Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong bối cảnh giáo dục mầm non được xác định là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ cũng như chất lượng giáo dục ở các bậc học tiếp theo. Tác giả dẫn luận quan điểm của nhà giáo dục John Adams: "Nền giáo dục là hướng dẫn trẻ những nguyên tắc của tự do", qua đó nhấn mạnh vai trò chủ động, sáng tạo của người học như một chủ thể tích cực trong quá trình nhận thức khoa học. Khả năng sáng tạo của con người có thể bộc lộ từ rất sớm, thể hiện qua các dẫn chứng lịch sử như Mozart biết hòa âm và sáng tác nhạc lúc 5 tuổi, Thomas Edison có sáng chế từ thuở ấu thơ, hay họa sĩ Aelita Andre bộc lộ năng khiếu hội họa từ 22 tháng tuổi. Do đó, việc phát hiện, bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi là tiền đề then chốt cho quá trình tư duy trong tương lai.
Trong chương trình giáo dục mầm non, khám phá môi trường xung quanh, đặc biệt là hoạt động khám phá thế giới thực vật, mang lại sức hấp dẫn đối với trẻ 5–6 tuổi. Hoạt động này cho phép trẻ tìm hiểu sự phát triển của cây xanh, nhận biết các bộ phận, môi trường sống, lợi ích của thực vật, đồng thời tham gia lao động chăm sóc góc thiên nhiên. Qua đó, trẻ rèn luyện các thao tác tư duy như quan sát, so sánh, phân loại và phát triển năng lực sáng tạo. Tuy nhiên, thực tiễn tại các trường mầm non cho thấy hoạt động này còn mang nặng tính dạy học truyền thống: giáo viên chủ yếu tập trung thuyết trình, giảng giải một chiều áp đặt kiến thức có sẵn thay vì để trẻ tự trải nghiệm; các phương pháp tổ chức còn đơn điệu, lặp lại và lúng túng, chưa phát huy được tính tích cực nhận thức và năng lực sáng tạo của trẻ.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, xây dựng một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thế giới thực vật ở trường mầm non.
Khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý luận của việc phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thế giới thực vật ở trường mầm non.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng của việc phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thế giới thực vật tại một số trường mầm non hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao và phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thế giới thực vật ở trường mầm non.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thế giới thực vật ở trường mầm non.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các biểu hiện của kỹ năng tưởng tượng, năng lực sáng tạo và khả năng mô phỏng sự vật hiện tượng của trẻ.
- Phạm vi không gian và khách thể khảo sát: Khảo sát 50 trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi và 15 giáo viên mầm non tại hai cơ sở: Trường Mầm non Hoằng Long (phường Long Anh, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa: 10 giáo viên) và Trường Mầm non Thượng Kiệm (xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình: 5 giáo viên).
- Thời gian nghiên cứu: Khóa luận được hoàn thành vào tháng 6 năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên hệ thống các quan điểm tâm lý học và giáo dục học về sáng tạo:
- Khái niệm sáng tạo: Tác giả dẫn giải quan điểm từ nguồn gốc Latin (Creatio), quan điểm của L. S. Vygotsky trong tác phẩm "Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa thiếu niên" (sáng tạo là mọi hoạt động tạo ra cái mới, dù là sản phẩm vật chất hay cấu tạo trí tuệ, tình cảm), quan điểm phân tâm học của S. Freud (sáng tạo là sự tiếp nối và thay thế các trò chơi thuở nhỏ bằng giấc mơ hiện hình), cùng định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, Từ điển Triết học và nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Huy Tú. Đề tài chốt lại định nghĩa: Năng lực sáng tạo là khả năng tư duy, tạo ra cái mới, tìm tòi ra những phương án, chủ đề mới của một hay nhiều người trong một lĩnh vực cụ thể.
- Các giai đoạn sáng tạo: Dẫn chiếu mô hình 3 giai đoạn của Block, 3 giai đoạn của Xumbaev, 5 giai đoạn của N. Luck và tiến trình 4 giai đoạn phổ biến tại Việt Nam (chuẩn bị, phát sinh, phát minh, thực hiện và kiểm tra).
- Cấp độ sáng tạo: Áp dụng phân loại 5 cấp độ của Taylor (1974), bao gồm: (1) Sáng tạo biểu hiện; (2) Sáng tạo chế tạo; (3) Sáng tạo phát kiến; (4) Sáng tạo cải biến; (5) Sáng tạo cao nhất. Đề tài xác định năng lực sáng tạo của trẻ mầm non chủ yếu thuộc cấp độ "sáng tạo biểu hiện" – dạng cơ bản mang tính bộc phát, tự do, khoáng đạt, không đòi hỏi kỹ năng cao hay giá trị kinh tế - xã hội to lớn mà mang tính sáng tạo đối với chính bản thân trẻ.
- Đặc điểm tâm sinh lý trẻ 5–6 tuổi: Sự chuyển dịch từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng và bước đầu xuất hiện tư duy trừu tượng sơ khai; trí nhớ có chủ định phát triển; trí tưởng tượng phong phú nhưng còn phụ thuộc cảm xúc; thể chất phát triển với các chỉ số sinh học: bé trai 5 tuổi cao 97,5 cm, nặng 14–15 kg; 6 tuổi cao 106,5 cm, nặng 15–16 kg; bé gái 5 tuổi cao 96,5 cm, nặng 13–14 kg; 6 tuổi cao 104,5 cm, nặng 14–15 kg; trọng lượng não đạt 1011 g đến 1305 g.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp thực hiện bao gồm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu lý thuyết liên quan đến tâm lý học sáng tạo và giáo dục mầm non.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (anket): Thiết kế và phát 15 phiếu khảo sát cho 15 giáo viên trực tiếp đứng lớp 5–6 tuổi tại hai trường mầm non khảo sát.
- Phương pháp quan sát, dự giờ: Quan sát hành vi, mức độ hứng thú của trẻ và tiến hành dự giờ 2 tiết học thực tế: đề tài "Quá trình phát triển của cây từ hạt" và đề tài "Các loại rau mùa hè".
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên và trẻ trong sinh hoạt hằng ngày.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Đánh giá giáo án giảng dạy của giáo viên và sản phẩm thực hành, tranh vẽ, mô hình của trẻ.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm sư phạm.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng toán thống kê để phân loại, tính tỷ lệ phần trăm và đối chiếu dữ liệu khảo sát.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu từ 15 phiếu điều tra giáo viên, biên bản ghi chép từ 2 tiết dự giờ thực tế, giáo án của các giáo viên phụ trách lớp mẫu giáo lớn và sản phẩm học tập của 50 trẻ tại địa bàn nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu về hoạt động sáng tạo trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, các tác giả như J. Froebel, K. Nikolaeva đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tiếp xúc thiên nhiên đối với sự phát triển trí tuệ. Tại Việt Nam, các công trình luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ của Lê Thanh Thủy, Trương Bích Hà, Phạm Thu Hương, Vũ Thị Kiều Trang, Nguyễn Thị Ngọc Kim, Ngô Thị Tuyết Mai, Phạm Thị Nguyên Chi cùng các giáo trình chuyên ngành của Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân, Hoàng Thị Phương đã phân tích sâu sắc các khía cạnh biểu hiện sáng tạo của trẻ mầm non.
Tác giả phân tích bản chất của sáng tạo qua 3 thuộc tính: tính mới mẻ, tính độc lập và tính tối lợi. Trong đó, hoạt động sáng tạo của trẻ mẫu giáo là "sáng tạo đặc biệt" mang ý nghĩa cá nhân và rèn luyện nhân cách. Sự phát triển năng lực sáng tạo tác động toàn diện đến 4 lĩnh vực của trẻ:
- Nhận thức: Giúp trẻ hiểu rõ đặc điểm sự vật, hình thành thao tác tư duy linh hoạt.
- Ngôn ngữ: Làm giàu vốn từ biểu cảm, hoàn thiện bộ máy phát âm, hỗ trợ trẻ diễn đạt ý tưởng mạch lạc.
- Thẩm mỹ: Bồi dưỡng rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống.
- Tình cảm – Xã hội: Hình thành thói quen chia sẻ, hợp tác, giao tiếp tự tin và thích ứng môi trường.
Chương này cũng xác định các nội dung giáo dục năng lực sáng tạo trong chương trình (kỹ năng sáng tạo trong trò chơi, kể chuyện sáng tạo, suy luận sáng tạo, thực hành trải nghiệm); các phương pháp kích thích tư duy như phương pháp tác động não bộ (brainstorming), thảo luận nhóm, thực hành trải nghiệm; đồng thời chỉ ra các yếu tố chủ quan (khả năng quan sát, đặc điểm nhận thức, tính tích cực cá nhân) và khách thể (môi trường sư phạm, nhà trường, gia đình, xã hội) tác động đến hiệu quả giáo dục.
Chương 2: Thực trạng phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thế giới thực vật ở trường mầm non
Chương 2 trình bày mục đích, đối tượng, phương pháp và kết quả khảo sát thực trạng giáo dục năng lực sáng tạo tại Trường Mầm non Hoằng Long (Thanh Hóa) và Trường Mầm non Thượng Kiệm (Ninh Bình) trên mẫu khảo sát gồm 15 giáo viên và 50 trẻ.
Kết quả điều tra về mức độ sử dụng các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực sáng tạo được tổng hợp trong bảng số liệu sau:
| STT |
Phương pháp dạy học |
Thường xuyên (Số GV / Tỷ lệ %) |
Thỉnh thoảng (Số GV / Tỷ lệ %) |
Không thường xuyên (Số GV / Tỷ lệ %) |
| 1 |
Thuyết trình |
4 GV (26,67%) |
5 GV (33,33%) |
6 GV (40,00%) |
| 2 |
Đàm thoại |
7 GV (46,67%) |
8 GV (53,33%) |
0 GV (0,00%) |
| 3 |
Thực hành trải nghiệm |
6 GV (40,00%) |
6 GV (40,00%) |
3 GV (20,00%) |
| 4 |
Thảo luận nhóm |
5 GV (33,33%) |
8 GV (53,33%) |
2 GV (13,33%) |
Số liệu cho thấy phương pháp đàm thoại và thuyết trình vẫn chiếm tỷ lệ sử dụng tương đối cao. Việc vận dụng các phương pháp phát huy tính tích cực như thảo luận nhóm hay thực hành trải nghiệm chủ yếu ở mức "thỉnh thoảng" (chiếm 53,33% và 40,00%).
Khảo sát nhận thức của giáo viên về định nghĩa "Năng lực sáng tạo" (Bảng 2 trong văn bản) ghi nhận:
- 4 GV (26,67%) chọn định nghĩa: "NLST là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị".
- 3 GV (20,00%) chọn định nghĩa: "NLST được hiểu là tạo ra, đề ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích".
- 2 GV (13,33%) chọn định nghĩa: "NLST là quá trình trở nên nhạy cảm đối với các khó khăn, khiếm khuyết... tìm kiếm giải pháp, đưa ra phỏng đoán, kiểm tra giả thuyết và truyền đạt kết quả".
- 6 GV (40,00%) lựa chọn định nghĩa toàn diện: "NLST là khả năng tư duy, tạo ra cái mới, tìm tòi ra những phương án, chủ đề mới của một hay nhiều người về một lĩnh vực nghiên cứu nào đó...".
Về biểu hiện năng lực sáng tạo của trẻ (Bảng 3 trong văn bản):
- Nhóm 1 (sáng tạo qua hoạt động hằng ngày, thích được khen ngợi, chủ động tích cực): 4 GV (26,67%).
- Nhóm 2 (lĩnh hội qua người lớn để vận dụng, thể hiện qua trò chơi, dạo chơi ngoài trời và có sự phá cách): 6 GV (40,00%).
- Nhóm 3 (đặt câu hỏi phức tạp về mối liên hệ tự nhiên, chủ động tham gia hoạt động): 3 GV (20,00%).
- Nhóm 4 (tổng hợp đầy đủ các dấu hiệu kích thích, phỏng đoán, suy luận, tưởng tượng, mô phỏng): 2 GV (13,33%).
Kết quả dự giờ 2 tiết học cho thấy giáo viên đã chú ý chuẩn bị đồ dùng dạy học nhưng tiến trình bài giảng còn nặng về truyền đạt kiến thức áp đặt từ cô giáo, chưa tạo nhiều cơ hội cho trẻ tự đặt câu hỏi hoặc đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề mới mẻ.
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp rèn luyện năng lực sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thế giới thực vật ở trường mầm non
Dựa trên kết quả khảo sát, tác giả xác lập 4 nguyên tắc sư phạm làm căn cứ đề xuất biện pháp:
- Tôn trọng nhân cách và tin tưởng vào năng lực của trẻ.
- Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp (phù hợp lứa tuổi, nhận thức và tâm sinh lý).
- Đảm bảo tính khả thi (phù hợp cơ sở vật chất và điều kiện thực tiễn).
- Đảm bảo tính hiệu quả (đáp ứng mục tiêu giáo dục mầm non).
Hệ thống các biện pháp cụ thể được xây dựng bao gồm:
- Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên mầm non về phương pháp đổi mới dạy học tích cực.
- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học khám phá môi trường xung quanh, đặc biệt là thế giới thực vật (ứng dụng trình chiếu, hình ảnh động về sự phát triển của cây cối).
- Tạo tình huống có vấn đề nhằm kích thích hứng thú khám phá, tiếp thu kinh nghiệm sáng tạo cho trẻ qua các hiện tượng thực tế của cây trồng.
- Chú ý đến vấn đề đặt câu hỏi cho trẻ trong hoạt động: Chuyển đổi từ câu hỏi đóng (có/không, đúng/sai) sang hệ thống câu hỏi mở, kích thích trẻ suy luận, phỏng đoán và so sánh.
- Tạo nhiều cơ hội cho trẻ phát triển năng lực sáng tạo trong khi hoạt động khám phá thế giới thực vật (khuyến khích trẻ đề xuất cách chăm sóc, phân loại cây theo tiêu chí riêng).
- Tổ chức thuyết trình cuối chủ đề: Hướng dẫn trẻ tự tin trình bày sản phẩm, mô hình cây cối hoặc tranh vẽ trước tập thể lớp.
- Tăng cường cho trẻ hợp tác, thảo luận, thực hành trải nghiệm trong hoạt động khám phá thế giới thực vật (thực hành gieo hạt, theo dõi nảy mầm, thí nghiệm tính hút nước của hoa).
- Khuyến khích trẻ nêu lên các ý kiến sáng tạo trong giờ học mà không bị áp đặt đáp án chuẩn duy nhất.
- Thường xuyên cho trẻ trải nghiệm thực tế về thế giới thực vật thông qua hình thức dạo chơi, tham quan, dã ngoại tại vườn trường và không gian thiên nhiên.
- Đưa ra các biện pháp cụ thể giải quyết những vướng mắc thực tế tại địa phương (vấn đề thiếu khuôn viên cây xanh, hạn chế đồ dùng trực quan bằng cách tận dụng góc thiên nhiên nhóm lớp và nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể phản ánh trong văn bản:
- Làm rõ bức tranh thực trạng giảng dạy tại 2 trường mầm non đại diện cho địa bàn đô thị (TP. Thanh Hóa) và nông thôn (Kim Sơn, Ninh Bình). Dữ liệu chỉ ra 40,00% giáo viên tiếp cận đúng bản chất toàn diện của năng lực sáng tạo, trong khi các phương pháp giáo dục tích cực như thực hành trải nghiệm thường xuyên mới chỉ đạt 40,00%, và phương pháp thảo luận nhóm đạt 33,33%.
- Xác định rõ cấp độ sáng tạo đặc thù của lứa tuổi 5–6 tuổi là cấp độ "sáng tạo biểu hiện" theo lý thuyết của Taylor (1974), khẳng định sự cần thiết phải tạo môi trường cởi mở, không áp đặt quy chuẩn sản phẩm như người lớn.
- Đề xuất hệ thống 10 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ gắn liền với các chủ đề thực vật, định hướng giáo viên chuyển từ vai trò truyền đạt kiến thức thụ động sang người thiết kế các tình huống có vấn đề và tổ chức hoạt động trải nghiệm.
Về mặt đóng góp học thuật, khóa luận hệ thống hóa các lý thuyết tâm lý học sáng tạo trong và ngoài nước để vận dụng chuyên biệt vào hoạt động khám phá thế giới thực vật của trẻ mẫu giáo lớn. Đề tài cung cấp hệ thống số liệu khảo sát thực nghiệm cụ thể tại địa phương, đóng góp các gợi ý thực hành dạy học có thể áp dụng trực tiếp cho giáo viên mầm non.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản:
- Quy mô khảo sát thực trạng còn hẹp, mới thực hiện trên 15 giáo viên và 50 trẻ tại 2 trường mầm non thuộc tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình, chưa mang tính đại diện cho diện rộng các vùng miền khác nhau.
- Nghiên cứu chỉ tập trung vào một phân môn/chủ đề là khám phá thế giới thực vật, chưa mở rộng ra các phân vùng nội dung khác của chương trình khám phá khoa học và môi trường xung quanh.
- Văn bản dừng lại ở mức khảo sát thực trạng và đề xuất hệ thống biện pháp trên cơ sở lý luận và quan sát sư phạm; chưa tổ chức thực nghiệm sư phạm đối chứng dài hạn (giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng) để đo lường định lượng mức độ phát triển năng lực sáng tạo của trẻ sau khi áp dụng các biện pháp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng địa bàn khảo sát, tiến hành thực nghiệm sư phạm có đo nghiệm đầu vào - đầu ra, và mở rộng ứng dụng biện pháp sang các chủ đề khác như thế giới động vật, các hiện tượng tự nhiên hay môi trường xã hội.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non: Tài liệu hỗ trợ nghiên cứu phương pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học, làm quen với môi trường xung quanh và cách thiết kế đề tài khóa luận tốt nghiệp ngành sư phạm mầm non.
- Giáo viên mầm non trực tiếp giảng dạy lớp 5–6 tuổi: Có thể tham khảo hệ thống 10 biện pháp sư phạm, cách xây dựng câu hỏi mở kích thích tư duy, cùng quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tế với cây cối và thiên nhiên trong trường mầm non.
- Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường mầm non: Cung cấp góc nhìn thực trạng về việc áp dụng các phương pháp dạy học tại cơ sở để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên.
Phần đáng tham khảo nhất của công trình là chương cơ sở lý luận phân tích cấp độ sáng tạo biểu hiện của trẻ và bảng thống kê thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên tại hai trường nghiên cứu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận tiếp cận định nghĩa "Năng lực sáng tạo" của trẻ theo quan điểm nào?
Tác giả tổng hợp quan điểm của Vygotsky, Freud, PGS.TS. Nguyễn Huy Tú và Từ điển tiếng Việt, từ đó sử dụng định nghĩa: Năng lực sáng tạo là khả năng tư duy, tạo ra cái mới, tìm tòi ra những phương án, chủ đề mới của một hay nhiều người trong một lĩnh vực nhất định. Đối với trẻ mầm non, sáng tạo không nhất thiết phải tạo ra sản phẩm mới cho xã hội mà mang tính mới mẻ đối với chính bản thân trẻ, rèn luyện nhân cách để trở thành người sáng tạo sau này.
2. Theo phân loại của Taylor (1974), năng lực sáng tạo của trẻ mầm non thuộc cấp độ nào?
Theo lý thuyết của Taylor (1974) chia sáng tạo thành 5 cấp độ (sáng tạo biểu hiện, sáng tạo chế tạo, sáng tạo phát kiến, sáng tạo cải biến, sáng tạo cao nhất), sáng tạo của trẻ em thuộc cấp độ thấp nhất là "sáng tạo biểu hiện". Đặc trưng của cấp độ này là tính bộc phát hứng khởi và sự tự do khoáng đạt, không đòi hỏi kỹ thuật cao hay kinh nghiệm dày dặn.
3. Khảo sát thực trạng cho thấy phương pháp thực hành trải nghiệm được giáo viên sử dụng ở mức độ nào?
Theo kết quả khảo sát 15 giáo viên tại Bảng 1, phương pháp thực hành trải nghiệm được 6 giáo viên (40,00%) sử dụng thường xuyên, 6 giáo viên (40,00%) sử dụng thỉnh thoảng, và 3 giáo viên (20,00%) không thường xuyên sử dụng.
4. Tác giả đã tiến hành dự giờ hai tiết học thực tế nào để phục vụ đánh giá thực trạng?
Tác giả đã trực tiếp dự giờ, quan sát và nghiên cứu bài dạy tại 2 tiết học: tiết thứ nhất có đề tài "Quá trình phát triển của cây từ hạt", và tiết thứ hai có đề tài "Các loại rau mùa hè".
5. Khóa luận đề xuất bao nhiêu nguyên tắc và biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ?
Khóa luận xác định 4 nguyên tắc sư phạm (tôn trọng nhân cách và tin tưởng năng lực trẻ, đảm bảo tính phù hợp, tính khả thi, tính hiệu quả) và đề xuất hệ thống gồm 10 nhóm biện pháp rèn luyện năng lực sáng tạo thông qua hoạt động khám phá thế giới thực vật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Như Nguyệt đã giải quyết trọn vẹn 3 nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra về việc phát triển năng lực sáng tạo cho trẻ 5–6 tuổi qua hoạt động khám phá thế giới thực vật. Công trình làm rõ cơ sở lý luận dựa trên đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mẫu giáo lớn và cấp độ sáng tạo biểu hiện, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng phương pháp dạy học qua số liệu khảo sát tại hai trường mầm non trên địa bàn Thanh Hóa và Ninh Bình. Hệ thống 10 biện pháp sư phạm đề xuất mang tính đồng bộ, chú trọng đổi mới cách đặt câu hỏi, tăng cường trải nghiệm thực tế và giải quyết tình huống có vấn đề, đáp ứng mục tiêu đổi mới giáo dục mầm non lấy trẻ làm trung tâm.