Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực, ngành giáo dục đặt ra nhiệm vụ đổi mới căn bản phương pháp dạy học nhằm phát triển phẩm chất và năng lực người học theo Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018. Dạy học phân hóa (DHPH) được xác định là hướng tiếp cận phù hợp để tối ưu hóa tiềm năng cá nhân dựa trên sự khác biệt về tâm - sinh lý, khả năng nhận thức, nhu cầu, sở thích và phong cách học tập (PCHT) của từng học sinh. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy tại các trường trung học phổ thông (THPT) cho thấy phần lớn giáo viên vẫn duy trì phương pháp dạy học đồng loạt, gặp nhiều rào cản khi thiết kế các hoạt động đáp ứng tính đa dạng của người học.

Nội dung "Sinh thái học và môi trường" trong chương trình Sinh học 12 mang tính thực tiễn cao, gắn liền trực tiếp với các vấn đề môi trường toàn cầu, định hướng bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Việc vận dụng DHPH dựa trên PCHT ở phần nội dung này tạo điều kiện để học sinh tiếp cận kiến thức bằng nhiều phương thức khác nhau, từ đó nâng cao hứng thú và năng lực nhận thức sinh học.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Tổ chức DHPH theo PCHT của học sinh nội dung Sinh thái học và môi trường, Sinh học 12 nhằm phát triển năng lực sinh học cho học sinh ở các trường THPT.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học nội dung Sinh thái học và môi trường, Sinh học 12.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình DHPH theo PCHT của học sinh.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu tổ chức DHPH theo PCHT của học sinh nội dung Sinh thái học và môi trường, Sinh học 12 thì sẽ nâng cao năng lực nhận thức sinh học ở môn Sinh học cho học sinh các trường phổ thông theo đúng mục tiêu của Chương trình GDPT 2018 đề ra.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về DHPH và PCHT của học sinh trong dạy học môn Sinh học và các môn học khác.
    2. Xác định thực trạng dạy và học môn Sinh học của học sinh ở trường THPT.
    3. Hệ thống mục tiêu, cấu trúc và nội dung của phần Sinh thái học và môi trường để xác định các nội dung cần thiết cho việc tổ chức DHPH theo PCHT.
    4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của việc tổ chức DHPH theo PCHT của học sinh nội dung Sinh thái học và môi trường, Sinh học 12.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Đánh giá hiệu quả của việc tổ chức DHPH theo PCHT của học sinh nội dung Sinh thái học và môi trường, Sinh học 12.
    • Thời gian: Đề tài thực hiện trong 7 tháng, từ tháng 09/2023 đến tháng 04/2024.
    • Địa điểm: Tiến hành khảo sát ở 30 giáo viên Sinh học và 169 học sinh lớp 12; đồng thời thực nghiệm sư phạm trên 169 học sinh lớp 12 tại Trường THPT Võ Thị Hồng và Trường THPT Trần Văn Thời thuộc huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các lý thuyết giáo dục học, tâm lý học và các mô hình PCHT hiện đại:

  • Khung lý thuyết và quan điểm về dạy học phân hóa: Tác giả tổng hợp các quan điểm của Hall (2002), Diane Heacox (2005), Brimijoin và Narvaez (2008), Ann Carol Tomlinson (2008), Trương Thị Bích (2015) và Nguyễn Thị Hồng Chuyên. Cơ sở tâm lý học của DHPH dựa trên phân loại nhân cách hướng nội - hướng ngoại của Eysenck, thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner (1983) với 8 loại hình thông minh, và nghiên cứu của Dunn về ảnh hưởng của di truyền, giác quan và văn hóa xã hội đến cách học. Về giáo dục học, tác giả kế thừa nguyên tắc "phù hợp" và tính tương thích cá nhân của Phạm Quang Huân (2007) cùng 5 nguyên tắc DHPH do Nguyễn Văn Đản (2007) đề xuất (thừa nhận người học khác nhau; chất lượng hơn số lượng; thay đổi cách tiếp cận đa phương diện đối với nội dung, quá trình, sản phẩm; tập trung vào người học; giáo viên và học sinh cùng học).
  • Mô hình và phân loại phong cách học tập: Thuật ngữ PCHT khởi nguồn từ Thelen (1954), được định nghĩa bởi Keefe (1979), Gass và Selinker (2008), Rose (1998), Phạm Quang Tiến và Hồ Thị Hồng Vân (2015). Đề tài dẫn chiếu phân loại 5 nhóm PCHT của Coffield (2004) và tập trung vào 3 mô hình nhận diện chính:
    • Mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb (1974): Chu trình gồm 4 giai đoạn (Trải nghiệm cụ thể, Phản ánh qua quan sát, Khái quát hóa trải nghiệm, Thực hành chủ động), kết hợp giữa 2 chiều tiếp nhận (Trải nghiệm cụ thể - Khái niệm trừu tượng) và 2 chiều chuyển hóa (Quan sát suy ngẫm - Thử nghiệm tích cực) để tạo ra 4 PCHT: Thích nghi (Accommodating), Phân kỳ (Diverging), Hội tụ (Converging), Đồng hóa (Assimilating).
    • Mô hình của Peter Honey và Alan Mumford (1995): Phân chia người học thành 4 nhóm gồm Người hoạt động (Activist), Người suy ngẫm (Reflector), Người lý thuyết (Theorist), Người thực tế (Pragmatist).
    • Mô hình Tâm lý - Hình học của Susan Dellinger (Nguyễn Thị Minh Tâm, 2005): Đánh giá tính cách và phong cách tiếp nhận qua 5 biểu tượng (Hình vuông, Hình tam giác, Hình chữ nhật, Hình tròn, Hình lượn sóng).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp Chương trình GDPT 2018 môn Sinh học, các văn bản quy phạm và các công trình khoa học trong và ngoài nước về DHPH và PCHT.
    • Phương pháp điều tra thực trạng: Sử dụng phiếu hỏi kết hợp quan sát sư phạm đối với 30 giáo viên Sinh học và 169 học sinh THPT tại Cà Mau.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Bố trí nhóm đối chứng (ĐC) và nhóm thực nghiệm (TN) tương đương tại 2 trường THPT trong năm học 2023 - 2024; tiến hành kiểm tra đánh giá đầu vào và đầu ra.
    • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả và kiểm định dữ liệu thực nghiệm bằng phần mềm Microsoft Excel 2019.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập từ 30 phiếu điều tra giáo viên, 169 phiếu điều tra học sinh, kết quả bài kiểm tra đánh giá định lượng đầu vào, đầu ra của 169 học sinh lớp 12 tại địa bàn nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu DHPH và PCHT trên thế giới (Reid, Willingham, Subban, Wilson, Awla, Suprayogi, Deunk) và tại Việt Nam (Nguyễn Thị Thành, Hồ Thu Quyên, Phạm Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Hằng Nga, Phan Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Thị Thắng, Huỳnh Phú Sĩ). Tác giả làm rõ cơ sở tâm lý học, cơ sở giáo dục học, các nguyên tắc thực hiện DHPH và cơ chế hình thành các PCHT.

Về mặt thực tiễn, tác giả công bố số liệu khảo sát thực trạng giảng dạy của 30 giáo viên và quá trình học tập của 169 học sinh THPT tại tỉnh Cà Mau:

Chỉ số khảo sát giáo viên (n = 30) Tỷ lệ phản hồi
Đánh giá sự cần thiết của DHPH trong thực hiện CT GDPT 2018 Rất cần thiết: 70,00%; Cần thiết: 26,67% (Tổng nhận thức cần thiết: 100%)
Mức độ thực hiện phân hóa lớp học thành các nhóm đối tượng Thường xuyên: 0%; Thỉnh thoảng: 43,33%; Chưa bao giờ: 56,67%
Tần suất sử dụng phương pháp trực quan Thường xuyên: 76%; Thỉnh thoảng: 23%
Tần suất sử dụng dạy học theo góc Thường xuyên: 27%
Tần suất sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn Chưa bao giờ: 43%

Khó khăn chính khiến giáo viên chưa tổ chức DHPH gồm: sĩ số lớp quá đông, cơ sở vật chất chưa đảm bảo, thiếu công cụ nhận diện PCHT của học sinh, khó xây dựng chuỗi hoạt động phù hợp, khó đưa ra tiêu chí đánh giá sản phẩm học tập và thời lượng tiết học không đủ.

Chỉ số khảo sát học sinh (n = 169) Tỷ lệ phản hồi
Nhận thức về vai trò môn Sinh học trong đời sống Quan trọng: 68%; Rất quan trọng: 29%; Không quan trọng: 3%
Mức độ yêu thích môn Sinh học Rất yêu thích: 9,5%; Yêu thích: 46,7%; Bình thường: 37,3%; Không thích: 6,5%
Tần suất giáo viên chia nhóm giao nhiệm vụ học tập khác nhau Luôn luôn: 4,1%; Thỉnh thoảng: 66,9%; Chưa bao giờ: 29,0%
Nguyện vọng học tập theo nhiệm vụ khác nhau Rất yêu thích: 10,7%; Yêu thích: 52,7%; Bình thường: 32,0%; Không thích: 4,7%
Giáo viên trao đổi về PCHT với học sinh Thường xuyên: 14,7%; Thỉnh thoảng: 28,9%; Chưa bao giờ: 46,1%
Mức độ quan tâm của học sinh về PCHT của bản thân Quan tâm: 55,6%; Rất quan tâm: 20,1%; Ít quan tâm: 24,3%
Thái độ nếu được học theo đúng PCHT Hứng thú: 63,3%; Rất hứng thú: 23,7%; Bình thường: 13,0%
Thuận lợi khi học theo PCHT Tiết học thú vị, nhẹ nhàng, hấp dẫn hơn: 69,8%; Dễ lĩnh hội kiến thức: 50,9%; Hiểu và nhớ lâu hơn: 46,7%; Được trải nghiệm thế mạnh bản thân: 42,6%
Khó khăn khi học theo PCHT Lúng túng khi lựa chọn nhiệm vụ học tập: 56,2%; Thiếu nguồn tài liệu tham khảo: 46,7%; Cảm thấy mất thời gian: 28,4%; Khối lượng nhiệm vụ quá lớn: 22,5%

Chương 2. Tổ chức dạy học phân hóa theo phong cách học tập của học sinh nội dung Sinh thái học và môi trường, Sinh học 12

Tác giả phân tích cấu trúc chương trình và chuẩn đầu ra của phần Sinh thái học và môi trường (Sinh học 12) bao gồm 5 chủ đề:

  1. Môi trường và các nhân tố sinh thái: Các khái niệm môi trường, nhân tố sinh thái vô sinh và hữu sinh, các quy luật sinh thái (giới hạn sinh thái, tác động tổng hợp, tác động không đồng đều) và nhịp sinh học.
  2. Sinh thái học quần thể: Khái niệm quần thể, quan hệ hỗ trợ và cạnh tranh, các đặc trưng cơ bản (số lượng, kích thước, tỉ lệ giới tính, nhóm tuổi, kiểu phân bố), tăng trưởng quần thể, biến động số lượng, điều hòa mật độ, ba kiểu đường cong sống sót, tăng trưởng quần thể người; phương pháp tính kích thước quần thể (phương pháp bắt - đánh dấu - thả - bắt lại).
  3. Sinh thái học quần xã: Khái niệm quần xã, đặc trưng thành phần loài (loài ưu thế, đặc trưng, chủ chốt), chỉ số đa dạng Shannon, cấu trúc không gian và chức năng dinh dưỡng, các mối quan hệ liên loài (cạnh tranh, hợp tác, cộng sinh, hội sinh, ức chế, kí sinh, vật ăn thịt - con mồi), ổ sinh thái và tác động của loài ngoại lai.
  4. Hệ sinh thái: Cấu trúc hệ sinh thái, dòng năng lượng và trao đổi vật chất (chuỗi, lưới thức ăn, bậc dinh dưỡng, hiệu suất sinh thái, tháp sinh thái), các chu trình sinh - địa - hóa (nước, carbon, nitrogen), biến động hệ sinh thái (diễn thế sinh thái, sự ấm lên toàn cầu, phú dưỡng, sa mạc hóa), sinh quyển và các khu sinh học (biome).
  5. Sinh thái học phục hồi, bảo tồn và phát triển bền vững: Các phương pháp phục hồi hệ sinh thái, phát triển bền vững, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, nông nghiệp bền vững, chính sách dân số và giáo dục môi trường.

Để phục vụ phân hóa, tác giả chuyển giao bộ công cụ trắc nghiệm PCHT LSI (Learning Style Inventory) của David Kolb gồm 8 câu hỏi tình huống tính điểm từ 1 đến 4, xác định 4 PCHT: Thích nghi, Phân kỳ, Hội tụ, Đồng hóa; đồng thời kết hợp bài trắc nghiệm Tâm lý - Hình học. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng quy trình tổ chức dạy học gồm các bước xác định mục tiêu, chẩn đoán PCHT, thiết kế hệ thống nhiệm vụ học tập tương ứng và tổ chức thực hiện. Chương này cung cấp kế hoạch bài dạy minh họa chi tiết cho chủ đề "Sinh thái học quần xã", phân chia nhiệm vụ học tập theo 4 phong cách của Kolb.

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Võ Thị Hồng và Trường THPT Trần Văn Thời trên 169 học sinh lớp 12 trong năm học 2023 - 2024. Học sinh được chia thành các lớp thực nghiệm (học theo tiến trình DHPH theo PCHT thiết kế ở Chương 2) và lớp đối chứng (học theo tiến trình dạy học truyền thống đồng loạt).

  • Phân tích định lượng: Tiến hành kiểm tra đánh giá đầu vào và các bài kiểm tra đầu ra. Tác giả sử dụng Excel 2019 để tính toán các tham số thống kê đặc trưng (điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên, giá trị kiểm định t-Student) và xây dựng đồ thị đường tích lũy tần suất điểm số giữa hai nhóm ĐC và TN. Kết quả định lượng chứng minh sự phân hóa rõ rệt ở bài kiểm tra đầu ra: đường tích lũy của nhóm TN lệch về phía điểm cao so với nhóm ĐC, tỷ lệ học sinh đạt điểm khá - giỏi ở nhóm TN cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm ĐC, trong khi xuất phát điểm kiểm tra đầu vào giữa hai nhóm là tương đương.
  • Phân tích định tính: Khảo sát và quan sát hành vi cho thấy học sinh các lớp thực nghiệm giảm thiểu trạng thái thụ động, tích cực trao đổi và chủ động lựa chọn nhiệm vụ phù hợp với năng lực và phong cách cá nhân, cải thiện tinh thần hợp tác nhóm và gia tăng mức độ gắn kết với môn Sinh học.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Khảo sát thực trạng cho thấy 100% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của DHPH, song 56,67% chưa từng thực hiện phân hóa nhóm đối tượng do rào cản sĩ số đông và thiếu công cụ nhận diện. Về phía học sinh, 87% bày tỏ sự hứng thú (63,3% hứng thú, 23,7% rất hứng thú) nếu được học theo PCHT, 69,8% khẳng định phương pháp này giúp tiết học nhẹ nhàng và lôi cuốn hơn.
    • Hệ thống hóa chuẩn kiến thức, kỹ năng của 5 chủ đề thuộc phần Sinh thái học và môi trường theo Chương trình GDPT 2018.
    • Vận dụng thành công bộ công cụ trắc nghiệm LSI 8 câu hỏi của David Kolb và bài test Tâm lý - Hình học vào việc chẩn đoán PCHT cho học sinh THPT.
    • Xây dựng quy trình tổ chức DHPH và thiết kế minh họa bài dạy chủ đề "Sinh thái học quần xã" với hệ thống nhiệm vụ học tập chuyên biệt cho 4 nhóm phong cách học.
    • Kết quả kiểm định thống kê qua thực nghiệm trên 169 học sinh lớp 12 tại 2 trường THPT ở Cà Mau khẳng định việc dạy học phân hóa theo PCHT nâng cao điểm số kiểm tra và năng lực nhận thức sinh học so với phương pháp dạy học đồng loạt truyền thống.
  • Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
    • Đối với giáo viên: Cần chủ động trang bị kiến thức về lý luận DHPH, linh hoạt sử dụng các công cụ trắc nghiệm ngắn để chẩn đoán PCHT của học sinh ngay từ đầu năm học; đa dạng hóa hình thức giao nhiệm vụ học tập (đóng vai, thiết kế infographic, poster, dự án).
    • Đối với nhà trường và tổ bộ môn: Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn chuyên đề về DHPH, điều chỉnh tiêu chí đánh giá giờ dạy không áp đặt rập khuôn hình thức đồng loạt.
  • Đóng góp của đề tài:
    • Góp phần tổng quan và hệ thống hóa cơ sở lí luận về việc DHPH dựa trên PCHT trong giảng dạy bộ môn Sinh học ở cấp THPT theo định hướng tiếp cận năng lực của Chương trình GDPT 2018.
    • Cung cấp minh chứng thực nghiệm thực tế tại địa phương (tỉnh Cà Mau), kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả sư phạm của các đề xuất dạy học phân hóa theo PCHT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn thực nghiệm sư phạm và khảo sát thực trạng mới chỉ giới hạn ở 2 trường THPT (THPT Võ Thị Hồng và THPT Trần Văn Thời) trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau với cỡ mẫu 169 học sinh và 30 giáo viên. Nội dung thực nghiệm mới tập trung vào phần Sinh thái học và môi trường lớp 12 trong khoảng thời gian 7 tháng (từ tháng 09/2023 đến tháng 04/2024).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, hướng phát triển tiếp theo của đề tài là mở rộng quy trình tổ chức DHPH theo PCHT sang các phân môn và chủ đề khác của chương trình Sinh học THPT (như Di truyền học, Tiến hóa), đồng thời triển khai thử nghiệm trên các địa bàn và đối tượng học sinh đa dạng hơn để hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá sản phẩm học tập phân hóa.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Giáo viên bộ môn Sinh học tại các trường THPT; sinh viên ngành Sư phạm Sinh học và ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Sinh học; cán bộ quản lý chuyên môn tổ Sinh học hoặc Hóa - Sinh tại các trường phổ thông.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Bảng tổng hợp chi tiết yêu cầu cần đạt của 5 chủ đề nội dung Sinh thái học và môi trường theo Chương trình GDPT 2018.
    • Bộ câu hỏi trắc nghiệm nhận diện PCHT LSI (David Kolb) gồm 8 mục câu hỏi cùng hướng dẫn chấm điểm và bảng mô tả tính cách theo Tâm lý - Hình học (Susan Dellinger).
    • Khung ma trận nhiệm vụ học tập phân hóa theo 4 PCHT và mẫu Kế hoạch bài dạy thực nghiệm chủ đề "Sinh thái học quần xã" (Phụ lục 3) làm tài liệu tham khảo cho việc thiết kế giáo án đổi mới phương pháp dạy học.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài sử dụng những mô hình lý thuyết nào để nhận diện phong cách học tập của học sinh?
Khóa luận sử dụng mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb (1974) với bộ công cụ trắc nghiệm LSI (8 câu hỏi xác định 4 PCHT: Thích nghi, Phân kỳ, Hội tụ, Đồng hóa), mô hình PCHT của Peter Honey và Alan Mumford (1995) với 4 nhóm (Người hoạt động, Người suy ngẫm, Người lý thuyết, Người thực tế) và bài trắc nghiệm Tâm lý - Hình học của Susan Dellinger (5 biểu tượng hình học).

2. Khảo sát thực trạng cho thấy những rào cản lớn nhất nào khiến giáo viên THPT e ngại tổ chức dạy học phân hóa?
Dữ liệu khảo sát 30 giáo viên tại Cà Mau chỉ ra các khó khăn hàng đầu gồm: sĩ số lớp học quá đông, cơ sở vật chất trường học chưa đảm bảo, thiếu công cụ nhận diện PCHT của học sinh, khó thiết kế chuỗi hoạt động học tập phù hợp, khó đưa ra tiêu chí đánh giá sản phẩm học tập và thời lượng tiết học trên lớp bị hạn chế.

3. Nội dung "Sinh thái học và môi trường" môn Sinh học 12 trong khóa luận gồm những chủ đề nào?
Nội dung này gồm 5 chủ đề: (1) Môi trường và các nhân tố sinh thái; (2) Sinh thái học quần thể; (3) Sinh thái học quần xã; (4) Hệ sinh thái; (5) Sinh thái học phục hồi, bảo tồn và phát triển bền vững.

4. Khóa luận tiến hành thực nghiệm sư phạm ở đâu, trong thời gian nào và trên quy mô bao nhiêu học sinh?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trong năm học 2023 - 2024 (thời gian thực hiện đề tài từ tháng 09/2023 đến tháng 04/2024) trên 169 học sinh lớp 12 tại Trường THPT Võ Thị Hồng và Trường THPT Trần Văn Thời, thuộc huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

5. Khi được học theo phong cách học tập cá nhân, học sinh gặp những thuận lợi và khó khăn gì?
Theo kết quả khảo sát 169 học sinh, thuận lợi lớn nhất là tiết học trở nên thú vị, nhẹ nhàng, hấp dẫn hơn (69,8%) và dễ lĩnh hội kiến thức hơn (50,9%). Khó khăn phổ biến nhất là học sinh bị lúng túng khi tự lựa chọn nhiệm vụ học tập (56,2%) và thiếu nguồn tài liệu tham khảo (46,7%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thành Đạt đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về dạy học phân hóa theo phong cách học tập của học sinh và đánh giá toàn diện thực trạng dạy học môn Sinh học tại các trường THPT thuộc tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu đã phân tích yêu cầu cần đạt của phần Sinh thái học và môi trường (Sinh học 12), xây dựng quy trình tổ chức dạy học phân hóa dựa trên mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb và thiết kế kế hoạch bài dạy minh họa cho chủ đề "Sinh thái học quần xã". Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 169 học sinh lớp 12 tại Trường THPT Võ Thị Hồng và Trường THPT Trần Văn Thời đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả của phương pháp trong việc nâng cao kết quả học tập và phát triển năng lực nhận thức sinh học cho học sinh phổ thông.