Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Kiểm tra đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan môn Lịch sử" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Minh Trung (Lớp IV B - K31, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Ngô Minh Oanh, hoàn thành vào tháng 4 năm 2009.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn:
- Ý nghĩa khoa học: Quá trình dạy, học và kiểm tra đánh giá môn Lịch sử tại các trường phổ thông tồn tại nhiều bất cập trên cả ba phương diện: phương pháp giảng dạy của giáo viên, thái độ học tập của học sinh và phương thức đánh giá kết quả. Trong bối cảnh ngành giáo dục triển khai cuộc vận động đổi mới toàn diện từ mầm non đến sau đại học theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo gắn với phong trào "ba không", "chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục", việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan bắt đầu được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, do là hình thức mới, giáo viên phổ thông còn lúng túng về kỹ thuật soạn thảo đề thi, trong khi học sinh còn bỡ ngỡ về phương pháp làm bài.
- Ý nghĩa thực tiễn: Các kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT) và tuyển sinh Đại học - Cao đẳng (ĐH-CĐ) các năm 2006, 2007, 2008 đã áp dụng trắc nghiệm cho các môn Ngoại ngữ, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Toán và có định hướng mở rộng sang môn Lịch sử. Thực tế phản ánh một nghịch lý lớn: điểm thi tốt nghiệp THPT môn Lịch sử có tỷ lệ đạt yêu cầu rất cao (thường xấp xỉ hoặc trên 90%), nhưng trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ cùng giai đoạn (từ năm 2005 đến năm 2008), điểm thi môn Lịch sử lại xuất hiện điểm 0 và điểm 1 với tỷ lệ kỷ lục. Ngoài ra, học sinh có xu hướng coi Lịch sử là môn phụ, phương thức kiểm tra tự luận truyền thống thúc đẩy lối học vẹt, học tủ để đối phó điểm số.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát và đánh giá thực trạng dạy học, kiểm tra đánh giá môn Lịch sử tại một số trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và quy trình kỹ thuật xây dựng công cụ trắc nghiệm khách quan phục vụ môn Lịch sử.
- Vận dụng biên soạn thử nghiệm hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan vào một số bài học cụ thể trong chương trình Lịch sử lớp 10 Ban cơ bản.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Lịch sử bằng hình thức trắc nghiệm khách quan ở trường THPT.
- Phạm vi lý thuyết: Tình hình dạy học lịch sử và các nguyên lý đo lường, quy trình thiết kế bài trắc nghiệm khách quan.
- Phạm vi vận dụng: Chương trình Lịch sử lớp 10 - Ban cơ bản, phần Lịch sử Việt Nam trong học kỳ II (từ Bài 21 đến Bài 24).
- Phạm vi không gian và thời gian khảo sát: Thực hiện khảo sát thực tế tại Trường THPT Nguyễn Du (Quận 10), Trường THPT Trần Khai Nguyên (Quận 10) và Trường THPT Nguyễn Trãi (Quận 4), TP. Hồ Chí Minh trong đợt thực tập sư phạm học kỳ II năm học 2008 - 2009.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và lịch sử nghiên cứu:
Khóa luận tổng thuật các công trình nghiên cứu về đo lường và đánh giá giáo dục:
- Nghiên cứu của Robert L. Ebel (1965) về đo lường thành quả học tập, so sánh phương pháp luận đề (tự luận) và trắc nghiệm.
- Các công trình thực nghiệm của Godshalk, Choppin và Purves (thập niên 1960 - 1970) chứng minh trắc nghiệm có khả năng tiên đoán thành quả học tập tổng quát tương đương luận đề.
- Lý luận đánh giá giáo dục của Hilda Taba (1962) và Tanner (2001) về thang đo lường, xếp hạng và đánh giá định tính/định lượng.
- Các công trình của Dương Thiệu Tống (1995, 1998): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập (Tập 1 và Tập 2 - Trắc nghiệm tiêu chí), trình bày nguyên lý căn bản, kỹ thuật soạn thảo trắc nghiệm tiêu chí và trắc nghiệm chuẩn mực.
- Tài liệu Phương pháp dạy học lịch sử của Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (chủ biên) cùng Trịnh Tùng, Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thế Kim, Phạm Hồng Việt (1997), phân tích các dạng trắc nghiệm lịch sử từ trang 223 đến trang 227.
- Giáo trình Đo lường và đánh giá kết quả học tập (2004) của nhóm giảng viên Lê Trung Chính, Đoàn Văn Điều, Võ Văn Nam, Ngô Đình Qua, Lý Minh Tiên thuộc Khoa Tâm lý Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
- Chuyên đề đổi mới dạy học của Lê Vinh Quốc (2008) về quá trình giáo dục hiện đại tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử: Đánh giá khách quan, trung thực thực trạng dạy, học và kiểm tra đánh giá môn Lịch sử qua các giai đoạn và tư liệu thực tế.
- Phương pháp logic: Xây dựng quy trình các bước soạn thảo, phân tích nội dung và thiết kế ma trận dàn bài trắc nghiệm có mối liên kết chặt chẽ.
- Phương pháp so sánh sử học và phương pháp định lượng: Phân tích, tổng hợp và xử lý dữ liệu thống kê từ phiếu điều tra học sinh cũng như bảng điểm thi các năm.
- Phương pháp giáo dục học: Trực tiếp thiết kế phiếu khảo sát và thăm dò ý kiến học sinh phổ thông trong quá trình thực tập sư phạm.
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh (Trần Như Thanh Tâm, tính đến 15/12/2006); dữ liệu điểm thi tốt nghiệp và tuyển sinh ĐH các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Đà Lạt, Đại học Sư phạm Đồng Tháp, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh; các tham luận tại Hội thảo khoa học "Dân ta phải biết sử ta" (2006) trên Báo Người Lao Động.
- Dữ liệu sơ cấp: 250 phiếu khảo sát thu thập từ học sinh 3 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; nội dung Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 chương trình cải cách - Ban cơ bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Thực trạng việc dạy học và kiểm tra đánh giá môn Lịch sử hiện nay ở trường THPT
Chương này tập trung phân tích thực trạng dạy, học và kiểm tra đánh giá môn Lịch sử qua các tư liệu thực tế và số liệu điều tra:
-
Vai trò và thực trạng dạy học: Mặc dù Lịch sử có vai trò bồi dưỡng thế giới quan nhân văn và lòng yêu nước, xã hội và nhà trường vẫn coi đây là môn phụ. Việc dạy học chủ yếu theo chu trình thụ động "đọc và chép", dẫn đến học sinh học vẹt. Sách giáo khoa chương trình cải cách có lượng kiến thức quá nhiều trong khi thời lượng phân phối chương trình quá ít (nhiều khối lớp chỉ có 1 tiết/tuần). Học sinh có xu hướng thi vào các khối ngành kỹ thuật, kinh tế, thương mại, y dược và xa lánh các ngành khoa học xã hội. Tác giả dẫn chứng hiện tượng học sinh am hiểu lịch sử Trung Quốc qua phim ảnh truyền hình nhưng nhầm lẫn nghiêm trọng về lịch sử Việt Nam (như thí sinh cuộc thi "Đường lên đỉnh Olympia" trả lời sai về chiến dịch Điện Biên Phủ, nhầm lẫn Hai Bà Trưng và Bà Triệu, hoặc học sinh Trường THCS Nguyễn Văn Bé không biết tiểu sử nhân vật mang tên trường).
-
Thực trạng đội ngũ giáo viên tại TP. Hồ Chí Minh (theo báo cáo ngày 15/12/2006 của Trần Như Thanh Tâm):
- Cấp THCS: 623 giáo viên (510 nữ); đào tạo từ CĐ Sư phạm là 287 người, trình độ Đại học là 336 người.
- Cấp THPT: 322 giáo viên (234 nữ); trình độ Đại học là 318 người, sau Đại học là 4 người.
Đội ngũ giáo viên gặp nhiều khó khăn về đời sống kinh tế, thiếu thốn đồ dùng, phương tiện trực quan dạy học và phải chịu áp lực chạy theo chỉ tiêu tỷ lệ tốt nghiệp.
-
Đối chiếu số liệu điểm thi môn Lịch sử:
- Kỳ thi tuyển sinh ĐH năm 2005 - 2008 tại ĐHSP TP. Hồ Chí Minh: Tỷ lệ bài thi đạt yêu cầu (từ 5 đến 10 điểm) cao nhất là 38,40%, thấp nhất là 3,44%, bình quân chỉ khoảng 15%. Tỷ lệ bài thi không đạt yêu cầu (từ 0 đến 4,5 điểm) bình quân khoảng 85%, trong đó điểm kém (0 đến 2,5 điểm) chiếm từ 37,52% đến 86,00%.
- Số liệu tại các trường ĐH khác: ĐH Sư phạm Hà Nội có 4.038 / 5.399 thí sinh đạt từ điểm 3 trở xuống; ĐH Đà Lạt có 4.650 / 7.807 thí sinh đạt từ điểm 1 trở xuống; ĐH Sư phạm Đồng Tháp có 1.052 / 1.374 thí sinh đạt từ điểm 3 trở xuống.
- Trái ngược với kỳ thi ĐH, tỷ lệ đạt yêu cầu môn Lịch sử trong kỳ thi tốt nghiệp THPT tại TP. Hồ Chí Minh luôn ở mức rất cao (thường đạt từ 80% đến trên 90%).
-
Thực trạng các hình thức kiểm tra đánh giá:
- Hình thức vấn đáp: Thường dùng kiểm tra bài cũ đầu giờ, đòi hỏi câu hỏi rõ ràng nhằm phát triển tư duy diễn đạt nhưng dễ gây tâm lý đối phó và hạn chế về mặt thời gian.
- Hình thức tự luận: Kiểm tra viết 15 phút, 1 tiết hoặc kiểm tra cuối năm; giúp đánh giá chiều sâu tư duy nhưng tốn thời gian chấm, dễ chịu ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan của người chấm.
- Hình thức trắc nghiệm: Phân chia làm 3 loại (quan sát, vấn đáp, viết). Trắc nghiệm viết gồm dạng tự luận mở (essay) và trắc nghiệm khách quan (objective test).
-
Kết quả khảo sát thực tế trên 250 phiếu tại 3 trường THPT:
- Hứng thú học Lịch sử: 54 học sinh trả lời có (21,6%), 18 học sinh trả lời không (7,2%), 178 học sinh trả lời bình thường (71,2%).
- Sự cần thiết của môn Lịch sử: Chỉ 2,4% cho rằng không cần thiết; hơn 50% khẳng định cần thiết và rất cần thiết.
- Nguyên nhân học yếu/không thích: Bài dài, nhiều sự kiện khó nhớ (53 ý kiến); chương trình SGK nặng và áp lực dành thời gian cho các môn thi chính (chiếm gần 50%); cách dạy thiếu hấp dẫn của giáo viên (8 ý kiến).
- Tiếp cận trắc nghiệm: 100% học sinh cho biết thầy cô đã từng tổ chức kiểm tra trắc nghiệm; đại đa số học sinh thích làm bài trắc nghiệm vì giúp củng cố kiến thức sâu rộng (38 ý kiến), rèn luyện tư duy suy luận phán đoán (34 ý kiến), chỉ cần nắm ý chính không cần học vẹt chi tiết (31 ý kiến), tuy nhiên có 32 ý kiến cho rằng phương pháp này có tính may rủi.
Chương II: Kiểm tra và đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan và quá trình tiến hành
Chương II tập trung xây dựng cơ sở kỹ thuật và quy trình tiến hành soạn thảo bài trắc nghiệm khách quan:
-
Quy trình phân tích nội dung biên soạn (4 bước):
- Bước 1: Xác định các ý tưởng chính của bài học hoặc chương học cần kiểm tra.
- Bước 2: Lựa chọn từ ngữ, khái niệm then chốt mà học sinh bắt buộc phải hiểu và giải nghĩa được.
- Bước 3: Phân loại hai nhóm thông tin: thông tin dùng để giải nghĩa/minh họa và khái niệm cốt lõi của môn học.
- Bước 4: Lựa chọn các thông tin, ý tưởng đòi hỏi học sinh phải vận dụng vào tình huống mới.
-
Thiết kế ma trận dàn bài trắc nghiệm:
Lập bảng quy định hai chiều (Table of Specifications) kết hợp giữa nội dung bài học và 3 mức độ nhận thức: Biết, Hiểu, Áp dụng. Ma trận quy định rõ số lượng câu hỏi và tỷ lệ phân bố điểm số cho từng phần (minh họa cụ thể qua Bài 19 và Bài 23 Lịch sử 10).
-
Quy mô đề thi và thời gian kiểm tra:
- Số câu hỏi phụ thuộc vào thời lượng kiểm tra: bài kiểm tra 1 tiết (40 - 45 phút) nên bố trí từ 40 đến 50 câu; đề thi 2 giờ có thể từ 100 câu trở lên; bài kiểm tra củng cố ngắn khoảng 20 câu; bài kiểm tra chuẩn mực đảm bảo độ tin cậy cần từ 30 câu trở lên.
- Định mức thời gian làm bài: trung bình 1 phút cho 1 câu nhiều lựa chọn; 0,5 phút cho 1 câu đúng - sai.
- Công thức xác suất may rủi: $P = 1/n$ ($n$ là số lựa chọn trong mỗi câu). Khi $n = 4$, độ may rủi là 25%; khi $n = 5$, độ may rủi giảm xuống 20%.
-
Điều kiện đối với giáo viên khi soạn trắc nghiệm:
- Nắm vững chuyên môn lịch sử để xác định đúng trọng tâm kiến thức.
- Am hiểu kỹ thuật biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
- Có kỹ năng diễn đạt ngắn gọn, tường minh, chính xác ý tưởng.
-
Các loại câu hỏi trắc nghiệm dùng trong môn Lịch sử:
- Câu trắc nghiệm Đúng - Sai: Gồm câu phát biểu và hai phương án Đ/S. Ưu điểm là đặt được nhiều câu hỏi trong thời gian ngắn, cấu trúc đơn giản. Hạn chế là tỷ lệ đoán mò cao (50%), dễ khuyến khích học vẹt. Tác giả nêu 6 quy tắc soạn thảo: sử dụng dè dặt; dựa trên ý niệm căn bản chắc chắn; câu hỏi cần buộc học sinh phải suy nghĩ; mỗi câu chỉ diễn đạt một ý tưởng duy nhất; không chép nguyên văn SGK; tránh dùng các từ tuyệt đối ("tất cả", "không bao giờ") hoặc từ dè dặt ("thường thường", "đôi khi").
- Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (Multiple Choice): Gồm phần dẫn (câu hỏi hoặc câu lửng) và các phương án lựa chọn (1 đáp án đúng và 3 - 4 phương án nhiễu/mồi nhử). Mồi nhử phải có tính hợp lý và hấp dẫn ngang nhau đối với học sinh chưa nắm vững bài. Cần tránh các lỗi kỹ thuật: câu đúng dài vượt trội, lộ đáp án qua ngữ pháp, mồi nhử đối chọi nhau hoặc sai một cách ngô nghê.
- Câu trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (Matching): Gồm cột dẫn (cột 1) và cột lựa chọn (cột 2). Yêu cầu số lựa chọn ở hai cột không bằng nhau nhằm triệt tiêu phương pháp loại trừ ở câu cuối cùng.
- Câu trắc nghiệm điền khuyết: Yêu cầu học sinh điền từ/cụm từ vào chỗ trống. Hạn chế lớn là tính khách quan khi chấm không tuyệt đối, chỉ nên sử dụng khi đáp án là thuật ngữ duy nhất đúng.
- Các dạng câu hỏi khác: Sắp xếp sự kiện lịch sử theo thứ tự biên niên (thời gian) và ghép nối nhân vật/sự kiện với quốc gia tương ứng.
Chương III: Vận dụng trắc nghiệm khách quan vào một số bài trong chương trình Lịch sử lớp 10
Chương này hiện thực hóa quy trình lý thuyết vào thực tiễn giảng dạy chương trình Lịch sử lớp 10 - Ban cơ bản (phần Lịch sử Việt Nam trong học kỳ II, từ Bài 21 đến Bài 24):
- Tác giả lập bảng phân tích nội dung và thiết kế ma trận mục tiêu chi tiết cho các bài học tiêu biểu như Bài 19 ("Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ X - XV") và Bài 23 ("Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc cuối thế kỷ XVIII").
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm mẫu đa dạng thể loại (nhiều lựa chọn, đúng - sai, ghép đôi, điền khuyết, sắp xếp thứ tự biên niên) bám sát các mức độ nhận thức:
- Mức độ biết: Tái hiện mốc thời gian, niên đại, tên nhân vật và địa danh lịch sử (như sự kiện thành lập nhà Hồ năm 1400, trận Như Nguyệt năm 1077).
- Mức độ hiểu: Phân tích nguyên nhân, đặc điểm và bản chất sự kiện (như kế sách "tiên phát chế nhân" của Lý Thường Kiệt, điểm khác biệt giữa cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê và thời Lý).
- Mức độ áp dụng: Đánh giá bài học lịch sử, so sánh các giai đoạn kháng chiến và liên hệ thực tiễn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực chứng và mang lại những đóng góp cụ thể:
Dữ liệu khảo sát thực tế tại 3 trường THPT (250 học sinh):
| Nội dung khảo sát |
Số lượng ý kiến / Tỷ lệ phản hồi |
| Thái độ đối với môn Lịch sử |
- Hứng thú (Có): 54 phiếu (21,6%) - Không thích: 18 phiếu (7,2%) - Bình thường: 178 phiếu (71,2%) |
| Đánh giá về tính cần thiết của môn Sử |
- Không cần thiết: 2,4% - Rất cần thiết và cần thiết: > 50,0% |
| Lý do học sinh chưa đạt chất lượng môn Sử |
- Bài dài, nhiều sự kiện khó nhớ: 53 ý kiến - SGK nặng, thiếu hấp dẫn & áp lực môn chính: chiếm gần 50% - Giáo viên dạy buồn ngủ, thiếu hấp dẫn: 8 ý kiến - Học lý thuyết, không thấy ứng dụng: 6 ý kiến |
| Lợi ích của kiểm tra trắc nghiệm theo học sinh |
- Củng cố, đem lại kiến thức rộng: 38 ý kiến - Rèn luyện tư duy, phán đoán: 34 ý kiến - Có yếu tố hên xui, may mắn: 32 ý kiến - Chỉ cần nắm ý chính, không cần học chi tiết: 31 ý kiến - Dễ làm, dễ nhớ, tránh nhầm lẫn: 23 ý kiến |
Đóng góp của khóa luận:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và chuẩn hóa quy trình 4 bước phân tích nội dung, phương pháp lập bảng quy định 2 chiều (ma trận kiến thức) cho môn Lịch sử phổ thông theo 3 mức độ nhận thức (biết, hiểu, áp dụng).
- Về mặt phương pháp: Xác định rõ quy tắc kỹ thuật biên soạn cho từng loại câu trắc nghiệm (đúng - sai, nhiều lựa chọn, ghép đôi, điền khuyết, sắp xếp biên niên), chỉ ra các lỗi kỹ thuật thường gặp khi đặt mồi nhử/câu nhiễu.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm mẫu được phân loại rõ ràng cho phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 Ban cơ bản, phục vụ trực tiếp công tác kiểm tra đánh giá tại các trường THPT.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Quy mô khảo sát thực tế giới hạn trong 250 học sinh tại 3 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; phạm vi vận dụng biên soạn thử nghiệm mới tập trung vào một số bài cụ thể của chương trình Lịch sử lớp 10 học kỳ II (từ Bài 21 đến Bài 24); thời gian tiến hành thực nghiệm ngắn do phụ thuộc vào đợt thực tập sư phạm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm chuẩn hóa cho toàn bộ chương trình Lịch sử bậc THPT (các khối 10, 11 và 12); nghiên cứu thử nghiệm trên diện rộng để tính toán các chỉ số thống kê đo lường chuyên sâu như độ khó thực tế, độ phân cách của từng câu hỏi và đánh giá chất lượng mồi nhử bằng các phần mềm phân tích đo lường giáo dục.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên các ngành Sư phạm Lịch sử, giáo viên Lịch sử đang giảng dạy tại các trường THPT, cán bộ chỉ đạo chuyên môn tại các phòng/sở giáo dục và đào tạo.
- Nội dung có giá trị ứng dụng:
- Quy trình 4 bước phân tích nội dung bài học để chuyển hóa sự kiện lịch sử thành câu hỏi trắc nghiệm (Chương II).
- Hướng dẫn thiết kế ma trận kiểm tra hai chiều kết hợp mục tiêu biết - hiểu - áp dụng (Chương II).
- Cẩm nang nhận diện và xử lý các lỗi kỹ thuật khi biên soạn phương án nhiễu trong câu hỏi nhiều lựa chọn (Chương II).
- Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm mẫu minh họa cho phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 Ban cơ bản (Chương III).
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát thực tế trong khóa luận được triển khai tại những trường nào với cỡ mẫu bao nhiêu?
Khảo sát được thực hiện trên tổng số 250 phiếu tại 3 trường THPT ở TP. Hồ Chí Minh, bao gồm: Trường THPT Nguyễn Du (Quận 10) với 99 phiếu (lớp 10C3 và 10C4); Trường THPT Trần Khai Nguyên (Quận 10) với 76 phiếu (lớp 11A11 và 11A12); Trường THPT Nguyễn Trãi (Quận 4) với 75 phiếu (lớp 11B6 và 11B8).
2. Thực trạng điểm thi tuyển sinh ĐH môn Lịch sử giai đoạn 2005 - 2008 được tác giả phản ánh bằng những số liệu nào?
Tại Trường ĐH Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, tỷ lệ bài thi môn Sử đạt yêu cầu (từ 5 đến 10 điểm) bình quân chỉ khoảng 15%, bài không đạt yêu cầu chiếm bình quân 85%, trong đó điểm kém (0 đến 2,5 điểm) chiếm từ 37,52% đến 86,00%. Ở các trường khác, ĐH Sư phạm Hà Nội có 4.038 / 5.399 thí sinh đạt điểm từ 3 trở xuống; ĐH Đà Lạt có 4.650 / 7.807 thí sinh đạt điểm từ 1 trở xuống; ĐH Sư phạm Đồng Tháp có 1.052 / 1.374 thí sinh đạt điểm từ 3 trở xuống.
3. Quy trình phân tích nội dung trước khi ra đề trắc nghiệm gồm những bước nào?
Quy trình gồm 4 bước: (1) Tìm ra các ý tưởng chính của bài hoặc chương cần kiểm tra; (2) Lựa chọn từ ngữ, khái niệm mà học sinh phải giải nghĩa được; (3) Phân loại hai nhóm thông tin (thông tin giải nghĩa/minh họa và khái niệm cốt lõi); (4) Lựa chọn các thông tin đòi hỏi học sinh vận dụng giải quyết vấn đề trong tình huống mới.
4. Khóa luận khuyến nghị quy mô câu hỏi và thời lượng cho một bài kiểm tra 1 tiết trắc nghiệm như thế nào?
Đối với bài kiểm tra 1 tiết (40 đến 45 phút), số lượng câu hỏi phù hợp là từ 40 đến 50 câu. Định mức thời gian chuẩn là khoảng 1 phút cho một câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn và 0,5 phút cho một câu trắc nghiệm đúng - sai. Đề kiểm tra chuẩn mực cần có từ 30 câu trở lên để đảm bảo độ tin cậy.
5. Vì sao hình thức câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết ít được khuyến khích trong bài kiểm tra khách quan chuẩn mực?
Hình thức điền khuyết thiếu tính khách quan tối đa khi chấm điểm vì người chấm khó dự đoán hết các cách trả lời khác nhau nhưng vẫn đúng của học sinh, đồng thời việc chấm điểm tốn nhiều thời gian hơn so với các dạng trắc nghiệm chọn đáp án có sẵn. Dạng này chỉ nên dùng khi câu trả lời cực ngắn và tiêu chuẩn đúng/sai hoàn toàn rõ ràng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Trung đã phản ánh toàn diện thực trạng dạy, học và kiểm tra đánh giá môn Lịch sử tại các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu chuyển đổi hình thức thi cử sang trắc nghiệm khách quan. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, thiết lập quy trình 4 bước phân tích nội dung và xây dựng ma trận đánh giá 3 mức độ nhận thức (biết, hiểu, áp dụng) chuyên biệt cho môn Lịch sử. Hệ thống câu hỏi vận dụng thử nghiệm vào chương trình Lịch sử lớp 10 Ban cơ bản cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho giáo viên phổ thông và sinh viên ngành sư phạm.