Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Sáng tác một số bài văn vần dạng thức đồng dao hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học" do sinh viên Trần Thị Hiển (Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Đỗ Thị Nga vào tháng 5 năm 2011. Nghiên cứu thuộc lĩnh vực phương pháp dạy học tiểu học, tập trung xây dựng và thử nghiệm phương tiện học tập bổ trợ cho phân môn Tự nhiên và Xã hội giai đoạn lớp 1, 2 và 3.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học, đặc biệt là giai đoạn đầu cấp (lớp 1, lớp 2, lớp 3). Đây là giai đoạn bước ngoặt khi trẻ chuyển hoạt động chủ đạo từ "chơi" ở mầm non sang "học tập" ở trường tiểu học. Trẻ tiểu học có nhận thức cảm tính, tư duy trực quan hình tượng, dễ tiếp nhận những sự vật gần gũi, giàu cảm xúc và gặp nhiều khó khăn khi phải ghi nhớ những khối kiến thức trừu tượng, khô khan. Trong chương trình tiểu học, môn Tự nhiên và Xã hội là một trong ba môn học trọng điểm (cùng với Toán và Tiếng Việt), cung cấp lượng tri thức nền tảng lớn về tự nhiên, xã hội, con người và sức khỏe. Tuy nhiên, khối lượng kiến thức tương đối lớn kết hợp với ngôn ngữ sách giáo khoa mang tính hàn lâm, kênh hình đôi chỗ hạn chế và phần tóm tắt ghi nhớ nặng tính lý thuyết đã tạo nên rào cản nhận thức cho học sinh. Bên cạnh đó, môn học ở giai đoạn này áp dụng hình thức đánh giá bằng nhận xét, giải tỏa áp lực thi cử và mở ra cơ hội áp dụng các phương thức tổ chức dạy học linh hoạt theo định hướng "học mà chơi, chơi mà học".

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là sáng tác một hệ thống ngữ liệu văn vần mang dạng thức đồng dao nhằm hỗ trợ giáo viên tiểu học có thêm công cụ dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, tạo dựng môi trường học tập nhẹ nhàng, vui tươi, tích cực và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả xác định 8 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu tài liệu về tâm sinh lý trẻ em tiểu học và văn học dân gian (đặc biệt là mảng đồng dao) để xác lập cơ sở lý luận.
  2. Phân tích nội dung, chương trình sách giáo khoa môn Tự nhiên và Xã hội để xây dựng cơ sở thực tiễn.
  3. Nghiên cứu các bài học cụ thể trong chương trình Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3; lập danh mục và xác định mục tiêu những bài học có khả năng chuyển hóa thành văn vần.
  4. Biên soạn hệ thống các bài văn vần theo dạng thức đồng dao.
  5. Sưu tầm và xây dựng hệ thống hình ảnh minh họa cho các bài văn vần.
  6. Biên soạn tài liệu hướng dẫn phương pháp sử dụng sản phẩm trong dạy học.
  7. Xây dựng một số kế hoạch dạy học (giáo án) cụ thể có ứng dụng sản phẩm của đề tài.
  8. Tổ chức dạy học thử nghiệm sản phẩm, xin ý kiến đánh giá từ chuyên gia, giáo viên trực tiếp giảng dạy và học sinh tiểu học để thẩm định tính khả thi.

Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học. Đối tượng nghiên cứu là việc sáng tác các bài văn vần dạng thức đồng dao phục vụ dạy học bộ môn này.

Giả thiết nghiên cứu đặt ra: Nếu sáng tác được các bài văn vần dạng thức đồng dao phù hợp với mục đích nghiên cứu thì sẽ cung cấp thêm một phương tiện hỗ trợ hiệu quả cho quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào mục tiêu, nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3, giới hạn trong phạm vi chủ đề Tự nhiên. Địa bàn thử nghiệm sư phạm được tiến hành tại 3 cơ sở giáo dục: Trường Tiểu học Hòa Bình (Quận 1, TP. Hồ Chí Minh), Trường Tiểu học Bế Văn Đàn (Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh) và Trường Tiểu học Suối Nho (Huyện Định Quán, Tỉnh Đồng Nai).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận của khóa luận được thiết lập dựa trên sự giao thoa giữa tâm lý học phát triển, lý luận dạy học tiểu học và nghiên cứu văn học dân gian:

  • Lịch sử nghiên cứu văn vần và đồng dao: Tác giả kế thừa nhận định của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh trong công trình "Thi ca bình dân Việt Nam" về việc cải biên và đặt lời mới cho đồng dao để phù hợp với trẻ em hiện đại; quan điểm của Vũ Ngọc Khánh trong "Trò chơi dân gian Việt Nam" khẳng định tính giáo dục, nhận thức thiên nhiên và giá trị sư phạm của đồng dao; công trình "Tâm lí và sinh lí" của Thế Trường (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 64-66) luận giải cơ chế ghi nhớ của não bộ trước vần điệu, nhạc tính của thơ ca và đề xuất ứng dụng văn vần để chuyển hóa kiến thức khoa học khó nhớ; cùng quan điểm của L. S. Vygotsky (Vugétxki) về quy luật phát triển tâm lý nhận thức từ dưới lên ở trẻ em.
  • Đặc điểm sinh lý học sinh tiểu học: Hệ thần kinh đang trong giai đoạn hoàn thiện; hệ hô hấp chưa phát triển đầy đủ, cơ hoành nằm cao, xương sườn đứng khiến nhịp thở nông và dồn dập. Do đó, học sinh khó đọc các câu văn dài, phức tạp nhưng lại dễ tiếp nhận các câu thơ ngắn, ngắt nhịp nhanh và dồn dập như thể loại đồng dao. Việc tổ chức học tập giảm tải căng thẳng thần kinh giúp ngăn ngừa mệt mỏi trí óc và các bệnh học đường.
  • Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học: Tri giác mang tính tổng thể, đại thể, ít đi vào chi tiết và phụ thuộc vào hành động trực quan; trí tưởng tượng phong phú nhưng thiếu bền vững; chú ý không chủ định chiếm ưu thế tuyệt đối; trí nhớ trực quan hình tượng và ghi nhớ máy móc phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ - logic. Học sinh lớp 1, 2, 3 chưa có kỹ năng tự khái quát hóa hay lập dàn ý để ghi nhớ, đòi hỏi nội dung bài học phải được cô đọng, cụ thể hóa bằng hình tượng quen thuộc.
  • Đặc trưng thể loại văn vần dạng thức đồng dao: Đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em, câu chữ đơn giản, nhịp thơ nhanh, khỏe khoắn, vui tươi, kết cấu phổ biến theo đường tròn khép kín (câu cuối liên kết lặp lại câu đầu). Nghiên cứu kế thừa tính giáo dục tự nhiên, tình cảm, kỹ năng đếm, quan sát của đồng dao cổ truyền, đồng thời loại bỏ các yếu tố tiêu cực trong kho tàng dân gian cũ như nội dung thô tục, yếu tố mê tín hay các trò chơi biến tướng mang tính cờ bạc (đánh đáo, đánh đối).
  • Cơ sở thực tiễn từ chương trình và sách giáo khoa: Chương trình Tự nhiên và Xã hội giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3) tích hợp ba chủ đề: Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên. Cấu trúc bài học trong sách giáo khoa được trình bày qua kênh chữ và kênh hình gói gọn trong 2 trang mở liền kề, với hệ thống ký hiệu quy ước: Kính lúp (Quan sát và trả lời), Dấu chấm hỏi (Liên hệ thực tế và trả lời), Cái kẹo và quả đấm (Trò chơi học tập), Ống nhòm (Thực hành), Bóng điện (Bạn cần biết). Nghiên cứu xác định kênh hình còn thiếu do giới hạn trang in và kênh chữ ở phần Bóng điện (Bạn cần biết) còn nặng tính hàn lâm; từ đó chọn trọng tâm hỗ trợ trực tiếp vào hai phần này.

Tác giả vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu tâm sinh lý học lứa tuổi, chương trình tiểu học và văn học dân gian để xây dựng khung lý thuyết.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát thực tế dạy học phân môn Tự nhiên và Xã hội tại các trường tiểu học.
  • Phương pháp thực hành thâm nhập đối tượng và tạo nguồn tư liệu: Chụp ảnh thực tế, quay phim, khai thác tư liệu hình ảnh từ Internet để minh họa bài học.
  • Phương pháp thống kê toán học và so sánh: Sử dụng trong quá trình đối chiếu, phân tích và xử lý số liệu thử nghiệm sư phạm.
  • Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực tế bằng các bài văn vần và hoạt động dạy học đã thiết kế tại các trường tiểu học thực nghiệm.

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm sách giáo khoa môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 của Nhà xuất bản Giáo dục, tài liệu hướng dẫn giảng dạy chuyên môn, tư liệu văn học dân gian và nguồn tranh ảnh chụp thực địa kết hợp Internet.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học của việc chuyển tải tri thức khoa học thành văn vần cho học sinh tiểu học:

  • Khái quát lịch sử vấn đề: Khẳng định truyền thống dùng văn vần, ca dao, tục ngữ để truyền đạt kinh nghiệm dân gian của người Việt; phân tích quan điểm của các học giả chuyên ngành và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu khi chưa có công trình nào trực tiếp sáng tác văn vần dạng thức đồng dao để phục vụ giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội cấp tiểu học.
  • Phân tích mối quan hệ tương thích giữa đặc điểm sinh lý (hô hấp nông, nhu cầu tiêu hao năng lượng, sự phát triển của vỏ não) và đặc điểm tâm lý (tri giác cảm tính, ghi nhớ máy móc, chú ý không chủ định) của học sinh với cấu trúc nhịp điệu nhanh, dồn dập, giàu nhạc tính của thể loại đồng dao.
  • Xác lập khái niệm văn vần dạng thức đồng dao: Các bài viết mô phỏng phong cách đồng dao (thơ tự do, nhịp ngắn, cấu trúc vòng tròn), có thể có điểm khác biệt so với đồng dao mẫu mực nguyên bản nhưng đảm bảo tính chuẩn xác về mặt tri thức khoa học.
  • Phân tích cấu trúc chương trình Tự nhiên và Xã hội giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3), phân định rõ 3 mạch chủ đề (Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên) và định vị trọng tâm can thiệp vào chủ đề Tự nhiên.
  • Đánh giá hiện trạng sách giáo khoa: Chỉ rõ ưu điểm của định dạng 2 trang mở liền nhau và hạn chế về độ phong phú của kênh hình cùng tính khô khan của phần ghi nhớ (biểu tượng Bóng điện), xác lập căn cứ thực tiễn cho việc biên soạn sản phẩm bổ trợ.

Chương 2: Xây dựng các bài văn vần dạng thức đồng dao

Chương 2 là trọng tâm can thiệp sư phạm của khóa luận, gồm xác định nội dung chuyển thể, sáng tác văn vần và thiết kế các hình thức tổ chức dạy học:

  • Tác giả lập bảng thống kê chi tiết các bài học thuộc chủ đề Tự nhiên trong chương trình lớp 1, 2, 3 có thể chuyển thể thành văn vần, xác định rõ mục tiêu kiến thức và vốn từ cần bồi đắp cho học sinh:
Khối lớp Tên bài học Mục tiêu kiến thức chuyển thành văn vần
Lớp 1 Bài 22: Cây rau Kể tên, nêu ích lợi và các bộ phận chính của cây rau; bồi đắp vốn từ.
Lớp 1 Bài 23: Cây hoa Nhận biết đặc điểm, ích lợi và các bộ phận chính của một số loài hoa quen thuộc.
Lớp 1 Cây gỗ Chỉ rõ rễ, lá, đặc điểm và ích lợi của cây gỗ đối với đời sống.
Lớp 1 Bài 27: Con mèo Nêu tên các bộ phận, đặc điểm cấu tạo ngoài và ích lợi của con mèo.
Lớp 2 Bài 24: Cây sống ở đâu? Nhận biết nơi sống, ích lợi của các loài thực vật trên cạn và dưới nước.
Lớp 2 Loài vật sống ở đâu? Nêu tên, nơi sống, đặc điểm của động vật sống trên cạn, dưới nước, trên không.
Lớp 2 Nhận biết cây cối và con vật Củng cố phân loại, nhận biết hình ảnh, đặc điểm và nơi cư trú của động - thực vật.
Lớp 3 Bài 31: Mặt Trời Nhận biết Mặt Trời hình cầu ("quả bóng lửa khổng lồ"), chiếu sáng và sưởi ấm Trái Đất.
Lớp 3 Bài 32: Mặt Trời và phương hướng Xác định 4 phương chính (Đông, Tây, Nam, Bắc) dựa vào hướng Mặt Trời mọc và lặn.
Lớp 3 Bài 33: Mặt Trăng và các vì sao Nhận biết Mặt Trăng và các vì sao; nhân hóa hình ảnh vũ trụ gần gũi với trẻ em.
Lớp 3 Bài 41: Thân cây Nhận biết các dạng thân cây (thân đứng, thân leo, thân bò, thân gỗ, thân thảo) và chức năng.
Lớp 3 Rễ cây Phân biệt các loại rễ chính (rễ cọc, rễ chùm, rễ phụ, rễ củ) và chức năng của rễ.
Lớp 3 Lá cây Nhận biết cấu tạo, hình dạng và 3 chức năng chính của lá (quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước).
Lớp 3 Hoa Nhận biết chức năng sinh sản, các bộ phận của hoa và ích lợi trong đời sống.
Lớp 3 Quả Nhận diện đặc điểm, các bộ phận của quả (vỏ, thịt, hạt) và chức năng duy trì nòi giống.
Lớp 3 Bài 50: Côn trùng Nhận diện đặc điểm cấu tạo ngoài của sâu bọ, phân biệt côn trùng có ích và có hại.
Lớp 3 Tôm, cua Gọi đúng tên các bộ phận ngoài, đặc điểm vỏ cứng, chân phân đốt, không có xương sống.
Lớp 3 Bài 52: Cá Nhận diện đặc điểm cấu tạo, môi trường sống và tên gọi qua lối chơi chữ đồng âm.
Lớp 3 Thú Nêu đặc điểm chung của loài thú (có lông mao, đẻ con và nuôi con bằng sữa).
  • Tác giả sáng tác hoàn chỉnh khoảng 30 bài văn vần dạng thức đồng dao bám sát nội dung bài học. Đặc trưng nổi bật của các bài văn vần là kết cấu vòng tròn khép kín (câu cuối nối tiếp câu đầu để đọc luân phiên không dứt), sử dụng nhịp điệu dân gian vui nhộn, hình ảnh nhân hóa sinh động, đồng thời đảm bảo tính chính xác của tri thức sinh học - tự nhiên.
  • Xây dựng hướng dẫn chi tiết 6 hình thức tổ chức dạy học và trò chơi học tập ứng dụng các bài văn vần:
    1. Phóng to bài văn vần có hình minh họa dán trong lớp học: Cho học sinh quan sát, đọc diễn cảm ngoài giờ học hoặc giờ ra chơi (ví dụ: bài "Đồng dao về cây rau", bài "Vì sao?", bài "Loài vật sống ở đâu?").
    2. Đọc theo dạng vòng tròn, đọc đuổi, đọc đối đáp giữa các nhóm: Sử dụng nhịp điệu dồn dập để củng cố bài học (ví dụ: bài "Củ su hào", bài "Quả", bài "Tôm sống ở dưới đìa").
    3. Gắn hình ảnh minh họa thích hợp vào câu thơ: Giáo viên cắt rời tranh ảnh và câu thơ, học sinh thảo luận nhóm để ghép nối đúng nội dung và trưng bày sản phẩm (áp dụng cho bài "Khả năng của lá cây", bài "Vè quả", bài "Nghe vẻ nghe ve... loài cá").
    4. Nối câu thơ với hình ảnh: Bố trí tranh minh họa xáo trộn thứ tự, yêu cầu học sinh liên kết văn bản thơ với hình vẽ chính xác (áp dụng bài "Vè côn trùng 1", bài "Cây rau" lớp 1, bài quan sát thức ăn của động vật).
    5. Vận dụng kiến thức hoàn thiện bài văn vần dạng mở (Trò chơi "Em làm nhà thơ"): Khuyết các từ ngữ chuyên môn về cấu tạo hoặc phân loại để học sinh tự điền kiến thức vừa lĩnh hội vào bài thơ (áp dụng cho bài "Thân cây thường có dạng gì?", bài "Hai loại rễ chính: rễ cọc rễ chùm").
    6. Tổ chức trò chơi dân gian kết hợp lời văn vần: Thiết kế các trò chơi vận động nhóm gồm: chơi đối diện từng đôi vừa đọc thơ vừa đập tay chéo theo nhịp; chia nhóm 3-6 em đứng quay lưng móc chân nhảy lò cò xoay vòng tròn theo nhịp bài thơ; trò chơi tập thể mô phỏng lồng chim sập bẫy khi dứt câu lệnh; hoạt động đóng vai làm cử chỉ, điệu bộ diễn tả hành vi động vật tương ứng với lời thơ.

Chương 3: Thử nghiệm một số hoạt động dạy học có sử dụng những bài văn vần dạng thức đồng dao

Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi của các bài văn vần và quy trình tổ chức dạy học:

  • Mục đích thử nghiệm: Đánh giá mức độ tiếp nhận của học sinh, khả năng ứng dụng thực tế của giáo viên, xác định những mặt đạt được và hạn chế để hoàn thiện sản phẩm.
  • Địa bàn và đối tượng thử nghiệm: Học sinh các khối 1, 2 và 3 tại 3 trường tiểu học: Trường Tiểu học Hòa Bình (Quận 1, TP. Hồ Chí Minh), Trường Tiểu học Bế Văn Đàn (Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh) và Trường Tiểu học Suối Nho (Huyện Định Quán, Tỉnh Đồng Nai).
  • Lực lượng tham gia giảng dạy thử nghiệm: Đề tài phối hợp trực tiếp với 9 giáo viên nòng cốt là khối trưởng chuyên môn các khối 1, 2, 3 của 3 trường thực nghiệm. Tất cả giáo viên đều có trình độ Cử nhân Giáo dục Tiểu học và có thâm niên công tác trên 12 năm:
    • Trường Tiểu học Hòa Bình: Cô V.T.T.H (Khối trưởng Khối 1), cô N.T.K.A (Khối trưởng Khối 2), cô H.T.T.C (Khối trưởng Khối 3).
    • Trường Tiểu học Bế Văn Đàn: Cô N.T.H (Khối trưởng Khối 1), cô L.T.H.Y (Khối trưởng Khối 2), cô L.T.H.M (Khối trưởng Khối 3).
    • Trường Tiểu học Suối Nho: Cô H.T.N (Khối trưởng Khối 1), cô N.T.M.T (Khối trưởng Khối 2), cô L.T.T (Khối trưởng Khối 3).
  • Ngoài 9 giáo viên khối trưởng trực tiếp giảng dạy thử nghiệm các tiết học minh họa theo quy trình ở Chương 2, các giáo viên khác trong tổ chuyên môn của 3 trường cũng được tiếp cận hệ thống bài vần, áp dụng thử trong một số hoạt động và tham gia đánh giá qua phiếu khảo sát ý kiến.
  • Triển khai cụ thể các hoạt động quan sát ngoài giờ: Phóng to các bài thơ kèm hình vẽ thực tế dán tại góc học tập của lớp (tiêu biểu như hoạt động của học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Hòa Bình và học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Suối Nho đọc và quan sát tranh thơ vào giờ ra chơi).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Xây dựng thành công hệ thống ngữ liệu gồm khoảng 30 bài văn vần dạng thức đồng dao bám sát các mục tiêu bài học thuộc chủ đề Tự nhiên của chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3.
  • Chuẩn hóa quy trình 6 phương thức tổ chức dạy học và trò chơi học tập tương ứng, cung cấp giải pháp chuyển hóa phần ghi nhớ hàn lâm và bù đắp thiếu hụt kênh hình trong sách giáo khoa.
  • Tổ chức thử nghiệm sư phạm đồng bộ trên 3 trường tiểu học thuộc hai địa bàn kinh tế - xã hội khác nhau (đô thị TP. Hồ Chí Minh và vùng nông thôn tỉnh Đồng Nai) với sự tham gia trực tiếp của 9 giáo viên khối trưởng giàu kinh nghiệm (trên 12 năm công tác, trình độ cử nhân).
  • Đóng góp khoa học của đề tài: Tác giả tự nêu việc khắc phục khoảng trống nghiên cứu ứng dụng cụ thể văn vần vào dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học; biến tri thức dân gian (đồng dao) thành phương tiện sư phạm trực quan, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực và giảm tải áp lực ghi nhớ cho học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các hạn chế và định hướng phát triển:

  • Hạn chế do tác giả tự chỉ ra: Một số bài văn vần được sáng tác còn có dung lượng hơi dài, tạo nên sự quá tải nhất định đối với khả năng đọc và ghi nhớ của học sinh nhỏ tuổi ở khối lớp 1 và lớp 2. Phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mạch kiến thức phần Tự nhiên của giai đoạn 1, chưa bao quát sang các chủ đề Xã hội và Con người và sức khỏe.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục tinh chỉnh, rút ngắn độ dài câu chữ của các bài thơ cho khối lớp 1 và 2; hoàn thiện việc xử lý thống kê số liệu định lượng từ phiếu khảo sát đánh giá của giáo viên, học sinh và chuyên gia; mở rộng việc sáng tác văn vần sang các chủ đề còn lại của môn học cũng như phân môn Khoa học lớp 4, 5.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị thực tiễn đối với:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Cung cấp tư liệu tham khảo phương pháp luận về việc tích hợp văn học dân gian vào môn học tự nhiên, kỹ thuật thiết kế đồ dùng và tổ chức trò chơi học tập.
  • Giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3: Có thể khai thác trực tiếp ngân hàng khoảng 30 bài văn vần dạng thức đồng dao và 6 kịch bản trò chơi sư phạm tại Chương 2 để ứng dụng trong các hoạt động khởi động, củng cố bài học hoặc sinh hoạt ngoài giờ lên lớp.
  • Phần đáng tham khảo nhất là bảng ma trận xác định mục tiêu kiến thức chuyển thành văn vần và các bài vè, bài đồng dao mẫu (về các loài cá, côn trùng, thân cây, rễ cây) có tính ứng dụng sư phạm trực tiếp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tập trung khắc phục những hạn chế nào của sách giáo khoa Tự nhiên và Xã hội hiện hành?

Khóa luận tập trung hỗ trợ hai phần cụ thể trong sách giáo khoa: phần biểu tượng Kính lúp (kênh hình bị hạn chế do khuôn khổ sách 2 trang mở liền kề không thể chuyển tải hết sự phong phú của thế giới tự nhiên) và phần biểu tượng Bóng điện - Bạn cần biết (kênh chữ mang văn phong khoa học khô khan, hàn lâm, khó ghi nhớ đối với học sinh lớp 1, 2, 3).

2. Các bài văn vần dạng thức đồng dao trong khóa luận có đặc điểm cấu tạo như thế nào?

Hầu hết các bài văn vần được viết dưới thể thơ tự do, câu từ mộc mạc, nhịp ngắt nhanh, giàu hình ảnh nhân hóa và đặc biệt kết cấu theo dạng vòng tròn khép kín, trong đó câu kết thúc có thể nối lại câu mở đầu giúp học sinh đọc luân phiên, đọc đuổi liên tục giữa các nhóm.

3. Tác giả đã sáng tác bao nhiêu bài văn vần và tập trung vào mạch nội dung nào?

Tác giả đã xây dựng khoảng 30 bài văn vần dạng thức đồng dao, tập trung chuyên biệt vào mạch nội dung Tự nhiên thuộc chương trình môn Tự nhiên và Xã hội các lớp 1, 2 và 3 (gồm các bài về cây rau, cây hoa, cây gỗ, con mèo, nơi sống của thực vật/động vật, Mặt Trời, Mặt Trăng, thân cây, rễ cây, lá cây, hoa, quả, côn trùng, tôm, cua, cá, thú).

4. Quá trình thử nghiệm sư phạm được triển khai tại những trường nào và lực lượng tham gia gồm những ai?

Thử nghiệm được tiến hành tại 3 trường: Tiểu học Hòa Bình (Quận 1, TP.HCM), Tiểu học Bế Văn Đàn (Bình Thạnh, TP.HCM) và Tiểu học Suối Nho (Định Quán, Đồng Nai). Lực lượng tham gia trực tiếp là 9 giáo viên khối trưởng chuyên môn các khối 1, 2, 3 của 3 trường, đều có bằng Cử nhân Tiểu học và trên 12 năm kinh nghiệm giảng dạy, cùng sự tham gia dạy thử của các giáo viên trong khối.

5. Có những hình thức tổ chức dạy học cụ thể nào được thiết kế để sử dụng các bài văn vần này?

Tác giả đề xuất 6 hình thức: (1) Phóng to tranh thơ dán trong lớp cho học sinh quan sát giờ chơi; (2) Đọc vòng tròn, đọc đuổi, đọc đối đáp; (3) Gắn hình ảnh minh họa thích hợp vào câu thơ cắt rời; (4) Nối câu thơ với hình ảnh tương ứng; (5) Điền khuyết hoàn thiện bài thơ dạng mở ("Em làm nhà thơ"); (6) Chơi các trò chơi dân gian vận động (đập tay, nhảy lò cò móc chân, lồng sập bẫy, đóng vai cử chỉ điệu bộ).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Hiển là công trình nghiên cứu ứng dụng sư phạm có tính thực tiễn cao, giải quyết trực tiếp rào cản nhận thức của học sinh đầu cấp tiểu học đối với môn Tự nhiên và Xã hội thông qua phương tiện văn vần đồng dao. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận tâm sinh lý lứa tuổi, phân tích sâu chương trình sách giáo khoa và xây dựng thành công ngân hàng 30 bài văn vần kèm 6 quy trình tổ chức dạy học trực quan. Kết quả thử nghiệm sư phạm trên 3 trường tiểu học với sự đánh giá của đội ngũ giáo viên khối trưởng giàu kinh nghiệm khẳng định tính khả thi của việc tích hợp văn học dân gian vào giảng dạy khoa học tự nhiên ở tiểu học.