Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Hành động cầu khiến trong Những truyện hay viết cho thiếu nhi của nhà văn Tô Hoài" do sinh viên Lê Thị Thúy Hường (lớp ĐHGDTH3.K21, Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, Trường Đại học Hải Phòng) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lưu Thị Lan, hoàn thành vào tháng 04 năm 2024. Đề tài thuộc chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, kết hợp liên ngành giữa ngữ dụng học và phương pháp tiếp nhận văn học thiếu nhi trong nhà trường.
Về bối cảnh và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ ra rằng ngữ dụng học là chuyên ngành nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối tương quan giữa người nói và người nghe gắn với bối cảnh giao tiếp cụ thể. Việc truyền đạt nghĩa không chỉ phụ thuộc vào ngữ pháp hay từ vựng mà còn chi phối bởi hoàn cảnh phát ngôn, vị thế nhân vật và ý đồ giao tiếp. Trong các hành vi nói năng, nhóm hành động cầu khiến thể hiện sự tương tác rõ rệt và giữ chức năng quan trọng trong đời sống cũng như trong tác phẩm văn học. Nhà văn Tô Hoài là tác giả tiêu biểu của nền văn học Việt Nam với sở trường quan sát tinh tế, ngôn ngữ giàu tính nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống quần chúng, đặc biệt thành công ở mảng truyện đồng thoại viết về loài vật. Các tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy rộng rãi từ bậc tiểu học đến trung học và đại học. Việc khảo sát hành động cầu khiến trong tập truyện thiếu nhi của Tô Hoài xuất phát từ nhu cầu làm rõ đặc trưng ngôn ngữ hội thoại của nhân vật, từ đó hỗ trợ học sinh và sinh viên tiếp nhận văn bản văn học và vận dụng vào giao tiếp thực tế.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tiến hành khảo sát hành động cầu khiến trong tác phẩm nhằm làm rõ vai trò của hành động này trong việc chuyển tải nội dung nghệ thuật. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích các vấn đề cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài.
- Tìm hiểu các dạng hành động cầu khiến (trực tiếp và gián tiếp) trong 16 truyện thuộc cuốn sách.
- Phân tích, miêu tả để thấy rõ cách sử dụng hành động cầu khiến trong tác phẩm của Tô Hoài.
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào hành động cầu khiến xuất hiện trong các đoạn hội thoại của nhân vật. Về phạm vi ngữ liệu, tác giả thu thập dữ liệu từ cuốn "Những truyện hay viết cho thiếu nhi" của nhà văn Tô Hoài do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2023, có độ dày 302 trang, tuyển chọn 16 truyện đồng thoại và sinh hoạt tiêu biểu gồm: Võ sĩ bọ ngựa, Đám cưới chuột, Mụ Ngan, Cá đi ăn thề, Dê và lợn, Bốn con gà, Những chuyện xa lạ, Vện ơi Vện, Hai con ngỗng...
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các thành tựu của ngữ dụng học thế giới và Việt Nam:
- Lý thuyết hành động ngôn ngữ của J. L. Austin (1955), tập trung vào cấu trúc ba phân vị của hành vi ngôn từ: hành động tạo lời (locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act) và hành động ở lời (illocutionary act).
- Khung phân tích hành vi ở lời của J. R. Searle với 4 điều kiện may mắn (thỏa mãn): Điều kiện nội dung mệnh đề (NDMĐ), Điều kiện chuẩn bị (ChB), Điều kiện chân thành/tâm lý (CT/TL) và Điều kiện căn bản (CB). Đồng thời, tác giả kế thừa mô hình phân loại 5 lớp hành động ở lời của Searle gồm: hành động biểu hiện (xác tín), hành động điều khiển, hành động cam kết, hành động biểu cảm và hành động tuyên bố.
- Các quan điểm về ngữ dụng học và câu tiếng Việt tại Việt Nam của các tác giả: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương.
- Cơ sở lý thuyết chuyên biệt về câu cầu khiến và hành động cầu khiến: Khóa luận phân biệt rạch ròi giữa câu cầu khiến (bình diện cú pháp, phân loại theo mục đích nói) và hành động cầu khiến (bình diện ngữ dụng, gắn với ngữ cảnh và lực ngôn trung). Về mô hình cú pháp, tác giả dẫn dụng mô hình của Đào Thị Thanh Lan với hai dạng: dạng một không có tính ngôn hành ($C_2 - A - V - B$) và dạng hai vừa có tính ngôn hành vừa có tính cầu khiến ($C_1 - Đ_{ck} - C_2 - V$). Trong dạng hai, có 15 động từ ngữ vi cầu khiến điển hình được khảo sát: ra lệnh, cấm, cho, cho phép, yêu cầu, đề nghị, khuyên, nhờ, mời, chúc, cầu, xin, xin phép, van, lạy. Về phân loại thang độ lực ngôn trung của hành động cầu khiến trực tiếp, khóa luận áp dụng thang bậc của Đào Thị Thanh Lan dựa trên tiêu chí tính khiến giảm dần và tính cầu tăng dần qua 8 tiểu nhóm.
Về phương pháp và thủ pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp ba thủ pháp chính:
- Phương pháp miêu tả: Được sử dụng xuyên suốt để phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ cảnh phát ngôn và các điều kiện thỏa mãn của từng hành động cầu khiến.
- Thủ pháp thống kê, phân loại và tổng hợp: Dùng để rà soát toàn bộ các phát ngôn mang mục đích cầu khiến trong 16 truyện, phân chia thành hai nhóm trực tiếp - gián tiếp và lập bảng định lượng tần số xuất hiện của từng tiểu loại.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Áp dụng để so sánh sự khác biệt về lực ngôn trung, vị thế giao tiếp xã hội của các nhân vật và sắc thái biểu cảm giữa các hành vi cầu khiến khác nhau.
Toàn bộ nguồn dữ liệu khảo sát được trích xuất trực tiếp từ các cuộc hội thoại của nhân vật trong 16 truyện ngắn thuộc ấn bản đã xác định của Nhà xuất bản Kim Đồng (2023).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các luận điểm lý thuyết nền tảng phục vụ cho việc phân tích ngữ liệu. Tác giả trình bày lịch sử hình thành lý thuyết hành vi ngôn ngữ từ bài thuyết trình 12 chuyên đề của Austin tại Đại học Harvard năm 1955, sự tiếp biến của Searle, và quá trình đưa ngữ dụng học vào giảng dạy đại học tại Việt Nam bởi GS. Đỗ Hữu Châu và GS. Nguyễn Đức Dân.
Tác giả phân tích cụ thể 4 điều kiện thỏa mãn của một hành vi ở lời theo Searle (NDMĐ, ChB, CT, CB) và nhấn mạnh rằng sự vi phạm một trong các điều kiện này là dấu hiệu nhận diện hành động ngôn ngữ gián tiếp. Bảng 1.1 trong khóa luận tổng hợp 5 lớp hành vi ở lời của Searle:
| Lớp hành động |
Các tiểu hành động tiêu biểu |
| Hành động biểu hiện (xác tín) |
Kể, thông báo, giải thích, giới thiệu, miêu tả |
| Hành động điều khiển |
Dặn, cầu khiến, xua đuổi, mời, rủ rê, mệnh lệnh, khuyên, hỏi |
| Hành động cam kết |
Hứa, thỏa thuận |
| Hành động biểu cảm |
Cảm ơn, xin lỗi, chúc, chào, khen, tiếc |
| Hành động tuyên bố |
Bác bỏ, từ chối |
Tiếp đó, chương 1 đối sánh hành động ở lời trực tiếp và gián tiếp. Hành động gián tiếp được nhận diện thông qua hoàn cảnh giao tiếp, văn cảnh, các ước định xã hội (lẽ thường), thao tác suy ý và sự cố tình vi phạm các quy tắc hội thoại (phương châm về lượng, chất, quan hệ, cách thức, lịch sự). Khóa luận đi sâu phân tích khái niệm câu cầu khiến theo truyền thống cú pháp học, đối chiếu với hành động cầu khiến theo lý thuyết điều khiển của Searle (1979), Harnish, S. Ervin-Tripp (1976), S. C. Levinson (1983). Chương này làm rõ mối quan hệ giữa câu cầu khiến và hành động cầu khiến qua hai hiện tượng: "cầu khiến để cầu khiến" (hành động cầu khiến trực tiếp) và "không cầu khiến mà lại là cầu khiến" (hành động cầu khiến gián tiếp, mượn hình thức câu hỏi, câu trần thuật hoặc cảm thán).
Chương 2: Cách sử dụng hành động cầu khiến trong “Những truyện hay viết cho thiếu nhi” của nhà văn Tô Hoài
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực chứng trên 16 truyện của cuốn sách. Qua thống kê toàn văn, tác giả ghi nhận tổng cộng 157 hành động cầu khiến, trong đó hành động cầu khiến trực tiếp chiếm ưu thế áp đảo với 141 trường hợp, hành động cầu khiến gián tiếp chiếm số lượng rất ít (16 trường hợp).
Đối với hành động cầu khiến trực tiếp (141 trường hợp), tác giả phân tích chi tiết các tiểu loại theo thang độ lực ngôn trung từ tính khiến cao đến tính cầu cao, minh chứng bằng ngữ cảnh truyện và phân tích 4 điều kiện may mắn:
- Lớp hành động ra lệnh, cấm (tính khiến cao nhất): Chiếm 16/141 trường hợp (11,35%). Trong đó, hành động ra lệnh có 13 trường hợp (9,22%), như lệnh của Bọ Ngựa bắt Châu Chấu Ma khuất phục: "Lạy ta đi!". Hành động cấm có 3 trường hợp (2,13%), tiêu biểu là phát ngôn Bọ Ngựa cấm Gián: "Ta cấm ngươi từ nay không được gọi ta là Bọ Ngựa", thể hiện tính cách kiêu ngạo, hống hách.
- Lớp hành động ngăn, giục, cho phép, yêu cầu (tính khiến cao): Chiếm 38/141 trường hợp (26,95%). Phân rã cụ thể:
- Hành động ngăn: 7 trường hợp (4,96%), ví dụ Mèo ngăn Vện và Đen: "Chẳng đời nào tao ra. Đừng giở cái kế xoàng ấy nữa".
- Hành động giục: 3 trường hợp (2,13%), như lời Vện và Đen hối thúc Mèo cùng trốn chạy: "Mau lên! Được rồi! Mau lên!".
- Hành động yêu cầu: 27 trường hợp (19,15%), ví dụ Viên ngoại buộc người khiêng kiệu khai báo sự thật: "Bác kể đầu đuôi cho ta nghe".
- Hành động cho phép: 1 trường hợp (0,71%), xuất hiện trong lời người ông cho phép A Kềnh và Ngựa Con xuống Phiêng Quảng: "Ngựa Con nói phải, mai nắng to, ông cho cháu xuống Phiêng Quảng".
- Lớp hành động đề nghị (tính khiến trung bình): Chiếm 25/141 trường hợp (17,73%), thể hiện sắc thái lịch sự, hợp tình hợp lý, ví dụ lời người mẹ khuyên Thảo tìm nơi gửi trứng gà: "Con thử ra hỏi ngoài nhà bác tá Nghĩa".
- Lớp hành động dặn, khuyên (tính khiến thấp): Chiếm 37/141 trường hợp (26,24%). Gồm có:
- Hành động dặn: 7 trường hợp (4,96%), ví dụ mẹ Bọ Ngựa dặn con ở lại cành cây, uống sương đêm và giữ an toàn khi mẹ đi kiếm ăn.
- Hành động khuyên: 30 trường hợp (21,28%), ví dụ lời Lợn an ủi Dê khi mẹ Dê qua đời: "Dù sao thì u anh cũng mất rồi, chẳng nên buồn lắm nữa. Mà cần cố ăn uống cho khoẻ, rồi vào đây chơi với tôi luôn cho vui".
- Lớp hành động rủ (tính cầu thấp): Chiếm 8/141 trường hợp (5,67%), mang tính thuyết phục đối tác cùng tham gia hoạt động.
- Các lớp hành động có tính cầu cao: Khóa luận ghi nhận các tiểu nhóm cầu cao (nhờ, xin/xin phép), cầu rất cao (cầu), và cầu cao nhất (lạy) trong hệ thống phân loại tổng thể.
Về hành động cầu khiến gián tiếp, khóa luận chỉ ra sự hiện diện của 16 trường hợp thông qua các hình thức kết cấu phi cầu khiến (như câu hỏi tu từ, câu trần thuật nêu hoàn cảnh để gợi ý hành động), phản ánh sự đa dạng trong phương thức biểu đạt nghệ thuật của Tô Hoài.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các số liệu định lượng cụ thể về tần số xuất hiện của các hành động cầu khiến trực tiếp trong văn bản khảo sát, được tổng hợp trong bảng số liệu sau:
| STT |
Tiểu loại hành động cầu khiến trực tiếp |
Số trường hợp ($n=141$) |
Tỷ lệ phần trăm (%) |
| 1 |
Ra lệnh |
13 |
9,22% |
| 2 |
Cấm |
3 |
2,13% |
| 3 |
Ngăn |
7 |
4,96% |
| 4 |
Giục |
3 |
2,13% |
| 5 |
Yêu cầu |
27 |
19,15% |
| 6 |
Cho phép |
1 |
0,71% |
| 7 |
Đề nghị |
25 |
17,73% |
| 8 |
Dặn |
7 |
4,96% |
| 9 |
Khuyên |
30 |
21,28% |
| 10 |
Rủ |
8 |
5,67% |
| 11 |
Các hành vi cầu khác (nhờ, xin, lạy...) |
17 |
12,06% |
| Tổng cộng |
Toàn bộ hành động cầu khiến trực tiếp |
141 |
100,0% |
Về mặt đóng góp khoa học:
- Về lý luận: Đề tài bổ sung và làm sáng tỏ thêm lý thuyết hành vi ngôn ngữ ứng dụng vào phân tích văn bản truyện thiếu nhi. Đây là công trình khảo sát chuyên sâu đầu tiên về hành động cầu khiến trên ngữ liệu tập truyện "Những truyện hay viết cho thiếu nhi" của Tô Hoài, xác lập sự tương thích giữa thang độ lực ngôn trung với tính cách và vai giao tiếp của thế giới nhân vật loài vật được nhân hóa.
- Về thực tiễn: Khóa luận mang lại giá trị sư phạm cụ thể cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học. Kết quả phân tích giúp người dạy nắm vững cơ chế ngữ dụng của câu cầu khiến, từ đó hướng dẫn học sinh tiểu học nhận diện hàm ý, hiểu đúng mục đích nói của nhân vật trong giờ Đọc - Hiểu văn bản, đồng thời rèn luyện kỹ năng sử dụng câu cầu khiến chính xác, phù hợp với vị thế giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, tác giả tự nhìn nhận trong lời cảm ơn rằng công trình khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định do năng lực và thời gian nghiên cứu của sinh viên tốt nghiệp. Xét theo phạm vi nghiên cứu, đề tài mới chỉ giới hạn ngữ liệu trong phạm vi 16 truyện đồng thoại và sinh hoạt của một tuyển tập xuất bản năm 2023 (302 trang), chưa bao quát toàn bộ sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Tô Hoài ở các mảng đề tài miền núi Tây Bắc, ngoại thành Hà Nội hay truyện lịch sử. Đồng thời, số lượng ngữ liệu hành động cầu khiến gián tiếp khảo sát được còn khiêm tốn (16 trường hợp) và chưa được phân tích sâu ở mối tương quan với các chiến lược lịch sự.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ đề tài bao gồm việc mở rộng quy mô ngữ liệu sang các tập truyện khác của Tô Hoài (như Dế Mèn phiêu lưu ký hoặc mảng truyện lịch sử), đi sâu phân tích đối chiếu hành động cầu khiến gián tiếp, và nghiên cứu chi tiết hơn ảnh hưởng của vai giao tiếp xã hội đối với sự biến đổi của lực ngôn trung trong văn học thiếu nhi.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, Sư phạm Ngữ văn và Ngôn ngữ học đang thực hiện khóa luận, tiểu luận về ngữ dụng học, phân tích diễn ngôn hội thoại hoặc phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học.
- Giáo viên tiểu học trực tiếp giảng dạy phân môn Luyện từ và câu (phần câu cầu khiến và mục đích nói) cùng phân môn Đọc - Hiểu các văn bản truyện đồng thoại của Tô Hoài.
Nội dung đáng tham khảo nhất của khóa luận là phần phân tích ngữ liệu ở Chương 2, nơi tác giả áp dụng quy trình kiểm chứng 4 điều kiện thỏa mãn của Searle (NDMĐ, ChB, CT, CB) vào từng phát ngôn cụ thể của nhân vật, giúp minh họa sinh động cách thức chuyển hóa lý thuyết ngữ dụng học vào bài học ngôn ngữ trong nhà trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng nguồn ngữ liệu nào để khảo sát và quy mô gồm bao nhiêu truyện?
Toàn bộ ngữ liệu được thu thập từ cuốn sách "Những truyện hay viết cho thiếu nhi" của nhà văn Tô Hoài, do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2023, có độ dày 302 trang, bao gồm 16 truyện đồng thoại và sinh hoạt.
2. Tổng số hành động cầu khiến được thống kê trong khóa luận là bao nhiêu và tỷ lệ trực tiếp - gián tiếp phân bố ra sao?
Tác giả thống kê được tổng số 157 hành động cầu khiến, trong đó hành động cầu khiến trực tiếp chiếm 141 trường hợp (chiếm 89,81%), còn hành động cầu khiến gián tiếp chỉ chiếm 16 trường hợp (chiếm 10,19%).
3. Trong các tiểu loại hành động cầu khiến trực tiếp, hành động nào xuất hiện nhiều nhất và ít nhất?
Theo số liệu thống kê chi tiết, hành động khuyên có tần số xuất hiện cao nhất với 30 trường hợp (chiếm 21,28% nhóm trực tiếp), tiếp theo là yêu cầu với 27 trường hợp (19,15%) và đề nghị với 25 trường hợp (17,73%). Hành động xuất hiện ít nhất là cho phép với duy nhất 1 trường hợp (chiếm 0,71%).
4. Bốn tiêu chí cơ bản của J. R. Searle được tác giả áp dụng để phân tích điều kiện may mắn của hành động ở lời là gì?
Bốn tiêu chí gồm: Điều kiện nội dung mệnh đề (NDMĐ), Điều kiện chuẩn bị (ChB), Điều kiện chân thành/tâm lý (CT hoặc TL), và Điều kiện căn bản (CB). Việc vi phạm một trong bốn điều kiện này được dùng làm căn cứ nhận diện hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
5. Theo khung lý thuyết của khóa luận, mô hình câu cầu khiến có tính ngôn hành (dạng hai) gồm những thành tố nào?
Mô hình dạng hai được biểu diễn bằng công thức $C_1 - Đ_{ck} - C_2 - V$, bao gồm: Chủ thể cầu khiến ở ngôi thứ nhất ($C_1$), động từ ngữ vi có ý nghĩa cầu khiến ($Đ_{ck}$ - chọn lọc từ 15 động từ điển hình), chủ thể tiếp nhận ($C_2$), và vị từ/vị ngữ biểu thị nội dung cầu khiến ($V$).
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Lê Thị Thúy Hường đã hệ thống hóa tường minh cơ sở lý thuyết ngữ dụng học về hành vi ở lời và câu cầu khiến, áp dụng khảo sát thực chứng trên 157 ngữ liệu từ tập "Những truyện hay viết cho thiếu nhi" của Tô Hoài. Kết quả định lượng cho thấy tính ưu trội của phương thức cầu khiến trực tiếp (141 trường hợp), phản ánh đặc thù giao tiếp nhanh gọn, sinh động của các nhân vật loài vật trong văn học thiếu nhi. Công trình đáp ứng chuẩn mực của một khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, cung cấp tư liệu tham khảo thiết thực cho hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng và giảng dạy tiếng Việt trong trường tiểu học.