Chương I: THỰC TRANG VIỆC DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH MÔN HỌC LỊCH SỬ HIỆN NAY Ở TRƯỜNG THPT 1. Thực trạng day học lịch sử hiện nay 1. Vai trò của môn lịch sử Trong nhà trường phổ thông của hầu hết các quốc gia trên thế giới ma đặc biệt là ở các quốc gia có nên kinh tế phát triển, lịch sử là một môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo, đặc biệt là trong các kỳ thi quan trọng đều có mặt. Nếu như học sinh từng bước được trang bị kiến thức về cội nguồn dân tộc, truyền thống đánh giặc giữ nước, truyền thống lao động.
cần cù, sáng tao và những giá trị văn hóa tinh than mà ông cha minh, cũng như các nhà khai sáng khác đã gay dựng. gìn giữ bao đời thì chắc chắn từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, một thế giới quan đầy tính nhân văn sẽ được hình thành trong tâm hồn trẻ thơ qua bộ môn học lịch sử nay, Như tổng thống V.Putin (Nga) đã từng phát biểu một câu nói rất nổi tiếng, gây sự suy nghĩ sâu sắc về vấn để này “kẻ nào quên quá khứ thì kẻ đó không có tréitimTM, Thật vậy, lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Lịch sử Việt Nam còn là lịch sử của một nền văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, là lịch sử của tình đoàn kết, lao động cần cù, kiên nhẫn và sáng tạo, luôn “chung lưng đấu cật”, đoàn kết yêu thương mang đậm tư tưởng nhân văn tiến bd. trong một cộng đồng rộng lớn, mang tính hệ thống đoàn kết và kết dính lại nới nhau: nhà-làng-nước- dan tộc.
Học lịch sử Việt Nam thì chúng ta mới hiểu được đạo lý của con người Việt Nam. mới yêu quý và trân trọng những thành quả của cha ông ta trước kia, mới hiểu được thành tựu sáng tạo, những phẩm giá tinh thắn của cha ông thuở trước. Chính lịch sử đã hun đúc nên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và trở thành bén vững sống động. Và cũng chính lịch sử kết hợp cùng văn hóa là kết cấu vững chắc, trở thành nội lực cho sự tổn tại và phát triển của một dan tộc.
Gs-Ts Ngô Vin Lẻ, 2006 Tôn Trong Lich Sử Là Tiêu Chi Của Doi Mới, Hội Tháo "Din Ta Phái Hiết Sử Ta”: Báo Người Lao Đông Trang 9 Kiếm tra đánh giá bằng hình thức ưắc a SV:Nguyễn Minh Trung Lịch sử có vai trò to lớn như vậy, nhưng hiện nay trong xã hội và nhà trường môn học lịch sử còn bị xem là môn phụ, học sinh ít muốn học, học qua loa, chiếu lệ hay buộc phải học. Kết quả chấm thi ĐH trong hai nam gắn nay (2005-2006, 2006-2007) khiến nhiều người không khỏi giật minh “ bội thực điểm 0 môn lịch sử " trong các kỳ thi Dai Học số thí sinh đạt điểm trên trung bình chiếm tỉ lệ rất thấp. Việc dạy lịch sử cũng chưa được chú trọng. Thấy cô giáo lên lớp chỉ nói qua loa nội dung bài học rỗi sau đó chỉ có nhiệm vụ là đọc cho học sinh chép.
Chu trình dạy và học chỉ gói gọn vào việc ” đọc và chép ”. Học sinh đến lớp trả bài cho thay cô thuộc ro ro như “vet”, không sai một ly một ti nào so với nội dung đã được phi trong tập học. đến khi tan trường qua hôm khác lại quên sạch sành sanh. Cách học, cách dạy như vậy thì làm sao đạt hiệu quả cao.
Giới trẻ hầu như chỉ tiếp cận với lịch sử đất nước bằng một con đường duy nhất là các bài giảng khô khan của thấy cô trong nhà trường thông qua sách giáo khoa, nổi cộm chính là ở Sách giáo khoa chương trình cải cách. sự bất cập thể hiện rõ ở dung lượng kiến thức trong một bài học quá nhiều nhưng thời gian theo phân phối chương trình cho các bài học lại ít. Ngay trong quá trình học lịch sử ở PT thì học sinh cũng học để lấy đủ điểm qua, để đi thi tốt nghiệp hoặc ĐH chứ không phải học để biết, để hiểu và để vận dụng vào cuộc sống, vì cho rằng đó chỉ là môn phụ và quan niệm sai lắm khi cho rằng Lịch sử không áp dụng vào trong cuộc sống mà chỉ có các môn thuộc Khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Do vậy, mà theo xu hướng thống kê thì khi thi DH , học sinh cũng theo xu hướng thi vào các nghành điện tử, y dược, quản trị kinh doanh, kinh tế, thương mai, sư phạm khối tự nhiên còn các nghành xã hội như văn học, lịch sử, địa lý, nhân học, triết học, xã hội học.
ít người hãm mộ, mà đặc biệt là những ngành có liên quan mật thiết vơi Lịch Sử.vì được ít học sinh theo hoc, thi ĐH các môn xã hội nên trong trường PT thấy cô giáo dạy lịch sử cũng có phần sao nhằng trách nhiệm của mình. Đôi khi có tư tưởng day cho qua chuyện, trong lớp học sinh hiếu động mất trật tự hoặc chán nản chỉ có cảm giác buồn ngủ, nghe lời giảng của thấy cô mà giống như nghe “sấm” thì giáo viên lụi càng không muốn nhấn mạnh, giảng giải kỹ các chủ để của bài học. Còn nếu muốn giảng kỹ phần Giáo viên cho đó là phan tâm đắt nhất thì điều tất yếu là sẽ không kip thời gian và dẫn đến việc “cháy giáo án”, bài học dang dé. Do đó, về khách quan thì thay cô vẫn chưa hoàn thành được nhiệm vụ giáo dục, lên lớp đúng giờ, dạy đúng tiết.
Nhưng thực tế học trò không m—mmmmmmmmm======C=EE=ẳï======ễễễễ._ằ_ễ_ Trang 10 Kiểm tra đánh giá bàng hình thức trắc nghiện L SV:Nguyén Minh Trung nghe và không nhớ được kiến thức mà thấy đang giảng ở trên lớp. Có lẻ những thực tế xã hội cùng với các yếu tố công lại. làm cho các môn học thuộc dẫn dan bị coi nhẹ, học sinh học lịch sử chỉ là một môn phụ, học để chỉ đủ điểm cho qua dù phải học những con số khó nhớ; người ta không quan tâm nhiều đến lịch sử. Trong khi đó một hiện thực dau lòng là đối nghịch với hiện tượng lơ là với lịch sử Việt Nam thì học sinh lại có khả năng biết nhiều về lịch sử Trung Quốc.
qua các con đường đa dạng và dẻ tiếp nhận. Làm sao không bị hấp dẫn bởi những trang lịch sử Trung Quốc được trình bày một cách xinh động qua những bộ phim da sử đẩy kịch tính cùng dàn diễn viên tài nang và xinh đẹp, đang là tiêu điểm, thần tượng của lứa tuổi học sinh. That là ngạc nhiên khi dân tộc ta không thiếu những vị anh hùng, cũng như những tích của các trạng nguyên thật sống động, lý thú nhưng lại không được khai thác triệt để thành những bộ phim hay những tác phẩm van học sử dé xem và dé hiểu. Đây là điểu mà nước láng giéng Trung Quốc làm rất tốt và đạt hiệu quả cao.
Nước ta có bao nhiêu bộ phim về lịch sử, bao nhiêu tác phẩm van học sử bán chạy nhất. Gan đây có chăng chỉ có mỗi bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt, Trạng Quỳnh, Trạng Quỷnh dành cho lứa tuổi thiếu nhi nhưng đa phan người xem chi doc phần truyện tranh chứ ít ai đọc phần chữ sau mỗi quyển truyện, còn bộ truyện tranh "Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thì hình vẽ chưa thật sự hấp dẫn nên vẫn chưa có sức lôi cuốn những bạn trẻ ngày nay. Một số lượng quá khiêm tốn trong một kho tàng lịch sử lâu đời hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước kiên cường của ông cha ta. Qua bài viết của tác giả Tran Như Thanh Tâm (Sở Giáo duc-Dao tạo Thành phố Hồ Chí Minh) ta sẽ thấy rõ một phần nào đó thực trạng của giáo viên và học sinh với việc dạy và học lịch sử hiện nay trong các nhà trường PT ở Thành phố Hé Chí Minh.
Số lượng giáo viên môn lịch sử của toàn Thành phố cũng khá khiêm tốn so với các môn học khác. Tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2006 thì tổng số giao viên giảng dạy bộ môn lịch sử ở cả hai cấp học là 954 giáo viên, trong đó: Bậc THCS: 623 người (510 nữ), Nguồn đào tạo : CD Sư Phạm là 287 người, ĐH hóa là 336 người. - Bậc THPT : 322 người (234 nữ). Nguồn đào tạo: DH là 318 người, sau DH là 4 người,Ì ‘Tran Như Thanh Tâm, 2006, Thực trang và những giải pháp nắng cao chất lượng day học, bôi thảo “dân ta phải biết sử ta ”-Háo Người Lao Đồng === Trang 11 Kiểm tra đánh giá bàng hình thức trắc nghiệm ŠV-Nguyễn Minh Trung Đại da số giáo viên dang giảng day môn lịch sử tại thành phố Hé Chi Minh đều có tâm huyết với nghề.
Di đời sống còn không ít khó khăn, ho vẫn không ngừng khấc phục những lo toan trong cuộc sống riêng để có tiếp tục đứng lên bục giảng. Nhiệt tình, chịu khó, ham học hỏi đó là những đức tính của giáo viên lịch sử thành phố Hỏ Chí Minh mà tác giả Tran Như Thanh Tâm đã cảm nhân một cách sâu sắc trong quá trình công tác. Cũng như một số môn “phụ”, phan lớn giáo viên môn lịch sử chỉ sống chủ yếu bằng đồng lương vì họ thật sự khó tìm được một việc làm phu hợp với nghề nghiệp của mình đã được đào tạo. Đôi lúc, họ còn trích số tiền lương it ỏi của mình để làm để dùng day học hoặc mua các loại vách tham khảo c4n thiết để phục vụ cho công việc chuyên môn.
Những giờ dạy với sự nhiệt tình cao độ đã khiên cho các em học sinh lại càng yêu quý thấy cô hơn, vì thay cô đã thể hiện đúng tinh thần * tất cả vì học sinh thân yêu” của họ. Ngoài khó khăn về đời sống vật chất, người giáo viên lịch sử trong nhà trường PT còn gặp không ít những khó khan về lĩnh vực chuyên môn như nôi dung chương trình, phương pháp dạy học và cả phương pháp thi cử, đánh giá cụ thể như: - Vé nội dung chương trình: chương trình quá dàn trải, cách viết xách giáo khoa đôi lúc vẫn con mang tính hàn lâm khiến cho sự truyền đạt của giáo viên có thể gặp những khó khăn; số tiết quá ít trong khi lại phải chuyển tải một khối lượng kiến thức khổng lồ. - Vé phương pháp dạy học: tuy nắm vững các nguyên tắc về đổi mới phương pháp dạy học nhưng một số giáo viên vẫn chưa thực hiện tốt do điều kiện giảng dạy (nhất là phương tiện giảng dạy) chưa đáp ứng được các yêu cầu của họ. Đặc biệt phần tranh ảnh, bản đổ mới dùng làm phương tiện hỗ trợ dạy học thì khó mà làm cho học sinh hiểu nội dung từ phương tiện của giáo viên đưa ra.