là “một trong những người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác — Lênin vào Việt Nam.đùng tờ báo La Cloche Félée đề đăng tải bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của C.7] Tu tưởng triết học của Nguyễn An Ninh (2019) được thực hiện bởi nhóm tác giả của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, do Cao Xuân Long chủ biên. Họ đã tập trung trình bày, một số nội dung chủ yếu trong hệ thống tư tưởng của Nguyễn An Ninh như các van đề: bản thé luận, nhận thức luận, phương pháp luận, quan điểm về chính trị - xã hội, v.
Theo đó, những điều kiện biến đổi của thé giới và Việt Nam thé ki XX đã ảnh hưởng tới các tiền đề hình thành nên tư tưởng Nguyễn An Ninh: truyền thống, Nho giáo — Phật giáo — Dao giáo, tư tưởng phương Tay va chủ nghĩa Mác — Lênin. Nhóm biên soạn sách nêu ra quan điểm cho rằng, vì nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, những quan điểm của Nguyễn An Ninh chưa có được sự ảnh hưởng sâu rộng như một xu hướng chủ đạo của phong trào cách mạng Việt Nam thé ki XX. Nghiên cứu của nhóm Cao Xuân Long ghi nhận giá trị tư tưởng của Nguyễn An Ninh nằmở tính hành động, phản ánh những vấn đề của Việt Nam thời đại mới như: nhu cầu xây dựng nền văn hóa mới, giải phóng dân tộc và con người. Tuy nhiên, nghiên cứu của họ đã phân tích hạn chế tư tưởng của Nguyễn An Ninh là mâu thuẫn, quá kỳ vọng vào nhà cầm quyền và Pháp, chưa đánh giá đúng vai trò của nhân dân [Xem thêm: 36, tr.
345 — 346], mang tính cải lương [Xem thêm: 36, tr. Đây là những phân tích không phản ánh đúng với giá trị, thực chất trong tư tưởng, sự nghiệp của Nguyễn An Ninh trong lịch sử Việt Nam đương thời. Nhóm vấn dé thứ hai bao gồm những nghiên cứu về van đề thuộc địa nói chung. Nếu xét theo các hướng nghiên cứu của khoa học xã hội nhân văn (trong đó có triết học), thì vấn đề thuộc địa không chỉ được quan tâm về mặt lịch sử mà còn tồn tại ở ba thái độ phê phán khác nhau.
Đầu tiên, và cũng là phô biến nhất, đó là quan điểm nghiên cứu của những học giả, nhà nghiên cứu khoa học xã hội của Việt Nam. Dù họ tiếp cận vấn đề thuộc địa từ khía cạnh lịch sử, kinh tế, giai cấp xã hội hay giáo dục thì những nhận định chung về di sản thuộc địa là không đổi. Xuất phát từ những nghiên cứu và tìm kiếm các tài liệu lưu trữ của Pháp, họ nêu rõ tình hình Việt Nam thời thuộc địa không ton tại sự cải tiến đồng bộ về hệ thống kinh tế, giáo dục hay tư 10 tưởng, xã hội. Chúng chỉ được tô chức rất manh mún, thụ động dé các lực lượng trong xã hội Việt Nam chỉ được phép tồn tại như là đối tượng bị cai trị bởi chế độ thực dân.
Dù họ ghi nhận những thay đôi cơ bản, nhưng họ hoản toàn không đồng tình đối với bất cứ hậu quả nào của chủ nghĩa thực dân lẫn những gì thuộc về chính quyền thuộc địa. Phan Trọng Báu trong tác phẩm Giáo duc Việt Nam thoi cận dai (2006) đánh giá sự nô dịch trong lĩnh vực giáo dục thuộc địa ở Việt Nam đã tạo nên một nền giáo dục “Pháp hóa”. Qua quá trình nghiên cứu và thống kê số liệu, ông chỉ rõ thay đối trong cách nhận thức của người Pháp — chủ thé tao ra hệ thống giáo dục đối với người Việt từ sau khi chiếm đóng Nam Ki sang tới thé ki XX. Cũng như những cuộc xâm lăng khác ở châu Phi, người Pháp có thái độ coi thường giáo dục Việt Nam đến mức, theo Phan Trọng Báu miêu tả, là đặt ra “tham vọng chi trong ba thế hệ là có thé “Pháp hóa” được nên giáo dục của chúng ta” [6, tr.
Sự tự tin chủ quan này chấm dứt, khi chính thái độ của người Pháp được Phan Trọng Bau ghi lại là thay đổi sang chủ trương “lan dan từng bước” [6, tr. 6] sau hai lần cải cách giáo dục năm 1906 và năm 1917. Cụ thé hơn, tác giả đã xử lý tư liệu dé nêu ra những thay đổi quan trọng xảy ra trong nền giáo dục thuộc địa: sự áp dụng chữ Quốc ngữ, quá trình Latin hóa ngôn ngữ một số dân tộc ở ba miền, những trường cao đăng và trường nghề được thành lập, v. Theo đó, ông cũng làm rõ thực trạng giáo dục bản xứ do thực dân Pháp xây dựng.
Tại Việt Nam cũng như Đông Dương, chính quyền thuộc địa đã xây dựng các cấp đào tạo và gắn liền với việc mở trường học, quy định biên soạn tài liệu lẫn nội dung cho chương trình song ngữ Việt — Pháp ở các môn, chuyên ban, v. Tuy nhiên, nền giáo dục ấy chỉ đáp ứng cơ bản về bộ khung hệ thống đào tạo. Những sự chênh lệch, bắt cập và không hiệu quả đã nảy sinh như: bắt phụ huynh học sinh đóng góp cho trường, trình độ của nhiều giáo viên hoặc học sinh không đáp ứng được, yếu kém trong chính sách giáo dục miền núi, tình trạng bất công trong học đường, v. 11 Với tư cách của một chứng nhân lịch sử Việt Nam thời thuộc địa, học giả Phan Ngọc lựa chọn van dé văn hóa làm trọng tâm cho tác phẩm Swe tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp (2018).
Dé tìm được những gì có thé làm nên quan niệm cũng như bản sắc mới của văn hóa Việt Nam, Phan Ngọc đã nhìn nhận sự phức tạp trong lịch sử quan hệ Việt Nam — Pháp theo góc độ tiếp xúc văn hóa. Ông nhận thấy, văn hóa vẫn còn sự ảnh hưởng trong một thế giới không còn sự tồn tại của chủ nghĩa thực dân, thậm chí nên văn hóa lớn ay đã xuất hiện “van đề giao lưu văn hóa giữa các nền văn hóa khác nhau dé cùng chung sống hòa bình, cùng nhau phát triển hòa bình” [46, tr. Với kết cầu nội dung tám chương, ông đã triển khai sự tìm hiểu Việt Nam và Pháp theo tiến trình lịch sử. Sau ba chương đầu giải quyết việc trình bày, phân tích các tiếp xúc của Việt Nam với các nước phương Tây trước khi thực dân Pháp xâm lăng, Phan Ngoc di sâu vao diễn biến tư tưởng (chương IV) và đôi mới tư tưởng (chương V) của Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945.
Dù cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho thấy nhiều trí thức Nho giáo tham gia, nhưng thất bại của hệ tư tưởng phong kiến là tất yêu: “Họ thừa dũng khí để hy sinh, nhưng thiếu phương pháp luận” [46, tr. Cũng từ đây, Phan Ngọc đã chứng minh quá trình đổi mới tư tưởng đến từ hai tác động: một là từ những văn thân, sĩ phu tham gia và khởi xướng phong trào Đông du (1904 — 1908) và Duy tân (1906 — 1908); hai là những biến đổi của xã hội Việt Nam về sự phổ biến của chữ Quốc ngữ, báo chí, giáo dục, v. tao ra lực lượng trí thức mới của nhà trường Pháp — Việt. Điều đặc biệt mà Phan Ngọc đã chỉ ra là, ngay cả thực dân Pháp cũng không nhận thấy răng, chính những yếu tố mà chính quyền thuộc địa áp đặt tại Việt Nam đã dé sót “tinh thần Pháp” gồm: óc phân tích, óc duy lý và óc phê phán [46, tr.
Đó là ba xu hướng khiến từ những nhà cách mạng đầu thế kỉ XX đến những nhà văn, nhà báo, tư sản dân tộc, trí thức tiêu tư sản sau Chiến tranh thé giới thứ nhất (1914 — 1918) hiểu được cái giá tri nào thực su là của khoa hoc, văn hóa Pháp. Họ đã cùng nhân dân Việt Nam đấu tranh bằng tư tưởng, hành động thể hiện tinh thần yêu nước. iém nghiệm con đường cua chủ nghĩa dân tộc với tư tưởng tiên bộ, 12 dân chủ để cuối cùng xác định giá trị của chủ nghĩa xã hội vào cuối thập niên 20 thé ki XX. Ở công trình Việt Nam thời Pháp đồ hộ (1970), Giáo su Nguyễn Thế Anh đã nghiên cứu chế độ thuộc địa mà người Pháp sử dụng để cai trị Việt Nam một cách tổng quan.
Từ việc xử lí những tài liệu Pháp, tác giả đã nêu rõ những biến chuyển quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, v. Dù vậy, ông cũng khang định răng, nghiên cứu của ông “chưa thé được coi như là một công trình khảo cứu sâu rộng mà mới chỉ coi là một cái nhìn tổng hợp về cái “sự kiện thuộc địa” mà người viết muốn cung hiến cho độc giả” [5, tr. Mục dich cua ông là cố gắng trình bày những nội dung phản ánh tính van dé, tính thực tiễn lịch sử của chế độ thuộc địa trên lãnh thổ Việt Nam — một quốc gia bị thực dân Pháp coi là bộ phận thuộc về Liên bang Đông Dương. Từ mục đích đó, Nguyễn Thế Anh thực hiện công trình của mình để giúp người đọc và các nhà nghiên cứu nam rõ các thay đổi lẫn van đề của mô hình thuộc địa.
Nguyễn Thế Anh chỉ ra rằng, việc tồn tại mâu thuẫn giữa phe Ôn hòa và Bảo thủ trong chế độ thực dân là có tồn tại.