CHƯƠNG 1: MỘT SO VAN DE VE CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm không gian kinh tế - xã hội và tổ chức không gian kinh tế - xã hội 1. Không gian kinh tế - xã hội Là một bộ phận lãnh thé có khả năng cung cấp những nguồn lực phát triển, chọn lọc các hoạt động kinh tế - xã hội thông qua những quan hệ phân bố, những liên kết kinh tế liên ngành, liên vùng và quốc tế dưới góc độ tổ chức không gian, người ta thường xem không gian kinh tế - xã hội là một trường lực ( giống như các trường lực trong vật lý học ), với 3 thành phan sau đây: - Trung tâm kinh tế - xã hội ( còn gọi là cực hay nút phát triển ): là nơi có nhiều nguồn lực thuận lợi, tập trung dân cư đông đúc, các hoạt động công nghiệp chế biến và dich vụ phát triển hơn cả. - Hanh lang phát triển: là nơi điễn ra các dong liên kết kinh tế - xã hội giữa các trung tâm.
Thực chất đây chính là mạng lưới hạ tằng, bao gồm: đường sá, bến bãi, điện, thông tin, liên lạc thông qua hành lang, sức phát triển từ trung tâm sẽ dẫn truyén ra các bẻ mặt. - _ Bề mặt: là những "chỗ trống” của không gian kinh tế - xã hội, dân cư thưa thớt, phát triển chủ yếu các ngành nông nghiệp, công nghiệp khai thác, những nơi nào gần trung tâm và hành lang sẽ có trình độ phát triển cao hơn, càng xa trung tâm, hành lang càng kém phát triển. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội Là quá trình lựa chọn có tính chiến lược các cách thức phát triển và bé trí những trung tâm, những hành lang, các bể mặt, trên cơ sở tận dụng cao nhất các nguồn lực, tạo ra một cơ cấu không gian kinh tế - xã hội tối ưu trong một giai đoạn phát triển nhất định. Là tổng sơ dé phát triển va phân bố các ngành, các vùng kinh tế lớn: thực chất đây là những sơ đồ phat triển và phân bố từng vùng, từng ngành kinh tế SVTH : Nguyễn Thị Thủy Trang Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Thay Nguyễn Thiện Hiển lớn ( tằm nhin lâu dai, bao quát trên toan vùng lớn, toàn quốc, thậm chi thé giới nhưng giới hạn ở từng ngành ).
- Quy hoạch vùng: tổ chức hợp lý và cụ thé hơn toàn bộ các hoạt động kinh tế, dân cư, mạng lưới ha tang sản xuất và xã hội trên một không gian không lớn lắm. Lý thuyết cực của F.Perroux Lý thuyết phục vụ lựa chọn các lãnh thổ trọng điểm ( Pháp: đầu những năm 50 của thế kỷ XX ). Một vùng không thé phát triển kinh tế đều đặn ở tất cả các điểm trên lãnh thé của nó theo củng một thời gian, mà nó có xu hướng phát triển nhất ở một vài điểm này, trong khi đó thì ở những nơi khác lại chậm phát triển hoặc bị trì trệ. Tắt nhiên, các điểm phát triển nhanh này là những trung tâm có lợi thế so với toàn vùng.
Lý thuyết này cho rằng công nghiệp và địch vụ có vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng của vùng. đi kèm theo với điểm phát triển tăng trưởng là một ngành công nghiệp then chốt. Ngành công nghiệp then chốt phát triển và phát đạt, do công ăn việc làm tăng, sức mua cũng tăng lên, các ngành công nghiệp và các hoạt động mới bị thu hút vào vùng đó. Điều quan trọng là Francoi Perroux khuyến cáo về hai loại cực: cực phát triển và cực tăng trưởng.
+ Cực phát triển là một phức hợp trong đó có một hoạt động động lực và các hoat động khác quay xung quanh nó, có những tác động lôi cuốn quan trọng đối với các khu vực xung quanh. + Cực tăng trưởng là một tổng thể, một phức hợp những hoạt động thụ động chịu ảnh hưởng thúc đây từ bên ngoài của một cực phát triển. các cực tăng trưởng la các cực vệ tinh của cực phát triển. Lý thuyết cực tăng trưởng đã được áp dụng rộng rai ở Châu A, nhất là các nước ASEAN và qua thực tế đã có nhiều kinh nghiệm và kết quả tập hợp với các quốc gia còn thiếu vến cần kêu gọi vốn nước ngoài.
Đây cũng là lý thuyết giải thích sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh tho theo hướng phát triển có trọng điểm. SVTH : Nguyễn Thị Thủy Trang Trang 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Thấy Nguyễn Thiện Hiển 1. Những cơ sở lý luận về khu kinh tế 1. Khái quát về khu kinh tế Khu kinh tế được thành lập trong một quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong vả ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt.
Trong khi khu kinh tế tự do là tên gọi phổ biến, thì một số nước cỏ thể gọi theo cách khác. Chẳng hạn có thể gọi lả khu kinh tế đặc biệt ( hay đặc khu kinh tế), khu kinh tế mở, khu thương mại tự do, hay thậm chí đơn giản chỉ là khu kinh tế, khu tự do. Các khu kinh tế được quyết định thành lập đều phải đảm bảo các điều kiện hình thành, như vị trí thuận lợi, gan các sân bay, cảng biển; quy mô diện tích từ 10.000 ha trở lên; có dự án, hay công trình nỏng cốt mang ý nghĩa quốc gia; thuận lợi cho việc giải phóng mặt bằng. Các biện pháp khuyến khích đặc biệt thường được áp dụng để thu hút đầu tư vào khu kính tế tự do gồm: + Tao môi trường kinh doanh thuận lợi ( miễn giảm thuế, it quy chế nhất có thẻ, chính sách linh hoạt về LD ).
« Co sở hạ tang tiện lợi, điều kiện sống thật tốt cho những người làm việc trong khu kinh tế này ( dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế, vui chơi-giải trí đạt đẳng cấp quốc tế ). + Vi trí địa lý chiến lược ( gắn với cảng biển, cảng hàng không quốc tế, gần thị trường tiêu dùng lớn ). « Cùng các hỗ trợ và ưu đãi khác. Trong một khu kinh tế tự do có thể gồm nhiều khu chức năng như khu vực phi thuế quan ( khu vực bảo thuế ), khu công nghiệp, khu chế xuắt, khu công nghệ cao, các tiểu khu du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, dich vụ, v.
SVTH : Nguyên Thị Thủy Trang Trang 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Thay Nguyễn Thiện Hiển 1. Định nghĩa và những đặc trưng của khu kinh tế 1. Định nghĩa - Khu kinh tế ở Việt Nam là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kính doanh thuận lợi và bình đăng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Có nhiều nguyên nhân đưa tới sự ra đời và ngày cảng hưng thịnh của các KKT trên phạm vi toàn cầu.
Có thể nói, các KKT là nơi gặp nhau và kết hợp giữa các lợi ích của các nhà đầu tư với các nước chủ nhà trong một môi trường đặc biệt chấp nhận được cho cả hai phía. Về lý thuyết, cơ sở kinh tế của KKT là sự phân công LD dựa trên lý thuyết so sánh chi phí tương đối, nhằm mục tiêu: Đối với các chủ đầu tư: - Khai thác các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao hơn nhờ giảm chi phí sản xuất về nhân công, thuế, giao thông vận tải cũng như nhờ khai thác các khuyến khích đầu tư của nước chủ nhà. - Đáp ứng yêu cầu cạnh tranh thị trường thế giới tại khu vực vào thời điểm thị trưcầờ n thi nết;g - Tạo cơ sở để mở đường thâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ mới. Tạo nguồn cung cấp nguyên liệu, sản phẩm trung gian tại chỗ để ổn định và mở mang kinh doanh của chủ đầu tư.
Đối với nước tiếp nhận đầu tư: - Tác động trực tiếp: + Nâng cao năng lực sản xuất của đất nước dé tăng thu ngoại tệ. + Tăng thu hút vốn đầu tư, công nghệ để nâng cao nhịp độ phát triển và hiện đại hoá đất nước. + Tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao chất lượng đội ngũ LD ( cà vé tay nghề kỹ thuật, quản lý lẫn tư duy, tác phong công nghiệp hoá ). SVTH : Nguyễn Thị Thủy Trang Trang l6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD - Thay Nguyễn Thiện Hiển + Thu được lợi ích ròng tir độ chênh lệch giữa lợi nhuận va chi phí mở KKT để tăng nguồn thu cho ngân quỹ quốc gia.
~ Tác động gián tiếp: + Rút ngắn thời gian vả chỉ phí để tăng thâm nhập vảo thị trường thế giới, nhất là những thị trường có dung lượng lớn. Mở rộng sự hiểu biết- thông tin lẫn nhau giữa thị trưởng trong va ngoải nước. + Thúc day phát triển các vùng lãnh thé kinh tế mới của đất nước. + Tạo lập và thúc đẩy các quan hệ liên kết tích cực trực- gián tiếp giữa các cơ sở kinh doanh trong va ngoài KKT để tạo ra những xung lực mới cho phát triển kinh tế toàn đất nước.
Hơn nữa, các KKT được coi như một bộ phận gắn liền của chính sách mớ cửa ra bên ngoài, tăng cường các liên kết trao đổi, giao lưu kinh tế và kỹ thuật với thế giới để khai thác cơ hội, lợi thế của người di sau. Những đặc trưng của khu kinh tế Với quá trình phát triển hàng trăm năm, song chỉ vài thập kỷ gần đây, các khu kinh tế trọng điểm (KTTĐ) mới thực sự trở thành một trong những đặc điểm và xu hướng nổi bật của đời sống kinh tế- xã hội quốc tế.Xét trên toàn thế giới, các khu này được biểu đạt phong phú bing từ 20-30 thuật ngữ khác nhau, song về bản chất, chúng thống nhất với nhau bởi những đặc trưng sau đây: - Chúng luôn là một bộ phận không thé tách rời của một quốc gia, thường là những khu vực địa lý riêng biệt thích hợp, có hàng rào giới hạn với các vùng lãnh thổ còn lại của các nước sở tại và được chính phủ nước đó chính thức cho phép hoặc rút phép xây dựng và phát triển.