Chương 1: Một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài. Chương 2: Cách sử dụng hành động cầu khiến trong “Những truyện hay viết cho thiếu nhi” của nhà văn Tô Hoài. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của khóa luận Giải quyết tốt nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là một công việc có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn. Về lí luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lí luận về hành động cầu khiến nói chung và hành động cầu khiến trong “Những truyện hay viết cho thiếu nhi” của nhà văn Tô Hoài nói riêng.
Về thực tiễn: Việc nghiên cứu đối với cá nhân tôi có tác dụng tích cực, giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về hành động cầu khiến để từ đó có kiến thức chuyên môn tốt, kĩ năng giảng dạy linh hoạt sau khi ra trường; đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người có mối quan tâm tới lĩnh vực này. Đối với học sinh: Nghiên cứu đề tài này cũng giúp các em có cái nhìn hệ thống về hành động cầu khiến nói chung, biết cách tiếp cận, khai thác những ẩn ý được diễn đạt qua hành động cầu khiến, từ đó vận dụng vào giao tiếp, góp phần nâng cao chất lượng giao tiếp. Qua hành động cầu khiến, con người sẽ dễ dàng giao tiếp, trao đổi thông tin cũng như bày tỏ mong muốn, nguyện vọng của mình hơn. Đề tài này sẽ giúp cho bạn đọc hiểu rõ hơn về hành động cầu khiến trực tiếp, hành động cầu khiến gián tiếp để từ đó có cách vận dụng chính xác và linh hoạt hành động cầu khiến trong giao tiếp hằng ngày.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Lí thuyết hành động ngôn ngữ 1. Khái niệm “Hành động ngôn ngữ” Lý thuyết hành động ngôn ngữ (hay còn gọi là hành vi ngôn ngữ) được coi là xương sống của ngành ngữ dụng học và là một trong những chuyên ngành mới đầy hấp dẫn của ngôn ngữ học. Austin - một nhà triết học người Anh là người đầu tiên xây dựng lý thuyết về hành động ngôn ngữ. Năm 1955, ở trường đại học tổng hợp Havard, nhà triết học người Anh này đã trình bày 12 chuyên đề về lý thuyết hành vi ngôn ngữ.
Austin nhận thấy cho đến thời gian đó, các nhà lôgic và các nhà ngôn ngữ chỉ quan tâm đến những câu khảo nghiệm (còn gọi là khẳng định, trần thuật, xác tín, miêu tả) xem chúng là đối tượng nghiên cứu cơ bản. Qua việc phân biệt phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngữ vi, Austin đã phát hiện ra bản chất hành vi của ngôn ngữ. Sau này, lý thuyết hành vi ngôn ngữ dần dần được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới bổ sung và hoàn thiện. Tại Việt Nam, GS.
Đỗ Hữu Châu và GS. Nguyễn Đức Dân là những người đầu tiên đưa ngữ dụng học nói chung và lý thuyết hành vi ngôn ngữ nói riêng vào giảng dạy ở bậc đại học. Hai giáo sư đã nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ dựa trên cơ sở nền tảng của J. Austin và đưa ra khái niệm như sau: Theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt bằng phương tiện ngôn ngữ.
Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [5, tr. Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn từ, ông cho rằng: “Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ. 9 Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn” [8, tr. Giáo sư Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: “Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó người ta đã thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định và người nghe cảm nhận được điều này.
Xảy ra hiện tượng đó vì các hành vi ngôn ngữ mang tính xã hội” [6, tr. Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học", Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Giáo dục, 1996, hành động ngôn ngữ được các nhà nghiên cứu định nghĩa là: “một đoạn lời nói có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó” [13, tr. Như vậy, “hành động ngôn ngữ” chính là một hoạt động sử dụng ngôn từ nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp, nó gắn liền với hành động nói năng của con người là hành động mang tính xã hội. Austin đã phân loại hành vi ngôn ngữ thành ba nhóm: Hành động tạo lời (locutionary act), Hành động mượn lời (perlocutionary act) và Hành động ở lời (illocutionary act).
Hành động tạo lời (theo J. Austin) là “hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như: ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được” [5, tr. Khi nói năng, ta có thể tạo ra vô số các phát ngôn khác nhau để diễn đạt tư tưởng của mình theo quy tắc kết hợp của từng ngôn ngữ nhất định. Đối với các văn bản nghệ thuật (truyện ngắn, tiểu thuyết) đặc biệt là văn bản thơ, người ta quan tâm nhiều đến các quy tắc tạo lời dựa trên các phương tiện, biện pháp tu từ nhằm tạo nên những văn bản có giá trị tiếp nhận mới mẻ đối với người đọc.
10 Ví dụ 1: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. (Viếng lăng Bác - Viễn Phương) Hình ảnh “mặt trời” trong dòng thơ đầu tiên là mặt trời thật của tự nhiên vạn vật. Còn “mặt trời” ở dòng thơ thứ hai chính là chỉ vị cha già kính yêu của dân tộc - Hồ Chí Minh. Người đã soi đường chỉ lối, đem lại ánh sáng tự do cho toàn dân tộc.
Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ ở đây nhằm nhấn mạnh công lao to lớn của Bác đối với nước Việt Nam ta. Mặt trời của tự nhiên vạn vật chỉ có một và Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng là duy nhất đối với mỗi con người Việt Nam. Hành vi mượn lời (theo J. Austin) là “những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, hay nói một cách khác, là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói” [5,tr.
Hành vi mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành vi nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý, trong hành động vật lí có thể quan sát được gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh. Ví dụ 2: Cô giáo bước vào lớp và nói: “Các em lấy giấy ra kiểm tra 15 phút”. Khi nghe câu này, người nghe - ở đây là các em học sinh sẽ có phản ứng lo lắng, hoang mang; một bên thì lấy giấy ra để làm bài nhưng mặt khác sẽ có hành động hỏi nhau hoặc hỏi cô tại sao lại làm bài kiểm tra vào lúc này. Như vậy, câu này đã có tác động, gây ra phản ứng của người nghe.
Cô giáo nói câu “Các em lấy giấy ra kiểm tra 15 phút” đã thực hiện một hành động mượn lời. Hiệu quả này là những hiệu quả ngoài ngôn ngữ (đúng hơn là ngoài diễn ngôn) và phân tán, không có tính quy ước và khó tìm ra cơ chế chung. Hành vi ở lời (theo J. Austin) là “những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quả của những hành vi này là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng ta gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận” [5, tr. Chính cái đích này phân biệt các hành vi ở lời với nhau. 11 Chẳng hạn như các hành vi ở lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo,. Đích của các hành vi ở lời gọi là đích ở lời và đích đó được thỏa mãn thì ta có hiệu quả ở lời.
Dấu hiệu của hiệu quả ở lời là hồi đáp của người tiếp nhận hành vi ở lời (tức là người nghe và người đọc). Ví dụ 3: Tiện đây Mận mới hỏi Đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì Đào xin thưa: Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào. (Ca dao) Trên đây là đoạn thoại giữa chàng trai và cô gái trong ca dao dân ca xưa. Hai dòng thơ đầu chính là hành vi hỏi của chàng trai muốn ngỏ ý thăm dò xem tình cảm của cô gái bây giờ ra sao.
Ta thấy rằng, hiệu quả ở lời của hành vi hỏi trong đối thoại này thể hiện ở phát ngôn trả lời của cô gái “Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. Như vậy, khác với hành vi mượn lời, hành vi ở lời ít nhiều có tính quy ước, việc thực hiện và hồi đáp lại một hành động xã hội nào đó phải theo những quy ước ít nhiều chung cho xã hội. Ba loại hành vi: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời được thực hiện theo cách tổng hợp khi tạo ra một diễn ngôn. Trong đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về hành vi cầu khiến - một hành vi ở lời trên cơ sở xem xét, khảo sát và phân tích cuốn “Những truyện hay viết cho thiếu nhi” của nhà văn Tô Hoài.
Điều kiện sử dụng hành vi ở lời Hành động ở lời, cũng như các hành động khác (sinh lí, vật lý), muốn thực hiện được phải có những điều kiện nhất định.Searle đã đưa ra 12 tiêu chí khác nhau để làm tiêu chuẩn phân loại hành vi ở lời, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh đến 4 tiêu chí cơ bản sau: 1. Điều kiện nội dung mệnh đề (NDMĐ) chỉ ra bản chất nội dung của hành động. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các 12 hành vi khảo nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với câu hỏi khép kín, tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời có hoặc không; phải, không phải…). Nội dung của mệnh đề có thể là hành động của người nói (hứa hẹn), hay một hành động của người nghe (lệnh, yêu cầu).