Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Người Việt Nam từ xa xưa đã biết sử dụng văn van đẻ truyền đạt kinh nghiệm. Từ kinh nghiệm sống cho đến những kiến thức phỏ thông đều được viết thành những bài văn vẫn. những câu ca dao.
tục ngữ, những bai đồng dao có vẫn có điệu. mau thuộc và nhớ lâu. Day là những tư liệu quý, rat có giá trị trong thực tế va vì vậy vẫn được lưu truyền mai đến ngày nay, Tác giả Nguyễn Tan Long và Phan Canh trong cuốn “Thi ca bình dân Việt Nam” nêu ra ý kien nên cai biên những bai đồng dao cũ, đặt lời cho những bai đồng dao mới phủ hợp với nhu cầu của trẻ em ngày nay. Tác gia Vũ Ngọc Khanh trong cuốn “Trd chơi dân gian Việt Nam” cũng bàn nhiều vé van vẫn đặc biệt ở mảng đồng dao.
Tác giả cho rằng, ngoài tính chat phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ em, đồng dao còn mang tỉnh giáo dục rất cao và chứa đựng nhiều kiến thức vẻ thiên nhiên vạn vật. Nếu được van dụng một cách sáng tạo. tiếp thu có phê phán, đồng dao sẽ là một kho tàng quý gid cho các nhà sư phạm nghiên cửu dé cải tiền giảng dạy. Tác giả Thế Trường trong cuén “Tam fi và sink li” (NXB ĐHQG Hà Nội.
64-66) ban về van dé vì sao người ta lại dé đảng nhớ và thuộc những lời văn van, thơ ca, những câu nói có van có điệu. Tác gia đưa ra những lí do: “tui nhát la vì thơ ca dễ cuỗn hút chúng ta hơn bat cứ một tài liệu nào khác nẻn chúng ta mong muốn nhớ và nhớ bằng cả trái tim. Hai là thơ ca sinh động. giàu hình tượng.
giàu cảm xúc nên thường dé lại những an tượng sâu sắc trong trí người đọc. Nhưng diém đặc biệt quan trọng là thơ ca có một đặc trưng nói bát là vẫn, nhập điệu Trước hét, bản thân vẫn và nhịp điệu dé lại trong dau óc chúng ta những ẩn tượng Trang ® xảu đảm hơn bat kì loại van tự hoặc sé liệu nào. vẫn và nhịp điệu còn tang cưởng mỏi liên hệ giữa các từ. giữa các đoạn trong bài thơ, làm cho tắt cả tro thành một chính thé dé thuộc và dễ nhớ.
tác giả đã chứng minh rằng văn vẫn là thể loại tối ưu giúp con người mau nhớ vả mau thuộc. Tác gia kết luận rằng: “Hiểu được li do vi sao học van van dé nhớ. ta có thê ting dung nỏ (van van) vào việc học các môn khoa học có nhiều tài liệu khó nhớ. nêu ta biết biển nó dưới dạng đông dao, ca dao, hé ve.
sẽ rất mau thuộc và nhớ lâu "` Nhin chung, các tác gia đều nhắn mạnh đến ưu điểm cua van vẫn va đưa ra những gon ¥ chung chung cho việc sáng tac va sử đụng chúng vảo các hoat động cua tre em. Tuy nhién, các tác gia chưa dé cập đến van dé sử dụng văn vẫn cụ thé như thé nào vảo công tác giang dạy ơ Tiêu học. Cho đến nay, chúng tôi chưa tim thay tải liệu nao nói vẻ van để sang tác văn van dang thức đồng dao hỗ trợ dạy học môn Tự nhiên va Xã hội o liêu học. Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ Tiểu học 1.
Đặc điểm sinh lí của trẻ Tiểu học Hệ thin kinh của trẻ Tiểu học đang ở giai đoạn hoàn thiện. kha năng nhận thức của trẻ trong giai đoạn này chủ yêu là nhận thức cảm tính. tư duy trực quan hình tượng nên các em tri giác dé dàng với những sự vật. hiện tượng gần gũi.
Các em ghi nhớ tốt hơn với những chất liệu, ca từ giàu cam xúc. Hệ hô hấp chưa phát triển đầy đủ: cơ hoành năm cao. có xương sườn đứng nên thở chưa sâu, hô hap trẻ dồn dap và nông. Vì thế, trẻ sẽ gặp khó khan khi phải đọc những câu văn dài.
khô khan nhưng lại thích thú với những bải thơ ngắn. nhịp điệu thơ nhanh. đòn dap như thé loại đồng dao. hoạt động trên lớp của học sinh là một dang lao động trí óc.
doi hoi phải có sự tiêu hao năng lượng thần kính và sự biến đổi của các chỉ số đỉnh dưỡng - nên tảng bảo đảm cho hoạt động của các chức năng tâm lí - thân kinh. Nếu như việc tổ chức học tập của học sinh không bảo đảm các tiêu chí vẻ vệ sinh môi trường. trí óc như kiến thức học quá khó. học liên tục kéo dải.
không cón thời Trang 9 gian vui chơi. có thé không có cơ hội phục hỏi. bù dap kịp những năng lượng tiêu hao, sẽ gây hậu quả vẻ chậm phát triển cơ thẻ học sinh. thậm chỉ la nguyên nhân tiềm tang dẫn đến các bệnh học đường sẽ phát ra trong tương lai khi gặp những yếu tổ thuận lợi.
Đôi với học sinh Tiêu học. não bộ là cơ quan điều khiển các quả trình tâm lí nhận thức cấp cao đang ở trong giai đoạn phát triển để hoàn chính. Vi thé, bat cử yéu tổ nào gây quá tải với khả năng làm việc với não trẻ thời ki này đều dé lại những dấu ấn không tốt cho sự phát triển tâm - sinh lí của chúng. Vugétxki đã chỉ ra rằng, khác với người lớn, ở trẻ em hướng phát triển đi từ dưới lên.
một khi não trẻ - cơ sở vật chất của các quá trình tâm lí nhận thức ở tình trạng yêu hoặc không bình thường thi sự phát triển tiếp theo của các tổ chức thượng ting trên nên tang ấy sẽ buộc di theo hướng hoặc bệnh li. hoặc lệch chuân bình thường (chậm phát triển). Việc phân tích một vải đặc điểm sinh lí của trẻ Tiểu học nói trên cho thấy việc su dung văn vẫn trong day học nói chung và day học môn Tự nhiên và Xã hội ử tiểu học nói riêng la điều phủ hợp. Vi van vần vừa cung cấp kiến thức một cách nhẹ nhàng vừa giàu hình ảnh và nhạc điệu.
Thông qua nhịp điệu bai văn van. học sinh chủ động học tập. thuộc lòng một cách tự nhiên chứ không nhàm chán. khô khan như những câu ghi nhớ trong sách giáo khoa.
Đặc điểm tâm lí của trẻ Tiểu hoc Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thé. ít di vào chỉ tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi Tiểu học tri giác thường gắn với hảnh động trực quan. Nhận thấy điều này. chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới.
mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với binh thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cam nhận. trí giác tích cực vả chính xác. [ưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triên phong phú hơn so với trẻ mam non nhờ có bộ não phát triển va von kinh nghiệm ngảy cảng day dạn. Ở dau tuôi Tiêu học thi hình ảnh tưởng tượng còn đơn gián, chưa bên vững và dé thay đôi.
[Dựa vào đây. các nhà giáo đục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng cua các em Trang 10) bảng cách biển các kiến thức “khô khan” thánh những lời van van. những hinh ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở. thu hút các em vào các hoạt động nhóm.
hoạt động tập thé dé các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toản diện. O dau tuổi Tiểu học, chủ ý cỏ chủ định của trẻ còn yếu. khả năng kiểm soát, điều khiển chủ ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú ý không chu định chiếm ưu thể hơn chú ý có chủ định.
Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học. giờ học có những hoạt động mới lạ, thu hút. Loại trí nhớ trực quan hinh tượng chiếm ưu thé hơn trí nhớ tử ngữ - lôgic. Giai đoạn lớp Một.
lớp Hai, lớp Ba ghi nhớ may móc phát triển tương đổi tốt va chiếm ưu thé hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khải quát hóa hay xây dựng dan bai dé ghi nhớ tải liệu. Năm được điều nay, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa va đơn giản mọi vấn đẻ, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng can ghi nhớ, các từ ngữ dùng dé điển đạt nội dung cân ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dé năm bat. Những bai văn van được viết bằng dạng thức đồng dao chỉnh là phương tiện hữu hiệu dé đạt được mục đích ây.
Nói tóm lại, sáu tuổi vao lớp Một là bước ngoật lớn của trẻ thơ. Môi trường thay đổi đòi hoi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút. Chuyển từ hiểu kỷ, t6 mò sang tinh ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu kiểm chế dan tinh hiểu động.
bột phát để chuyển thành tinh ky luật, nén nếp, chấp hành nội quy học tập. Tat ca đều là thu thách của trẻ. muốn trẻ vượt qua những điều nảy đòi hỏi giáo viên phái cỏ nhiều hình thức dạy học thu hút trẻ va có nhiều sáng tạo trong việc tỏ chức dạy học. Dé tai này cũng không nam ngoai mục đích ấy.
Văn van dạng thức đồng dao. Văn van là loại văn viết bằng những cau có van. trưởng ca. đẳng dao, tục ngữ, ca dao, lời các bài hát.
Phú vốn là văn xuôi, nhưng loại phú có vẫn. cũng thuộc văn van. Iruyện ném Việt Nam cũng là văn van. Trong các thé trên.
Trang II thơ 1a tỉnh hoa của văn van, đòi hỏi nha thơ phải có nang khiếu thơ, cam hứng tho. phong cách thơ, lợi dụng được phẩm chat của tiếng nói (âm điệu, mau sắc). diễn đạt tư tưởng. tinh cảm bang những hình ảnh lâm rung động lòng người.
Sự phân biệt giữa văn vẫn và văn xuôi nhiều khi không rảnh mạch. Có những bài văn xuôi có giá trị như một bai thơ. lại có thơ van xuôi. không van, nhưng vẫn là tho vi có nhịp điệu.
tiết tâu và giàu chất thơ. Dạng thức đồng dao 1a những bai văn van được thiết kế gidng thẻ loại đồng dao nhưng không mang day đủ những đặc tinh của một bài đồng dao mẫu mực. chúng ta không nên ngạc nhiên khi đọc những bài văn vân dạng thức đồng dao có một vài nét khác với những bài đồng dao chính hiệu. Đồng dao Đồng dao là một loại dân ca ma ông ba ta ngày xưa thường dùng để dạy trẻ con vừa chơi vừa học.
Qua những bài đồng dao đỏ, chúng được trau dồi kiến thức, tập quan sát mọi vật chung quanh. nhận biết sự vật.