Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Địa y là một dạng sinh vật cộng sinh đặc biệt giữa nấm (mycobiont) và một thành phần quang hợp (photobiont), thường là tảo lục (green alga) hoặc vi khuẩn lam (cyanobacterium). Trong mối quan hệ tương hỗ này, thành phần quang hợp tổng hợp các chất dinh dưỡng hữu cơ dạng carbohydrate, trong khi nấm đảm nhận chức năng hấp thu nước, khoáng chất và tổng hợp các chất chuyển hóa thứ cấp có khả năng chống bức xạ cực tím (UV) cũng như bảo vệ sinh vật trước sự xâm hại của động vật ăn cỏ và vi sinh vật. Nhờ cơ chế thích nghi đặc thù, địa y có thể sinh trưởng tại các môi trường khắc nghiệt như vách đá, thân cây cằn cỗi ở vùng nhiệt đới và vùng vĩ độ cao. Tại Việt Nam, địa y phân bố phong phú nhưng các công trình nghiên cứu sâu về hóa học và hoạt tính sinh học của chúng còn tương đối hạn chế.
Trong thực tiễn, địa y được ứng dụng làm dược liệu cổ truyền (chữa ho, long đờm, đái tháo đường, bệnh phổi), làm chất chỉ thị sinh học môi trường và làm nguyên liệu trong ngành công nghiệp sản xuất hương liệu, nước hoa (điển hình như tại Pháp, khoảng 700 tấn địa y Evernia prunastri và Pseudevernia furfuracea được khai thác mỗi năm). Nhiều chất chuyển hóa thứ cấp cô lập từ địa y thể hiện hoạt tính sinh học như kháng khuẩn, kháng virus, chống oxy hóa, kháng viêm và gây độc tế bào ung thư. Dù vậy, việc nghiên cứu gặp rào cản lớn do địa y sinh trưởng chậm trong tự nhiên và khó nuôi cấy nhân tạo (tỷ lệ thành công chỉ đạt khoảng 10% và các hợp chất sinh ra khi nuôi cấy thường khác biệt so với địa y tự nhiên). Xuất phát từ thực tế đó, đề tài khóa luận tập trung nghiên cứu thành phần hóa học của loài địa y Roccella sinensis (Nyl.) Hale.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Chiết xuất, điều chế các phân đoạn cao từ loài địa y Roccella sinensis thu hái tại tự nhiên.
- Phân lập các hợp chất hữu cơ sạch từ phân đoạn cao ethyl acetate (EA1) bằng các kỹ thuật sắc ký cột silica gel và sắc ký bản mỏng điều chế.
- Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất tinh khiết cô lập được thông qua các phương pháp phổ nghiệm hiện đại gồm phổ khối lượng phân giải cao (HR-ESI-MS) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1D và 2D-NMR).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài địa y Roccella sinensis (Nyl.) Hale mọc biểu sinh trên thân cây chín tầng tại khu vực chùa Hang, ở độ cao 300 mét so với mực nước biển, thuộc huyện Tuy Phong (Liên Hương), tỉnh Bình Thuận. Mẫu có ký hiệu lưu trữ US-B028 tại Bộ môn Hóa hữu cơ, Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; tên khoa học do Tiến sĩ Harrie J. Sipman thuộc Khoa Thực vật học, Đại học Freie (Berlin, Đức) định danh.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung khảo sát thành phần hóa học trên 21 gam cao phân đoạn ethyl acetate (ký hiệu EA1), tách từ 400 gam cao chiết thô methanol của 1,7 kilogam địa y khô ban đầu (nguồn mẫu nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu sinh của ThS. Dương Thúc Huy).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết về hóa học địa y trong khóa luận dựa trên hệ thống phân loại hợp chất tự nhiên của Shibata và cộng sự. Theo hệ thống này, các chất chuyển hóa thứ cấp ở địa y được chia thành ba nhóm chính theo nguồn gốc con đường sinh tổng hợp:
- Nhóm có nguồn gốc từ acid shikimic: bao gồm các terphenylquinone và dẫn xuất của acid tetronic.
- Nhóm có nguồn gốc từ acid mevalonic: bao gồm các terpenoid và steroid.
- Nhóm có nguồn gốc polyketide: bao gồm các depside, depsidone, quinone, xanthone, chromone và các acid béo aliphatic.
Tổng quan tư liệu hóa học về chi Roccella cho thấy chi này đã được ghi nhận chứa nhiều nhóm hợp chất phong phú:
- Hợp chất aliphatic và cycloaliphatic: acetylportentol, portentol.
- Acid béo: roccellaric acid, roccellic acid.
- Hợp chất carbohydrate và dẫn xuất orsellinate: meso-erythritol, D-tagatose, ethyl orsellinate, (+)-montagnetol.
- Nhóm carotenoid: β-carotene, γ-carotene.
- Nhóm chromane và chromone: lepraric acid, lobodirin, mollin, roccellin, galapagin.
- Nhóm depside và dibenzofuran: erythrin, 9-methyl pannarate, 3-O-demethylschizopeltic acid.
- Hợp chất chứa nitơ: picroroccellin, roccanin.
Hóa chất và thiết bị thực nghiệm:
- Hóa chất và dung môi: Chloroform, ether dầu hỏa (ED), acetone, acid acetic (AcOH), ethyl acetate (EA), methanol (Me), hexan (H).
- Chất hấp phụ: Silica gel 60, kích thước hạt 0,06 mm (hãng Merck) dùng cho sắc ký cột; bản mỏng silica gel tráng nhôm Kieselgel 60F254 (kích thước 20 x 20 cm, Merck) và bản mỏng pha đảo RP-18 (Merck). Thuốc thử hiện hình sắc ký là dung dịch H2SO4 đậm đặc và hỗn hợp vanillin/H2SO4 30%.
- Thiết bị xử lý mẫu: Máy cô quay chân không Heidolph, tủ sấy.
- Thiết bị quang phổ: Phổ 1H-NMR (tần số 500 MHz) và phổ 13C-NMR kết hợp kỹ thuật DEPT (tần số 125 MHz) được ghi trên máy quang phổ cộng hưởng từ hạt nhân Bruker. Các kỹ thuật phổ hai chiều gồm HSQC và HMBC được đo tại Phòng Phân tích Trung tâm, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM (227 Nguyễn Văn Cừ, Quận 5, TP.HCM). Phổ khối lượng phân giải cao HR-ESI-MS ghi trên thiết bị Bruker micrOTOF-Q.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Xử lý nguyên liệu: Mẫu địa y tươi sau khi thu hái được loại bỏ tạp chất và phần hư hỏng, rửa sạch, để ráo, sấy khô và nghiền thành bột mịn.
- Chiết xuất phân đoạn: 1,7 kg địa y bột được ngâm dầm kiệt với dung môi methanol ở nhiệt độ phòng. Dịch chiết lọc và cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm thu được 400 g cao thô methanol.
- Tách phân đoạn sơ bộ: 400 g cao thô methanol được đưa lên cột sắc ký silica gel, giải ly lần lượt với hexan 100% (thu cao H), hệ dung môi hexan : ethyl acetate (H:EA) với tỷ lệ tăng dần từ 9:1 đến 0:10 thu được 4 phân đoạn cao (từ EA1 đến EA4), sau đó dùng methanol 100% giải ly phần còn lại thu cao Me. Phân đoạn EA1 thu được có khối lượng 21 g.
Nội dung chính theo từng chương
1.1 Khái quát về địa y, hoạt tính sinh học và các nghiên cứu hóa học
Chương mở đầu tổng hợp các khái niệm sinh học và hóa học nền tảng về sinh vật địa y. Văn bản hệ thống hóa ba dạng hình thái học đặc trưng gồm địa y dạng khảm (crustose) bám chặt vào giá thể đá hoặc vỏ cây, địa y dạng phiến (foliose) có cấu trúc dẹt tựa phiến lá, và địa y dạng sợi (fruticose) mọc rũ hoặc phân nhánh. Chương này phân tích chi tiết vai trò của các hợp chất thơm trong việc hấp thu tia bức xạ UV, vai trò của các dẫn xuất carboxylic acid trong cơ chế chelat hóa giúp địa y giải phóng và hấp thụ khoáng chất từ nền đá, cùng khả năng sinh tổng hợp các chất chống lại sự gặm nhấm của côn trùng.
Về hoạt tính sinh học, tác giả tổng hợp tài liệu từ các công trình quốc tế (Boustie 2007, Huneck 1999, Muller 2001) chứng minh phổ tác dụng đa dạng của các chất chuyển hóa địa y trong việc ức chế vi sinh vật, chống khối u, dọn gốc tự do và ức chế enzyme. Chương này cũng phân tích kết quả nghiên cứu nuôi cấy địa y trong phòng thí nghiệm của Lê Hoàng Duy (2012) trên 50 loài địa y Việt Nam, chỉ ra hạn chế lớn là chỉ có 10% loài phát triển được và thành phần hợp chất sinh ra trong môi trường nuôi cấy có sự sai khác rõ rệt so với mẫu ngoài tự nhiên, khẳng định tính tất yếu của việc tiếp tục khai thác hóa thực vật trên nguồn địa y tự nhiên. Phần cuối chương lập danh mục 21 hợp chất hóa học đã từng được công bố từ các loài khác nhau thuộc chi Roccella, phân loại theo các nhóm chức và con đường sinh tổng hợp.
2. Thực nghiệm, hóa chất, thiết bị và quy trình cô lập
Chương thực nghiệm mô tả thông số kỹ thuật của các trang thiết bị, nguồn gốc hóa chất và các bước phân tách phân đoạn sắc ký từ cao EA1 (21 g) qua 4 bước sắc ký cột silica gel liên tiếp:
- Sắc ký cột trên 21 g cao EA1: Cột silica gel giải ly bằng hệ ether dầu hỏa : ethyl acetate (ED:EA tỷ lệ 8:2 tăng dần độ phân cực), thu được 3 phân đoạn chính. Trong đó phân đoạn EA1.1 có khối lượng 1,137 g thể hiện các vết tách rõ ràng trên bản mỏng sắc ký.
- Sắc ký cột trên 1,137 g phân đoạn EA1.1: Sử dụng hệ dung môi ED:EA (8:2 tăng dần phân cực), thu được 4 phân đoạn nhỏ: EA1.1.1 (0,813 g - vết không rõ), EA1.1.2 (0,450 g - vết tách rõ), EA1.1.3 (0,920 g - vết tách rõ), và EA1.1.4 (0,600 g - chuyển giao cho sinh viên khác nghiên cứu).
- Sắc ký cột phân đoạn EA1.1.2 (0,450 g): Áp dụng hệ dung môi ba thành phần có bổ sung acid hữu cơ gồm ED:EA:AcOH (tỷ lệ 8:2:0,02 mL), tăng dần độ phân cực, thu được hợp chất sạch RS-C12.
- Sắc ký cột phân đoạn EA1.1.3 (0,920 g): Giải ly với hệ dung môi ED:EA:AcOH (8:2:0,02 mL), kết hợp sắc ký bản mỏng điều chế, thu được mẫu kết tinh chứa hợp chất RS-C17b và đồng phân RS-C17c.
| Phân đoạn xử lý |
Khối lượng (g) |
Hệ dung môi giải ly |
Kết quả sắc ký bản mỏng (TLC) |
Hướng xử lý |
| Cao EA1 |
21,000 |
ED:EA (8:2 tăng dần phân cực) |
Phân tách thành 3 phân đoạn |
Thu nhận phân đoạn EA1.1 (1,137 g) |
| EA1.1 |
1,137 |
ED:EA (8:2 tăng dần phân cực) |
Tách thành 4 phân đoạn (EA1.1.1 - EA1.1.4) |
Khảo sát phân đoạn EA1.1.2 và EA1.1.3 |
| EA1.1.2 |
0,450 |
ED:EA:AcOH (8:2:0,02 mL) |
Vết tách rõ |
Cô lập thành công chất RS-C12 |
| EA1.1.3 |
0,920 |
ED:EA:AcOH (8:2:0,02 mL) |
Vết tách rõ |
Cô lập hỗn hợp RS-C17b và RS-C17c |
3. Kết quả và thảo luận cấu trúc hóa học
Chương này tập trung biện luận phổ chi tiết cho ba cấu trúc hóa học cô lập được:
Khảo sát hợp chất RS-C17b và hợp chất phụ RS-C17c:
- RS-C17b thu được ở dạng bột màu trắng, tan trong acetone. Phổ khối HR-ESI-MS ghi nhận ở chế độ ion âm cho pic ion giả phân tử tại m/z 421 [M-H]⁻.
- Phổ 1H-NMR (500 MHz, acetone-d6) cho thấy tín hiệu của 2 nhóm methyl gắn vòng thơm tại δH 2,41 ppm (3H, s), 4 proton thơm trong vùng δH 6,20 - 6,25 ppm. Phổ 13C-NMR tái khẳng định khung orcinol với 2 nhóm carboxyl tại δC 171,3 ppm và 172,3 ppm; 2 nhóm methyl thơm tại δC 24,48 ppm; 4 carbon thơm gắn oxy tại δC 166,6 ppm; 4 carbon methine thơm tại δC 112,7 ppm và 4 carbon tứ cấp tại δC 144,0 ppm.
- Mạch polyol mạch hở gồm 4 carbon sp³ liên kết oxy: hai nhóm methylene (-CH2-O-) tại δH 4,74 ppm (gắn C-1'') và δH 3,85 ppm (gắn C-4''); hai nhóm methine (>CH-O-) tại δH 5,67 ppm (gắn C-2'') và δH 4,15 ppm (gắn C-3''). Hệ thống liên kết spin ABX được xác nhận đầy đủ qua phổ HSQC.
- Tương quan HMBC quan trọng: proton H-1'' (δH 4,74 ppm) tương quan với carbon carboxyl C-7 (δC 172,3 ppm); proton H-2'' (δH 5,67 ppm) tương quan với carbon carboxyl C-7' (δC 171,8 ppm). Dữ liệu này chứng minh hai nhóm carboxyl của hai đơn vị orcinol gắn lần lượt vào vị trí C-1'' và C-2'' của mạch erythritol. Cấu trúc được xác định là: 3,4-dihydroxybutane-1,2-diyl bis(2,4-dihydroxy-6-methylbenzoate).
- Phổ 1H-NMR xuất hiện thêm hệ thống tín hiệu phụ với tỷ lệ tích phân 1:7. Phổ HSQC và HMBC chỉ ra rằng proton methylene (δH 4,45 ppm, dd) tương quan với C-7 (δC 172,3 ppm) và proton methine (δH 5,35 ppm) tương quan với C-7', chứng minh sự tồn tại của đồng phân vị trí RS-C17c mang liên kết ester tại vị trí C-1'' và C-3''. Cấu trúc đề nghị của RS-C17c là: 2,4-dihydroxybutane-1,3-diyl bis(2,4-dihydroxy-6-methylbenzoate).
Khảo sát hợp chất RS-C12:
- RS-C12 ở dạng tủa màu trắng, tan trong acetone. Phổ HR-ESI-MS ở chế độ ion dương cho pic ion giả phân tử tại m/z 277,068809 với sai số 5,1 ppm.
- Phổ NMR cho thấy hợp chất chứa 1 đơn vị orcinol: 1 nhóm methyl thơm tại δH 2,46 ppm (δC 24,2 ppm), 2 proton thơm ghép cặp tại δH 6,23 ppm và δH 6,27 ppm (tương quan với các carbon tại δC 101,6 ppm và 112,2 ppm), và 1 nhóm carbonyl ester tại δC 171,3 ppm.
- Mạch đường của RS-C12 đóng vòng furanoid mang nhóm hydroxyl, gồm hai nhóm methylene liên kết oxy tại δH 4,94 ppm (δC 70,9 ppm) và δH 4,71 ppm (δC 72,0 ppm); hai nhóm methine liên kết oxy tại δH 5,45 ppm (H-2') và δH 4,59 ppm (H-3').
- Phổ tương quan HMBC chỉ rõ proton H-2' (δH 5,45 ppm) tương quan với carbon carboxyl C-7 (δC 171,3 ppm). Tương quan giữa H-1' (δH 4,94 ppm) với C-2' (δC 75,3 ppm) và C-3' (δC 70,85 ppm) khẳng định cấu trúc vòng 5 cạnh furan. Hợp chất được đề nghị tên gọi: 4-hydroxytetrahydrofuran-3-yl 2,4-dihydroxy-6-methylbenzoate. Phổ còn ghi nhận sự xuất hiện của đồng phân xuyên lập thể phụ (RS-C12a) theo tỷ lệ 10:1.
4. Kết luận và đề xuất
Tác giả đúc kết lại các phát hiện thực nghiệm, khẳng định đã phân lập và giải mã thành công cấu trúc của 3 hợp chất hữu cơ sạch từ phân đoạn cao EA1 của loài địa y Roccella sinensis, đồng thời đề xuất định hướng tiếp tục xử lý các phân đoạn cao còn tồn đọng và đo hoạt tính sinh học.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả thực nghiệm với các số liệu cụ thể được trình bày trong bảng tổng hợp sau:
| Tên mã mẫu |
Tên danh pháp cấu trúc hóa học |
Khối phổ xác thực (HR-ESI-MS) |
Tỷ lệ đồng phân |
Phân đoạn phân lập |
| RS-C17b |
3,4-dihydroxybutane-1,2-diyl bis(2,4-dihydroxy-6-methylbenzoate) |
Pic ion âm [M-H]⁻ tại m/z 421 |
7 : 1 (RS-C17b : RS-C17c) |
Phân đoạn EA1.1.3 |
| RS-C17c |
2,4-dihydroxybutane-1,3-diyl bis(2,4-dihydroxy-6-methylbenzoate) |
Đồng phân vị trí của RS-C17b |
1 : 7 so với RS-C17b |
Phân đoạn EA1.1.3 |
| RS-C12 |
4-hydroxytetrahydrofuran-3-yl 2,4-dihydroxy-6-methylbenzoate |
Ion dương tại m/z 277,068809 (sai số 5,1 ppm) |
10 : 1 (RS-C12 : RS-C12a) |
Phân đoạn EA1.1.2 |
Đóng góp khoa học của đề tài:
- Về mặt học thuật: Tác giả tự khẳng định các hợp chất RS-C17b, RS-C17c và RS-C12 phân lập được đều là những hợp chất mới, chưa từng được ghi nhận trong các công bố quốc tế và trong nước về loài Roccella sinensis cũng như chi địa y Roccella.
- Đóng góp về phương pháp: Thiết lập được hệ dung môi sắc ký cột silica gel tối ưu có bổ sung acid acetic (ED:EA:AcOH tỷ lệ 8:2:0,02 mL) nhằm giải ly sắc nét các hợp chất phenolic có tính phân cực gần nhau.
- Đề xuất của tác giả: Tiếp tục khảo sát các phân đoạn cao chưa nghiên cứu và tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học trên các dòng tế bào vi sinh vật hoặc tế bào ung thư đối với các chất tinh khiết đã thu nhận.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Do giới hạn về mặt thời gian thực hiện của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài mới chỉ xử lý một phần nhỏ (21 g cao EA1) trong tổng số 400 g cao thô methanol điều chế được từ nguyên liệu ban đầu. Các phân đoạn cao ethyl acetate khác (EA2, EA3, EA4), cao hexan (cao H) và cao methanol (cao Me) chưa được khảo sát.
- Khóa luận chưa thể tiến hành các thử nghiệm đánh giá hoạt tính sinh học (kháng khuẩn, kháng nấm, gây độc tế bào, chống oxy hóa) đối với các phân đoạn cao cũng như các hợp chất tinh khiết cô lập được.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Tiếp tục phân lập và làm sạch các chất chuyển hóa thứ cấp từ các phân đoạn cao còn lại của loài Roccella sinensis.
- Tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học chuyên sâu cho các phân đoạn cao chiết và các hợp chất tinh khiết RS-C17b, RS-C17c và RS-C12.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng và phạm vi chuyên môn sau:
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Hóa học hữu cơ, Hóa học các hợp chất tự nhiên, Dược học và Sinh học thực vật.
- Giá trị chuyên môn:
- Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình chiết xuất ngâm dầm, xử lý phân đoạn sắc ký cột silica gel và tinh chế hoạt chất tự nhiên từ nguồn mẫu địa y nhiệt đới biển.
- Phần biện luận phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1H-NMR, 13C-NMR, DEPT, HSQC, HMBC) và khối phổ HR-ESI-MS trong văn bản là nguồn dữ liệu đối chiếu trực tiếp có giá trị cho việc giải đoán cấu trúc các dẫn xuất ester orcinol, dẫn xuất mạch polyol (erythritol) và dẫn xuất furanoid mang nhóm thơm.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu địa y nghiên cứu được thu thập tại địa phương nào và cơ quan chuyên môn nào đã xác định tên khoa học?
Mẫu địa y được thu hái trên thân cây chín tầng tại khu vực chùa Hang, ở độ cao 300 mét so với mực nước biển, thuộc huyện Tuy Phong (Liên Hương), tỉnh Bình Thuận. Mẫu tiêu bản mang ký hiệu US-B028, được lưu trữ tại Bộ môn Hóa hữu cơ, Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM. Tên khoa học Roccella sinensis (Nyl.) Hale được định danh bởi Tiến sĩ Harrie J. Sipman, chuyên gia thuộc Khoa Thực vật học, Đại học Freie (Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức).
2. Khối lượng nguyên liệu và quy trình điều chế phân đoạn cao EA1 được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu xuất phát từ 1,7 kg địa y khô và sạch, ngâm dầm chiết kiệt với dung môi methanol ở nhiệt độ phòng. Sau khi lọc và cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm, thu được 400 g cao thô methanol. Lượng cao thô này được sắc ký cột silica gel giải ly qua các hệ dung môi Hexan 100%, Hexan : Ethyl acetate (9:1 đến 0:10) và Methanol 100%. Quá trình này tạo ra 4 phân đoạn cao ethyl acetate (từ EA1 đến EA4), trong đó phân đoạn EA1 có khối lượng 21 g được chọn làm nguyên liệu chính cho toàn bộ các bước phân lập tiếp theo của đề tài.
3. Mối quan hệ cấu trúc giữa hợp chất RS-C17b và hợp chất RS-C17c là gì và tỷ lệ tồn tại của chúng ra sao?
RS-C17b và RS-C17c là hai đồng phân vị trí của nhau. Cả hai đều cấu tạo từ hai đơn vị acid thơm (2,4-dihydroxy-6-methylbenzoate, tức gốc orsellinic acid) liên kết ester với một mạch polyol 4 carbon (erythritol). Sự khác biệt nằm ở vị trí liên kết ester: ở RS-C17b, hai gốc ester gắn tại vị trí C-1'' (nhóm methylene) và C-2'' (nhóm methine); trong khi ở RS-C17c, hai gốc ester gắn tại vị trí C-1'' và C-3''. Dữ liệu tích phân diện tích mũi phổ 1H-NMR xác nhận RS-C17b và RS-C17c cùng tồn tại trong mẫu phân lập theo tỷ lệ 7:1.
4. Dữ liệu phổ khối HR-ESI-MS của hợp chất RS-C12 ghi nhận kết quả như thế nào?
Phổ khối lượng phân giải cao HR-ESI-MS đo ở chế độ ion dương của hợp chất RS-C12 xuất hiện pic ion giả phân tử tại m/z 277,068809 với sai số 5,1 ppm, phù hợp với cấu trúc đề nghị là dẫn xuất monocyclic furanoid ester mang tên 4-hydroxytetrahydrofuran-3-yl 2,4-dihydroxy-6-methylbenzoate.
5. Vì sao khóa luận chưa công bố số liệu thử nghiệm hoạt tính sinh học của các hợp chất cô lập?
Theo trình bày của tác giả ở phần đề xuất, do thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp hệ cử nhân có hạn, khối lượng công việc phải tập trung toàn bộ vào các công đoạn sắc ký phân tách nhiều cấp và biện luận phổ cấu trúc hóa học phức tạp. Vì vậy, việc thử nghiệm hoạt tính sinh học trên các loại cao và các chất tinh khiết được đưa vào kế hoạch nghiên cứu tiếp theo.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Nga đã hoàn thành quy trình chiết tách và phân lập các hợp chất tự nhiên từ phân đoạn cao ethyl acetate (EA1) của loài địa y Roccella sinensis thu hái tại Bình Thuận. Dựa trên việc phân tích chi tiết dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân đa chiều (1H, 13C, DEPT, HSQC, HMBC) và phổ khối phân giải cao HR-ESI-MS, nghiên cứu đã đề nghị cấu trúc cho 3 hợp chất mới gồm RS-C17b, RS-C17c và RS-C12 thuộc nhóm dẫn xuất orcinol ester. Kết quả thực nghiệm này bổ sung dữ liệu phổ và thông tin hóa thực vật giá trị cho chi Roccella tại Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu sàng lọc hoạt tính sinh học trong giai đoạn tiếp theo.