Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. QUAN NIỆM VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 1. Quan niệm kết hôn hợp pháp là cơ sở để xác định việc kết hôn trái pháp luật Nhìn từ góc độ xã hội học, quan hệ hôn nhân và gia đình là một hình thức của quan hệ xã hội được xác lập giữa hai chủ thể nam và nữ, quan hệ này tồn tại và phát triển theo quy luật của tự nhiên với mục đích đảm bảo sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài người. Ngay cả khi không có bất kỳ một quy tắc, một quy định nào thì quan hệ hôn nhân và gia đình từ trước đến nay vẫn được xác lập, con người vẫn chung sống, vẫn sinh con đẻ cái và tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Do đó, quyền kết hôn là một quyền tự nhiên rất con người, quyền con người. Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, những quy tắc xã hội dần dần xuất hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội khách quan mang tính ý chí. Kết hôn không còn là một quyền tự do, bản năng của con người mà trở thành một quan hệ xã hội được điều chỉnh, tác động bởi những quan hệ về lợi ích của giai cấp thống trị. Khi ấy, mới bắt đầu xuất hiện những quan niệm đầu tiên về hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp.
Trải qua các thời kỳ khác nhau, quan hệ hôn nhân trước hết được điều chỉnh bởi những tập quán, những ước lệ, đây là thời kỳ hôn nhân huyết thống. Quan niệm về kết hôn thời kỳ đó cũng hết sức đơn giản, không có những thủ tục, những lễ nghi rườm rà. Họ đơn thuần coi đó là sự kết hợp rất tự nhiên của hai chủ thể nam và nữ, quan hệ hôn nhân được xác lập trên cơ sở thực tế chung sống. Trong quá trình phát triển, bắt đầu xuất hiện những quy định về cấm kết hôn giữa những thế hệ trực hệ, giữa bố với con gái, mẹ và con trai, ông bà với cháu, dần dần cấm kết 12 hôn giữa cả những thế hệ bàng hệ, giữa anh chị em ruột với nhau.
Tức là quan hệ hôn nhân đã được điều chỉnh bởi những tục lệ được đặt ra trong khuôn khổ các thị tộc, bộ lạc, các hình thức tổ chức xã hội thời đó, do đó, nếu quan hệ hôn nhân tuân thủ theo những trật tự đặt ra thì sẽ được xã hội thừa nhận, cho phép, ngược lại nếu không tuân thủ thì sẽ bị ngăn cản, phản đối. Cho đến giai đoạn phồn thịnh của tôn giáo thì những trật tự tôn giáo do giáo chủ đặt ra còn có sức mạnh cưỡng chế, áp đặt hơn nhiều so với các tập tục, ước lệ trước kia. Dưới thời kỳ này, quan niệm về hôn nhân trái pháp luật chính là những quan hệ hôn nhân không tuân thủ những trật tự tôn giáo của xã hội. Không chỉ tuân thủ về các điều kiện kết hôn, mà về hình thức kết hôn thời kỳ này cũng rất được coi trọng.
Ví dụ như việc một cuộc hôn nhân hợp pháp phải được tổ chức theo đúng nghi thức lễ giáo, tôn giáo. Như vậy, đến thời kỳ này, kết hôn không còn là một sự kết hợp tự nhiên giữa những chủ thể khác giới mà đã trở thành một nghi thức tôn giáo. Nếu đi ngược lại với những quy tắc đó thì không những hôn nhân không được chấp nhận, bị ngăn cấm mà những chủ thể còn bị trừng phạt bởi những chế tài rất hà khắc. Xã hội phát triển đến thời kỳ phong kiến, hôn nhân mang tính chất dân sự, tức là sự bày tỏ ý chí của các bên.
Song hôn nhân không đơn thuần là sự kết hợp giữa đôi bên mà hôn nhân còn là sự giao lưu giữa các dòng họ kèm theo đó là những mục đích về kinh tế, chính trị nhất định. Chính vì vậy mà sự quyết định của cha mẹ là yếu tố bắt buộc trong quan hệ hôn nhân, giữa hai gia đình thì nhất định là phải môn đăng hộ đối… Và khi ấy, để xác lập quan hệ hôn nhân phải tuân theo những nghi thức cưới hỏi nhất định. Sự kiện kết hôn chỉ được xác lập khi những nghi thức như đính hôn, thành hôn được tiến hành theo đúng với phong tục, tập quán. Như vậy, có thể khái quát rằng, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa đã dần được hình thành và tác động trực tiếp tới các quy luật tự nhiên, điều chỉnh các mối quan hệ tự nhiên đó theo những chuẩn mực mà xã hội đặt ra vì mục đích lợi ích của giai cấp thống trị.
Những quy định đó có thể mới chỉ dừng lại ở những tập tục, ước 13 lệ, trật tự tôn giáo mà chưa được khái quát thành pháp luật để đưa quan hệ hôn nhân và gia đình thành một quan hệ pháp luật nhưng những ước lệ đó đã góp phần đặt nền móng cho những quan niệm sơ khai về kết hôn hợp pháp và trái pháp luật. Chỉ đến khi trong xã hội loài người có sự xuất hiện của pháp luật thì quan hệ hôn nhân và gia đình từ một quan hệ tự nhiên mới chính thức được xem xét trên khía cạnh một quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình. Khi đó, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là những quan hệ ý chí và phụ thuộc chặt chẽ vào ý chí pháp luật hay chính là những quy định pháp luật. Về mặt thuật ngữ, hôn nhân trái pháp luật phải dựa trên khái niệm hôn nhân hợp pháp.
Mà bản chất của pháp luật chính là lợi ích của Nhà nước, của giai cấp nhằm ổn định trật tự xã hội nói chung, trật tự hôn nhân và gia đình nói riêng. Nhà nước đã sử dụng pháp luật - một quan hệ ý chí của con người, của giai cấp để điều chỉnh những quan hệ xã hội tự nhiên nhằm đưa các quan hệ xã hội tự nhiên phát triển theo những hướng nhất định, có lợi cho sự phát triển chung của xã hội. Tuy nhiên, pháp luật muốn điều chỉnh được các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng thì phải phản ảnh được bản chất khách quan của quan hệ đó, khi pháp luật không phản ảnh được tính khách quan của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh thì tự bản thân nó phải thay đổi theo những chiều hướng phù hợp hơn. Dưới góc độ pháp luật, kết hôn là một sự kiện pháp lý nhằm xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Xã hội được xây dựng lên bởi những tế bào vô cùng quan trọng, đó chính là gia đình, mà cơ sở đầu tiên để hình thành một gia đình chính là việc kết hôn giữa hai bên nam nữ. Để đảm bảo tạo ra những tế bào tốt, những gia đình ổn định, lành mạnh thì trước hết ngay từ việc kết hôn của hai bên nam nữ đã phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định, sao cho cuộc hôn nhân đó được pháp luật cũng như xã hội công nhận. Cũng chính vì thế mà khi đề cập đến vấn đề kết hôn, người ta thường không chỉ nói khái 14 niệm kết hôn nói chung mà thường nhắc tới cụm từ: kết hôn hợp pháp hay hôn nhân hợp pháp. Vậy quan niệm thế nào là kết hôn hợp pháp? Theo quy định của hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình tại Việt Nam hiện nay thì nam nữ kết hôn được coi là hợp pháp khi đảm bảo hai yếu tố sau: Thứ nhất, phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với nhau, ý chí và mong muốn đó được thể hiện bằng lời khai của họ trong tờ khai đăng ký kết hôn cũng như trước các cơ quan đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Đây chính là điều kiện về yếu tố tự nguyện trong hôn nhân, hai bên nam nữ phải thể hiện ý chí thực của mình là mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình, thương yêu, chăm sóc cho nhau và cho con cái… Như vậy, có thể thấy yếu tố tự nguyện là một trong những điều kiện quan trọng đầu tiên để đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng gia đình bền vững. Thứ hai, việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận. Hôn nhân chỉ được Nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân mà cụ thể là việc kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn như C. Ăngghen: "Không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo luật hôn nhân một khi người đó kết hôn…" [2, tr.
Để hôn nhân được pháp luật thừa nhận, các cơ quan đăng ký kết hôn phải tiến hành điều tra, xác minh về những thông tin, lời khai của hai bên nam nữ, đối chiếu với những điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000. Khi đã thỏa mãn những điều kiện trên thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành đăng ký kết hôn cho hai bên nam nữ. Như vậy, để hôn nhân được Nhà nước và pháp luật công nhận, nam nữ phải tuân theo các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Đây cũng là nội dung của những quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình, thể hiện tính khoa học, phù hợp với những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân… 15 Như vậy, kết hôn hợp pháp là việc kết hôn đảm bảo thỏa mãn những điều kiện Luật định và sự tự nguyện cũng như các điều kiện và đăng ký kết hôn.
Sự kiện kết hôn được pháp luật công nhận sẽ là cơ sở pháp lý ghi nhận quyền và nghĩa vụ vợ chồng, xác định chủ thể của quan hệ vợ chồng, giữa cha mẹ và con và xác định rõ thời điểm làm phát sinh các quan hệ đó. Quan niệm về kết hôn trái pháp luật Trước hết cần khẳng định rằng, kết hôn trái pháp luật là một khái niệm pháp lý được pháp luật quy định và điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình.