Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tình trạng nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là một hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài và diễn biến ngày càng phức tạp trong đời sống thực tiễn tại Việt Nam. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân như hoàn cảnh lịch sử chiến tranh, sự hạn chế trong nhận thức pháp luật, điều kiện địa lý chia cắt ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo, cùng sự biến chuyển về lối sống và quan niệm hôn nhân của các nhóm chủ thể khác nhau, việc xác lập cuộc sống chung không qua thủ tục đăng ký kết hôn xuất hiện ngày càng phổ biến. Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có hiệu lực thi hành và bổ sung các quy phạm điều chỉnh, thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật cho thấy các quy định hiện hành còn mang tính đơn giản, sơ sài, chưa bao quát được sự đa dạng của các mối quan hệ phát sinh. Tình trạng này dẫn tới nhiều khó khăn trong quản lý nhà nước cũng như việc giải quyết các tranh chấp về nhân thân, tài sản và con chung, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của các bên yếu thế, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội (thực hiện năm 2024 dưới sự hướng dẫn của Th.S Nông Thị Thoa) đã lựa chọn đề tài "Các trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" nhằm nghiên cứu toàn diện vấn đề này dưới góc độ pháp lý.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về chung sống như vợ chồng, phân tích hệ thống quy định pháp luật hiện hành và các hệ quả pháp lý phát sinh, khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến việc chung sống như vợ chồng; hệ thống hóa và phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ này.
  2. Phân tích các quy định pháp luật về hậu quả pháp lý của hành vi chung sống như vợ chồng trên các phương diện nhân thân, tài sản và con chung.
  3. Tổng hợp các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn xét xử, đưa ra bình luận, đánh giá; từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm giải quyết các vướng mắc pháp lý và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ chung sống như vợ chồng.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các dạng thức chung sống như vợ chồng trong thực tế, các quy định pháp luật thực định điều chỉnh việc giải quyết các hệ quả pháp lý phát sinh, cùng thực tiễn áp dụng pháp luật và những vướng mắc, khiếm khuyết trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ lý luận và pháp lý thực định tại Việt Nam, trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành; đồng thời mở rộng tham khảo số liệu thực tiễn xét xử qua các thời kỳ và đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nền tảng lý luận của khóa luận dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn liền với thực tiễn xã hội Việt Nam, hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả kết hợp sử dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để bóc tách các yếu tố cấu thành khái niệm, đặc điểm pháp lý của hành vi chung sống như vợ chồng và hệ thống hóa các quan điểm lập pháp.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Được vận dụng khi rà soát, đánh giá quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ chung sống không đăng ký kết hôn qua các thời kỳ: phong kiến (Bộ luật Hồng Đức), thời kỳ Pháp thuộc (Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Dân luật Giản yếu Nam Kỳ 1883), và giai đoạn từ sau năm 1945 đến nay qua các đạo luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000 và 2014.
  • Phương pháp luật học so sánh: Sử dụng để đối chiếu quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với các văn bản pháp luật thời kỳ trước; đồng thời so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với hệ thống pháp luật của Vương quốc Anh (chế định Common-law marriage, Cohabitation), Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp (chế định Pacte civil de solidarité - PACS theo Bộ luật Dân sự Pháp) và một số quốc gia châu Á (Trung Quốc, Indonesia).
  • Phương pháp đánh giá và dự báo: Được áp dụng để nhận diện các bất cập, mâu thuẫn giữa các ngành luật (Hôn nhân và gia đình, Dân sự, Hành chính, Hình sự), từ đó dự báo nhu cầu điều chỉnh và đề xuất các giải pháp lập pháp.

Hệ thống nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000, 2014; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP); Nghị quyết số 35/2000/QH10; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP; Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC; Quy định số 37-QĐ/TW (2021) và Quy định số 69-QĐ/TW (2022) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
  • Nguồn dữ liệu thực tiễn và thống kê: Báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao (các giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016); Báo cáo số 153/BC-BTP năm 2013 của Bộ Tư pháp về tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; số liệu thống kê rà soát công tác hộ tịch tính đến ngày 31/12/2016 tại 56 tỉnh, thành phố; kết quả nghiên cứu công bố năm 2021 của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE); cùng số liệu thống kê của Bộ Y tế về người chuyển giới.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý thuyết, phân tích bản chất pháp lý và lược sử điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn. Tác giả chỉ ra rằng Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 định nghĩa: "Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng". Tuy nhiên, quy định này chưa bao quát đầy đủ thực tiễn cuộc sống vì giới hạn chủ thể ở quan hệ "nam - nữ", trong khi đời sống thực tế đã xuất hiện các mối quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính hoặc người chuyển giới; đồng thời chưa phân định rõ tính chất công khai hay không công khai của hành vi. Trên cơ sở phân tích, tác giả đưa ra định nghĩa mang tính khái quát: "Chung sống như vợ chồng là việc hai cá nhân thỏa thuận công khai hoặc không công khai tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng".

Về mặt đặc điểm, quan hệ chung sống như vợ chồng mang ba dấu trưng cơ bản:

  1. Hai bên không bị ràng buộc lẫn nhau về mặt pháp lý: Khác với hôn nhân hợp pháp, các bên không chịu sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ nhân thân do luật định cho quan hệ vợ chồng, có thể xác lập hoặc chấm dứt việc chung sống mà không bắt buộc phải qua thủ tục tư pháp hay hành chính.
  2. Sự đa dạng về chủ thể: Không bị giới hạn chặt chẽ bởi các điều kiện kết hôn, chủ thể tham gia rất đa dạng về giới tính (khác giới, cùng giới, người chuyển giới), độ tuổi (chưa thành niên, thanh niên, người cao tuổi) và tình trạng pháp lý.
  3. Mục đích tham gia đa dạng: Không chỉ hướng tới việc xây dựng gia đình bền vững như kết hôn hợp pháp, các bên có thể chung sống để thỏa mãn nhu cầu tình cảm, nhu cầu vật chất, chia sẻ cuộc sống hoặc sống thử trước hôn nhân.

Khảo sát lịch sử lập pháp Việt Nam cho thấy sự biến đổi qua từng thời kỳ:

  • Thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc: Bộ luật Hồng Đức xử phạt nghiêm khắc các trường hợp chung sống, sinh con khi chưa cưới gả; các bộ Dân luật thời Pháp thuộc (Điều 91 Dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ) chỉ công nhận hôn nhân khi có đăng ký với hương bộ và cấp chứng thư giá thú.
  • Thời kỳ sau năm 1945 đến trước năm 2014: Luật năm 1959 về nguyên tắc không công nhận chung sống không đăng ký kết hôn, song Thông tư số 112/NCPL ngày 19/8/1972 của TANDTC đã ghi nhận khái niệm "hôn nhân thực tế" đối với các trường hợp đủ điều kiện kết hôn nhưng vi phạm thủ tục. Luật năm 1986 tiếp tục thừa nhận gián tiếp qua Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 khi cho phép giải quyết như việc ly hôn. Luật năm 2000 chính thức bãi bỏ chế định "hôn nhân thực tế" (Khoản 1 Điều 11), chỉ bảo lưu giá trị đối với các trường hợp xác lập trước ngày 03/01/1987 theo Nghị quyết số 35/2000/QH10.

Khi so sánh quốc tế, tác giả phân tích:

  • Pháp luật Vương quốc Anh coi quan hệ chung sống (cohabitation) là quan hệ dân sự, không công nhận tư cách vợ chồng nhưng tôn trọng các "thỏa thuận sống chung" do các bên lập để giải quyết tài sản và con cái.
  • Pháp luật Hoa Kỳ tiếp tục ghi nhận chế định hôn nhân theo tập quán pháp (common-law marriage) tại một số bang (như Ohio, Texas), trong khi một số bang khác (như California) thiết lập cơ chế đăng ký sống chung cho các cặp đôi cùng giới hoặc người cao tuổi; bang Florida đã bãi bỏ lệnh cấm sống chung từ ngày 22/3/2016.
  • Pháp luật Cộng hòa Pháp có bước tiến lập pháp rõ nét khi vừa định nghĩa quan hệ sống chung tại Điều 515 Bộ luật Dân sự, vừa ban hành chế định thỏa ước dân sự về sự đoàn kết (Pacte civil de solidarité - PACS), cho phép hai cá nhân (cùng giới hoặc khác giới) ký kết hợp đồng tổ chức cuộc sống chung với các quyền, nghĩa vụ liên đới tài sản cụ thể.
  • Pháp luật các nước châu Á nhìn chung còn khắt khe; một số quốc gia Hồi giáo như Indonesia coi chung sống không hôn thú là hành vi vi phạm pháp luật (đạo luật Hồi giáo năm 2005 quy định phạt tù đến 2 năm), còn Bộ luật Dân sự năm 2020 của Trung Quốc không công nhận và cũng không bảo vệ quan hệ này.

Dựa trên quy định thực định, tác giả phân loại các trường hợp chung sống tại Việt Nam thành hai nhóm:

  • Chung sống không trái quy định của pháp luật: Bao gồm nam nữ đủ điều kiện nhưng không đăng ký kết hôn; chung sống giữa những người cùng giới tính (Khoản 2 Điều 8 Luật năm 2014 không thừa nhận nhưng không cấm); và quan hệ xác lập trước ngày 03/01/1987 được công nhận là hôn nhân thực tế theo Khoản 2 Điều 44 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.
  • Chung sống trái quy định của pháp luật: Bao gồm tảo hôn (dưới tuổi luật định); chung sống vi phạm chế độ một vợ, một chồng (người đang có vợ, có chồng mà chung sống với người khác theo Điểm c Khoản 2 Điều 5); và chung sống giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời, hoặc giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (Điểm d Khoản 2 Điều 5).

Chương 2: Giải quyết các trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế giải quyết của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng sự phối hợp xử lý của các ngành luật khác:

Về quyền yêu cầu giải quyết:

  • Đối với trường hợp xác lập trước ngày 03/01/1987 (hôn nhân thực tế), quyền yêu cầu áp dụng tương tự như ly hôn, bao gồm cả việc hạn chế quyền yêu cầu của người chồng khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Điều 51).
  • Đối với các trường hợp chung sống không đăng ký kết hôn khác, theo Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, khi các bên có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và áp dụng Điều 9, Điều 14 để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.
  • Đối với trường hợp chung sống trái pháp luật gây phương hại đến trật tự công cộng, tác giả kiến nghị mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp tương tự Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (bao gồm vợ/chồng hợp pháp, cha, mẹ, con, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em và Hội Liên hiệp Phụ nữ).

Về hậu quả pháp lý theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

  • Quan hệ nhân thân: Theo Khoản 1 Điều 14 và Khoản 2 Điều 53, Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng (tình nghĩa, sống chung, đại diện theo pháp luật của nhau, thừa kế theo pháp luật, quyền cấp dưỡng giữa vợ chồng) không phát sinh. Các bên chỉ giữ các quyền nhân thân cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013 và chỉ có thể đại diện cho nhau theo ủy quyền.
  • Quan hệ tài sản: Điều 16 quy định giải quyết theo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo Bộ luật Dân sự và các luật liên quan, có tính đến công sức đóng góp (công việc nội trợ và công việc duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập) và ưu tiên bảo vệ phụ nữ, con cái. Tác giả chỉ ra lỗ hổng lập pháp: Khoản 1 Điều 16 chưa dự liệu và chưa có quy phạm điều chỉnh đối với tình huống "thỏa thuận phân chia tài sản giữa các bên bị vô hiệu".
  • Quan hệ giữa cha mẹ và con: Điều 15 quy định quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con khi ly hôn; tình trạng pháp lý của hôn nhân không làm thay đổi trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.

Cách thức xử lý theo các ngành luật khác:

  • Pháp luật hành chính: Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Điều 59) quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi chung sống vi phạm chế độ một vợ, một chồng hoặc chung sống giữa những người từng có quan hệ nuôi dưỡng; phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi chung sống giữa những người cùng dòng máu trực hệ, phạm vi ba đời, cha mẹ nuôi với con nuôi.
  • Quy định kỷ luật của Đảng: Quy định số 37-QĐ/TW (2021) và Quy định số 69-QĐ/TW (2022) xử lý đảng viên có hành vi không đăng ký kết hôn hoặc đang có vợ/chồng mà sống chung với người khác bằng các hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách chức hoặc khai trừ.
  • Pháp luật hình sự: Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng" với khung hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm trong trường hợp làm gia đình ly hôn, người liên quan tự sát, hoặc đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt mà vẫn duy trì. Tội loạn luân (Điều 184) xử phạt tù từ 1 đến 5 năm đối với hành vi giao cấu giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Tác giả chỉ rõ sự thiếu thống nhất: Điều 184 BLHS chỉ xử lý hình sự đối với quan hệ trực hệ và anh chị em ruột, chưa bao quát phạm vi "những người có họ trong phạm vi ba đời" như điều cấm tại Điểm d Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chương 3: Thực trạng nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn và giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật

Chương 3 phản ánh bức tranh thực tiễn đời sống và công tác tư pháp tại Việt Nam, nêu bật các dạng thức chung sống phổ biến hiện nay:

  1. Hiện tượng "sống thử" của giới trẻ, sinh viên các trường đại học, cao đẳng nhằm tìm hiểu đối phương nhưng thiếu ràng buộc trách nhiệm, tiềm ẩn hệ lụy về nạo phá thai và tổn thương sức khỏe, tâm lý.
  2. Chung sống giữa những người cùng giới tính (dẫn số liệu nghiên cứu của iSEE năm 2021: người đồng tính, song tính và chuyển giới chiếm khoảng 9% - 11% dân số).
  3. Chung sống của người chuyển giới (dẫn số liệu của Bộ Y tế ước tính có khoảng 480.000 người chuyển giới tại Việt Nam).
  4. Các cặp đôi tổ chức đám cưới truyền thống trước họ hàng nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn ("không cần hôn thú"), hoặc các trường hợp người cao tuổi, người đã ly hôn về chung sống nương tựa nhau.

Về số liệu thụ lý giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan tư pháp:

  • Số lượng các vụ án xin ly hôn mà Tòa án ra phán quyết không công nhận quan hệ vợ chồng tăng liên tục qua các năm:
    • Giai đoạn từ 01/10/2006 đến 30/09/2007: 2.251 vụ.
    • Giai đoạn từ 01/10/2007 đến 30/09/2008: 2.336 vụ.
    • Giai đoạn từ 01/10/2008 đến 30/09/2010: 2.455 vụ.
    • Giai đoạn từ 01/10/2010 đến 30/09/2016: 3.245 vụ.
  • Về công tác quản lý hộ tịch đối với các trường hợp xác lập cuộc sống chung giai đoạn từ sau ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 (thuộc diện có nghĩa vụ đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10): Tính đến ngày 31/12/2016, theo báo cáo của 56 tỉnh/thành phố tổng hợp từ Báo cáo số 153/BC-BTP của Bộ Tư pháp, toàn quốc rà soát được 925.753 trường hợp. Trong đó, cơ quan đăng ký hộ tịch đã cấp đăng ký kết hôn được 623.489 trường hợp (đạt 68%), còn lại 302.264 trường hợp chưa thực hiện đăng ký kết hôn (chiếm 32%).

Để tháo gỡ các vướng mắc trên, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi, mở rộng định nghĩa tại Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; bổ sung quy định cụ thể về chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết việc chung sống trái pháp luật; xây dựng cơ chế xử lý tài sản khi thỏa thuận phân chia bị vô hiệu; nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế (như mô hình thỏa ước sống chung PACS của Pháp) để bảo hộ quyền tài sản cho các cặp đôi cùng giới hoặc chung sống thực tế bền vững; sửa đổi, đồng bộ hóa phạm vi chủ thể của tội loạn luân trong Bộ luật Hình sự thống nhất với điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình (phạm vi ba đời).
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Tăng mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính để đảm bảo tính răn đe; tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật hộ tịch và hôn nhân gia đình tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa; ban hành nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC nhằm thống nhất cách tính toán, xác định công sức đóng góp của các bên đối với tài sản chung khi chấm dứt quan hệ sống chung.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phân tích hệ thống dữ liệu thực chứng phản ánh tình hình xét xử và quản lý hộ tịch liên quan đến các trường hợp chung sống như vợ chồng tại Việt Nam:

Chỉ số / Giai đoạn thống kê Số liệu ghi nhận Nguồn trích xuất
Số vụ án xin ly hôn bị tuyên không công nhận là vợ chồng (01/10/2006 - 30/09/2007) 2.251 vụ Báo cáo ngành của TANDTC
Số vụ án xin ly hôn bị tuyên không công nhận là vợ chồng (01/10/2007 - 30/09/2008) 2.336 vụ Báo cáo ngành của TANDTC
Số vụ án xin ly hôn bị tuyên không công nhận là vợ chồng (01/10/2008 - 30/09/2010) 2.455 vụ Báo cáo ngành của TANDTC
Số vụ án xin ly hôn bị tuyên không công nhận là vợ chồng (01/10/2010 - 30/09/2016) 3.245 vụ Báo cáo ngành của TANDTC
Tổng số trường hợp chung sống từ sau 03/01/1987 đến trước 01/01/2001 (rà soát tại 56 tỉnh/thành tính đến 31/12/2016) 925.753 trường hợp Báo cáo 153/BC-BTP của Bộ Tư pháp
Số trường hợp đã được cấp đăng ký kết hôn 623.489 trường hợp (chiếm 68%) Báo cáo 153/BC-BTP của Bộ Tư pháp
Số trường hợp chưa đăng ký kết hôn tồn đọng 302.264 trường hợp (chiếm 32%) Báo cáo 153/BC-BTP của Bộ Tư pháp
Tỷ lệ người đồng tính, song tính và chuyển giới trong dân số 9% - 11% dân số Nghiên cứu của Viện iSEE (tháng 12/2021)
Ước tính số lượng người chuyển giới tại Việt Nam Khoảng 480.000 người Thống kê của Bộ Y tế

Bên cạnh việc lượng hóa thực trạng, khóa luận có những đóng góp học thuật và thực tiễn cụ thể:

  • Đóng góp về mặt lý luận: Đề xuất định nghĩa khoa học mới về chung sống như vợ chồng, khắc phục tính bó hẹp về chủ thể (không chỉ nam - nữ mà gồm cả người cùng giới, chuyển giới) và tính chất hành vi (bao gồm cả thỏa thuận công khai hoặc không công khai) so với Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Chỉ ra các khoảng trống và xung đột pháp luật: Phát hiện sự thiếu vắng quy phạm điều chỉnh trường hợp thỏa thuận phân chia tài sản giữa hai bên chung sống bị tuyên vô hiệu (Khoản 1 Điều 16); chỉ ra độ vênh về phạm vi chủ thể cận huyết thống giữa tội loạn luân trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (chỉ cấm trực hệ và anh chị em ruột) và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (cấm cả phạm vi ba đời).
  • Hệ thống hóa cơ chế xử lý liên ngành: So sánh và làm rõ các chế tài áp dụng đồng thời giữa Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 82/2020/NĐ-CP), Bộ luật Hình sự năm 2015 và các quy định kỷ luật nội bộ của Đảng (Quy định số 37-QĐ/TW và Quy định số 69-QĐ/TW).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học nên tồn tại một số hạn chế nhất định được xác định từ phạm vi nghiên cứu:

  • Về nguồn dữ liệu thực tiễn: Các chuỗi số liệu thống kê tư pháp của Tòa án nhân dân tối cao được trích dẫn chủ yếu dừng lại ở giai đoạn đến năm 2016; số liệu rà soát hộ tịch của Bộ Tư pháp chỉ giới hạn tại 56 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Nghiên cứu chưa tiếp cận được toàn diện số liệu thống kê xét xử chuyên biệt về chia tài sản chung của các cặp đôi sống chung trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023.
  • Về phạm vi khảo sát thực địa: Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nghiên cứu, tác giả chưa thể thực hiện các cuộc điều tra xã hội học pháp luật trên diện rộng hoặc phỏng vấn sâu các đối tượng trực tiếp tham gia quan hệ chung sống không đăng ký kết hôn tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số hay các nhóm yếu thế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài bao gồm việc mở rộng cập nhật các bản án, án lệ thực tế của TAND các cấp từ năm 2016 đến nay về tranh chấp tài sản và quyền nuôi con giữa các cặp đôi sống chung; đồng thời đi sâu nghiên cứu khả năng xây dựng một đạo luật riêng hoặc bổ sung một chương chuyên biệt về đăng ký chung sống dân sự (tương tự như mô hình PACS của Pháp) phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Cung cấp hệ thống tài liệu tổng hợp toàn diện về lịch sử lập pháp hôn nhân gia đình Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nay, các lập luận phân tích điều luật và bảng so sánh pháp luật quốc tế phục vụ các học phần Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự, Luật So sánh.
  • Cán bộ nghiên cứu, xây dựng chính sách: Phần chỉ ra khoảng trống pháp lý của Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (vấn đề thỏa thuận tài sản vô hiệu) và sự không đồng bộ giữa Điều 184 Bộ luật Hình sự với Điểm d Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là tài liệu tham khảo giá trị cho các hoạt động rà soát, kiến nghị sửa đổi luật.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư: Phần luận giải về thẩm quyền yêu cầu giải quyết, các căn cứ áp dụng Điều 14, 15, 16 Luật năm 2014 kết hợp Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP là cơ sở tham khảo hữu ích trong quá trình giải quyết tranh chấp nhân thân, tài sản và xác định quan hệ cha mẹ - con khi không công nhận quan hệ vợ chồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án giải quyết thế nào khi nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu xin ly hôn?
Căn cứ Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, Tòa án thụ lý vụ việc và ra quyết định/bản án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa các bên, chứ không giải quyết cho ly hôn theo thủ tục thông thường. Các tranh chấp về con chung và tài sản (nếu có) được Tòa án giải quyết lần lượt theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Tài sản tạo lập trong thời kỳ nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được phân chia theo nguyên tắc nào?
Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc giải quyết quan hệ tài sản trước hết tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Nếu không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật liên quan, trong đó tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc sở hữu của bên đó; tài sản chung được phân chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên (công việc nội trợ và các công việc khác để duy trì đời sống chung được tính tương đương lao động có thu nhập), đồng thời phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.

3. Quan hệ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn xác lập trước ngày 03/01/1987 được pháp luật xử lý khác các trường hợp sau thời điểm này ra sao?
Theo Khoản 2 Điều 44 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn tại Nghị quyết số 35/2000/QH10, các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn được công nhận là "hôn nhân thực tế", quan hệ hôn nhân được xác lập kể từ ngày các bên bắt đầu chung sống. Khi có yêu cầu ly hôn hoặc chia di sản thừa kế, Tòa án thụ lý và áp dụng các quy định như đối với các cặp vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp.

4. Hành vi chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời bị xử lý thế nào trong pháp luật hiện hành và có bị truy cứu về tội loạn luân không?
Hành vi này bị nghiêm cấm theo Điểm d Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 2 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, hành vi này không cấu thành "Tội loạn luân" theo Điều 184 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vì điều luật hình sự chỉ giới hạn xử lý hành vi giao cấu giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, anh chị em cùng cha mẹ, hoặc anh chị em cùng cha khác mẹ/cùng mẹ khác cha.

5. Mức phạt tiền đối với hành vi đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP là bao nhiêu?
Theo Điểm b Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/07/2020 của Chính phủ, hành vi đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác bị áp dụng mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng (nâng cao hơn so với mức phạt 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng quy định tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP trước đây).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận, lịch sử lập pháp và thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với hiện tượng nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn tại Việt Nam theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Qua việc phân tích dữ liệu xét xử của Tòa án nhân dân tối cao và số liệu quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp, công trình đã nhận diện cụ thể các vướng mắc trong phân định tài sản, bảo vệ quyền lợi phụ nữ, trẻ em và sự thiếu đồng bộ giữa các ngành luật. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mở rộng chủ thể yêu cầu, xử lý thỏa thuận vô hiệu và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và xét xử tư pháp.