CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC SỰ KIỆN QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU CỦA TỔ CHỨC GIÁO DỤC 1. Tổ chức sự kiện Tổ chức sự kiện là một thuật ngữ tương đối mới mẻ ở Việt Nam, vì vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Theo từ điển tiếng Việt: Sự kiện là sự việc có ý nghĩa quan trọng đang xảy ra, có ý nghĩa với đời sống xã hội (theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê năm 2004) Theo nghĩa phổ biến trong đời sống xã hội, thì sự kiện là một hiện tượng, hoặc một sự cố, biến cố mang tính chất bất thường xuất hiện. Ví dụ khi nói đến các sự kiện kinh tế tiêu biểu của Việt Nam trong năm người ta có thể đề cập đến: Việc tăng giá xăng dầu, khủng hoảng kinh tế, giảm giá chứng khoán.
Theo quan điểm kinh doanh tổ chức sự kiện bao gồm một số hoặc toàn bộ các hoạt động từ việc thiết kế (design), triển khai (execution) đến kiểm soát (control) các hoạt động của sự kiện nhằm đạt được các mục tiêu nhất định mà sự kiện đã đề ra. Qua nghiên cứu hoạt động tổ chức sự kiện hiện nay ở Việt Nam, cũng thấy rằng tổ chức sự kiện cũng bao gồm các hoạt động như nghiên cứu sự kiện, lập kế hoạch, chương trình cho sự kiện, điều hành các diễn biến của sự kiện, kết thúc sự kiện. Nguyễn Thị Mỹ Thanh, Giáo trình quản trị tổ chức sự kiện và lễ hội: Tổ chức sự kiện là một quá trình bao gồm một số hoặc toàn bộ các công việc: nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng; lập chương trình, kế hoạch, chuẩn bị các yếu tố cần thiết, và tổ chức tiến hành diễn biến của sự kiện trong một thời gian và không gian cụ thể để truyền đạt những thông điệp nhất định 7 đến những người tham gia sự kiện và xã hội, nhằm đáp ứng các mục đích khác nhau của các chủ thể tham gia vào sự kiện. Tác giả cho rằng tổ chức sự kiện là tổ chức các hoạt động trong tất cả các lĩnh vực xã hội như giải trí, kinh doanh, thương mại, thể thao, họp báo, nhằm mục đích truyền tải những thông điệp mà người làm sự kiện muốn công chúng của mình nhận thức được.
Ở những nước phát triển tổ chức sự kiện được xem như một ngành nghề đặc thù. Cho nên tổ chức sự kiện bao hàm các lĩnh vực khá rộng như: các sự kiện liên quan đến doanh nghiệp như lễ kỷ niệm ngày thành lập, hội nghị, các sự kiện mang mục đích gây quỹ, các hoạt động triển lãm, tổ chức các hội chợ thương mại, các sự kiện mang tính giải trí, lễ hội, buổi gặp gỡ giao lưu, các sự kiện văn hóa xã hội, sinh nhật, đám cưới,. Hoạt động tổ chức sự kiện Hiện nay, tại Việt Nam đang có rất nhiều cách hiểu, khái niệm khác nhau về sự kiện do đây là một ngành nghề tương đối mới. Theo như từ điển tiếng Việt thì “Sự kiện” là sự việc xảy ra có ý nghĩa quan trọng với đời sống xã hội và được các phương tiện truyền thông quan tâm đưa tin như: Seagame, các cuộc thi hoa hậu, chương trình ca nhạc –nghệ thuật, hoạt động về thể dục - thể thao, hay các buổi lễ kỷ niệm mang tính chất lịch sử.
Có một số ý kiến khác cho rằng sự kiện chỉ là những chương trình liên quan đến hoạt động thương mại và tiếp thị của các DN như: giới thiệu sản phẩm mới, khai chương, hội chợ, triển lãm. Một số khác lại có cách hiểu về sự kiện chủ yếu là những hoạt động mang ý nghĩa cá nhân và cộng đồng hẹp trong đời sống xã hội như sinh nhật, cưới hỏi, ma chay. Trên thế giới, tổ chức sự kiện đã được thừa nhận là một nghề. Lĩnh vực này trở thành một ngành công nghiệp đặc thù, có hệ thống lý luận về nghề nghiệp tương đối hoàn chỉnh.
Theo tiếng Anh, sự kiện (Event) bao hàm các lĩnh vực khá rộng như: Business events: Các sự kiện liên đến kinh doanh, Corporate events: Các sự kiện liên quan đến doanh nghiệp, Fundraising events: Sự kiện nhằm mục đích gây quỹ, Entertainment events: Sự kiện mang 8 tính chất giải trí, Concerts/live performances: Hòa nhạc, biểu diễn trực tiếp, Trade fairs: Hội chợ thương mại, Festive events: Lễ hội, liên hoan, Government events: Sự kiện của các cơ quan nhà nước, Exhibitions: Triển lãm, Meetings: Họp hành, gặp mặt, Seminars: Hội thảo chuyên đề, Workshops:Bán hàng, Conferences: Hội thảo, Conventions: Hội nghị, Social and cultural events: Sự kiện về văn hóa, xã hội, Sporting events: Sự kiện thể thao, Marketing events: Sự kiện hỗ trợ hoạt động Marketing, Promotional events: Sự kiện kết hợp với xúc tiến thương mại, Brand and Product launches: Sự kiện cho thương hiệu và sản phẩm. Tóm lại theo tác giả sự kiện (Event) nói chung là việc tổ chức các hoạt động trong các lĩnh vực xã hội, thương mại, kinh doanh, giải trí, thể thao,… thông qua các hình thức như hội thảo, hội nghị, họp báo, triển lãm, lễ hội,… nhằm mục đích truyền đi những thông điệp mà người làm sự kiện muốn công chúng của mình nhận thức được. Và hoạt động tổ chức sự kiện là quá trình thực hiện, thi công các phần việc cho một sự kiện diễn ra, từ khi nó bắt đầu hình thành trong ý tưởng đến khi diễn ra và kết thúc, thậm chí còn dư âm sau sự kiện. Thương hiệu Thương hiệu đã xuất hiện cách đây rất lâu đời nhằm mục đích chính là phân biệt hàng hóa của nhà sản xuất này với hàng hóa nhà sản xuất khác.
Có rất nhiều những quan điểm khác nhau khi định nghĩa về thương hiệu như là: Theo hiệp hội marketing thị trường của Mỹ đã định nghĩa thương hiệu là: “Thương hiệu là một tổ hợp gồm tên gọi, danh từ, ký tự, ký hiệu hoặc thiết kế hoặc cái khác, mục đích của nó là nhận biết sản phẩm và nhân lực của người tiêu dùng hay nhóm người tiêu dùng nào đó, đồng thời khu biệt sản phẩm và nhân lục đối với các đối thủ cạnh tranh của nó”. Theo Philip Kotler – một chuyên gia marketing nổi tiếng trên thế giới thì: 9 “Thương hiệu có thể được hiểu như là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, dùng để xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Còn theo David Ogilvy – vua quảng cáo đã từng định nghĩa về thương hiệu “Thương hiệu là một biểu tượng phức tạp rối ren – nó là tất cả sự vô hình của sản phẩm như: thuộc tính, tên gọi, đóng gói, giá cả, lịch sử phát triển, phương thức quảng bả, đồng thời thương hiệu cũng đã được định nghĩa vì ấn tượng sử dụng và kinh nghiệm vốn có của người tiêu dùng” Trong khuôn khổ khoá luận này, thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, kí hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ kiểu thiết kế, hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hàng hoặc một nhóm bán hàng với hàng hóa dịch vụ của đối thủ cạnh tranh Thương hiệu là loại tài sản vô hình, có giá trị ban đầu bằng không. Giá trị của nó được hình thành dần do sự đầu tư vào chất lượng sản phẩm và các phương tiện quảng cáo.
Thương hiệu là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nhưng lại nằm ngoài phạm vi doanh nghiệp và tồn tại trong tâm trí người tiêu dùng. Thương hiệu được hình thành dần qua thời gian nhờ nhận thức của người tiêu dùng khi họ sử dụng sản phẩm của những nhãn hiệu được yêu thích, tiếp xúc với hệ thống của các nhà phân phối và qua quá trình tiếp nhận những thông tin về sản phẩm. Thương hiệu là tài sản có giá trị tiềm năng, không bị mất đi cùng với sự thua lỗ của các công ty. Quảng bá thương hiệu Quảng bá thương hiệu là hoạt động quan trọng trong các hoạt động quảng bá, truyền thông thương hiệu không chỉ trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường mà còn có ý nghĩa lâu dài trong suốt quá trình phát triển thương hiệu của doanh nghiệp.
Quảng bá mang lại hiệu quả rất lớn cho thương hiệu, nhằm đưa thương hiệu đến được với công chúng và để công chúng cảm nhận về thương hiệu và 10 giá trị thương hiệu trong tiêu dùng sản xuất. Tạo ra sự nhận thức về thương hiệu: Một thương hiệu mới thâm nhập thị trường rất cần có những chương trình quảng bá để khách hàng nhận biết về sự tồn tại của thương hiệu. Trước hết, nhằm tăng cường nhận thức của khách hàng mục tiêu hiện tại, tạo ra nhận thức về sự tồn tại của thương hiệu cho khách hàng mới hoặc tại thị trường mới, cuối cùng là nâng cao nhận thức về một thương hiệu mới trong một phân đoạn thị trường mới chưa được tiếp cận. Tạo ra sự hiểu biết về thương hiệu: Chương trình quảng bá được xem là một chương trình đưa kiến thức đến khách hàng mục tiêu, làm thay đổi ấn tượng của khách hàng và củng cố niềm tin về thương hiệu hoặc thu nhận những thông tin tiện ích cho việc quyết định mua của khách hàng.
Thuyết phục quyết định mua: Điều này thông qua các chương trình quảng bá nhằm kích thích các cảm xúc. Trên cơ sở niềm tin thương hiệu, khách hàng sẽ đưa ra quyết định mua hợp lý. Duy trì lòng trung thành của khách hàng: Có thể thông qua việc điều tra thị trường và sức mua để đánh giá lại mức độ trung thành của khách hàng đối với thương hiệu của mình. Ngoài ra những buổi họp mặt, giao lưu đối với khách hàng là điều quan trọng để nhà sản xuất tạo ấn tượng tốt và thể hiện sự quan tâm của mình đối với khách hàng.
Ngoài ra chi phí để tìm kiếm thị trường mới là cao hơn rất nhiều so với việc bỏ chi phí để làm tốt việc duy trì lòng trung thành của khách hàng cũ. Thiếu nhi Hiện nay theo các văn bản quốc tế và các chương trình của Liên Hợp quốc sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Theo đó, Liên Hợp Quốc quy định người thành niên là người đủ 18 tuổi và người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Như vậy có thể thấy thiếu nhi là những người dưới 18 tuổi.
Có sự quy định trên do thiếu nhi là những chủ thể còn non nớt về trí tuệ và thể chất. Đây là đối tượng cần được bảo vệ 11 và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ về mặt pháp lý, trước cũng như sau khi ra đời. Tùy thuộc vào mỗi quốc gia, lĩnh vực, ngành nghề mà quy định độ tuổi thiếu nhi khác nhau.