Khảo sát đặc điểm uyển ngữ tiếng Hán đối chiếu với tiếng Việt về cái chết và giới tính

Luận án tiến sĩ phân tích khảo sát đặc điểm của uyển ngữ tiếng hán đối chiếu với tiếng việt tương đương trên cứ liệu của hai, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Lý luận Ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2004

152
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.2. Mục đích của luận văn

0.3. Phương pháp nghiên cứu

0.4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

0.5. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ UYỂN NGỮ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI KHẢO SÁT

1.1. Sự xuất hiện của khái niệm uyển ngữ

1.1.1. Lịch sử kiêng kỵ và sự ra đời của khái niệm uyển ngữ

1.1.2. Khái niệm uyển ngữ

1.1.3. Một số phương thức cấu tạo uyển ngữ

1.2. Chức năng hay công dụng của uyển ngữ

1.2.1. Công dụng đổi mới lấy cái mới thế chỗ cái cũ

1.2.2. Công dụng kiêng kỵ

1.2.3. Công dụng biểu thị gián tiếp

1.2.4. Công dụng thể hiện lịch sử

1.2.5. Công dụng "tự bảo vệ mình"

1.3. Cách phân loại uyển ngữ

1.3.1. Phân loại theo ngữ liệu

1.3.2. Phân loại theo quan điểm ngữ dụng học

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA UYỂN NGỮ VỀ "CÁI CHẾT" ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG TIẾNG HÁN (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI SỰ THỂ HIỆN TRONG TIẾNG VIỆT)

2.1. Đặc điểm của uyển ngữ về "cái chết" trong tiếng Hán

2.1.1. Xét trên bình diện ngôn ngữ học

2.1.2. Xét trên bình diện văn hóa, xã hội

2.2. Một vài đặc điểm của uyển ngữ về "cái chết" trong tiếng Việt

2.2.1. Xét trên bình diện ngôn ngữ học

2.2.2. Xét trên bình diện văn hóa, xã hội

2.3. Những nhận xét rút ra

2.3.1. Xét trên bình diện ngôn ngữ học

2.3.2. Xét trên bình diện văn hóa, xã hội

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA UYỂN NGỮ VỀ "GIỚI TÍNH" ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG TIẾNG HÁN (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI SỰ THỂ HIỆN TRONG TIẾNG VIỆT)

3.1. Đặc điểm của uyển ngữ chỉ "quan hệ tính giao" được thể hiện trong tiếng Hán

3.1.1. Xét trên bình diện ngôn ngữ học

3.1.2. Xét trên bình diện văn hóa, xã hội

3.2. Đặc điểm của uyển ngữ chỉ các bộ phận cơ thể có liên quan đến giới tính được thể hiện trong tiếng Hán

3.2.1. Xét trên bình diện ngôn ngữ học

3.2.2. Xét trên bình diện văn hóa, xã hội

3.3. Đặc điểm của uyển ngữ chỉ "hiện tượng kinh nguyệt" của phụ nữ được thể hiện trong tiếng Hán

3.3.1. Xét trên bình diện ngôn ngữ học

3.3.2. Xét trên bình diện văn hóa, xã hội

3.4. Trong tiếng Việt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt

Khảo sát uyển ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt là một lĩnh vực nghiên cứu thú vị, giúp hiểu rõ hơn về cách mà các nền văn hóa khác nhau thể hiện những khái niệm nhạy cảm như cái chết và giới tính. Uyển ngữ không chỉ là một phần của ngôn ngữ mà còn phản ánh những giá trị văn hóa, tâm lý và xã hội của mỗi dân tộc. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ mà còn mở ra những hiểu biết sâu sắc về cách mà con người đối diện với những vấn đề lớn trong cuộc sống.

1.1. Khái niệm uyển ngữ và vai trò của nó trong ngôn ngữ

Uyển ngữ là những cách diễn đạt gián tiếp, thường được sử dụng để tránh nói thẳng về những vấn đề nhạy cảm. Trong tiếng Hán và tiếng Việt, uyển ngữ có vai trò quan trọng trong việc thể hiện sự tôn trọng và nhạy cảm với các chủ đề như cái chết và giới tính. Việc sử dụng uyển ngữ giúp người nói tránh được những tình huống khó xử và thể hiện sự tinh tế trong giao tiếp.

1.2. Lịch sử và sự phát triển của uyển ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt

Uyển ngữ đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử ngôn ngữ của cả hai nền văn hóa. Trong tiếng Hán, uyển ngữ thường liên quan đến các tín ngưỡng và phong tục tập quán, trong khi tiếng Việt cũng có những cách diễn đạt tương tự, phản ánh những giá trị văn hóa và xã hội của người Việt. Sự phát triển của uyển ngữ trong hai ngôn ngữ này cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách mà các nền văn hóa tiếp cận các vấn đề nhạy cảm.

II. Đặc điểm uyển ngữ về cái chết trong tiếng Hán và tiếng Việt

Cái chết là một chủ đề nhạy cảm trong cả tiếng Hán và tiếng Việt, và cách mà mỗi ngôn ngữ thể hiện điều này thông qua uyển ngữ rất đáng chú ý. Trong tiếng Hán, có nhiều uyển ngữ được sử dụng để diễn đạt cái chết một cách nhẹ nhàng hơn, trong khi tiếng Việt cũng có những cách diễn đạt tương tự. Việc khảo sát này giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến cái chết.

2.1. Uyển ngữ về cái chết trong tiếng Hán

Trong tiếng Hán, uyển ngữ về cái chết thường được sử dụng để thể hiện sự tôn trọng đối với người đã khuất. Các cụm từ như 'ra đi' hay 'ngủ yên' được ưa chuộng, giúp giảm bớt nỗi đau cho người sống. Những cách diễn đạt này không chỉ mang tính chất ngôn ngữ mà còn phản ánh những giá trị văn hóa sâu sắc của người Hán.

2.2. Uyển ngữ về cái chết trong tiếng Việt

Tiếng Việt cũng có nhiều uyển ngữ để diễn đạt cái chết, như 'về với tổ tiên' hay 'ra đi'. Những cách diễn đạt này không chỉ giúp người nói tránh được sự thô lỗ mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với người đã mất. Việc sử dụng uyển ngữ trong tiếng Việt cho thấy sự nhạy cảm và tinh tế trong giao tiếp về những vấn đề khó khăn này.

III. Đặc điểm uyển ngữ về giới tính trong tiếng Hán và tiếng Việt

Giới tính là một chủ đề quan trọng trong cả tiếng Hán và tiếng Việt, và uyển ngữ liên quan đến giới tính thường phản ánh những quan niệm văn hóa và xã hội. Việc khảo sát uyển ngữ về giới tính giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ và cách mà mỗi nền văn hóa tiếp cận vấn đề này.

3.1. Uyển ngữ về giới tính trong tiếng Hán

Trong tiếng Hán, uyển ngữ về giới tính thường được sử dụng để thể hiện sự tôn trọng và nhạy cảm với các vấn đề liên quan đến giới tính. Các cụm từ như 'người phụ nữ' hay 'người đàn ông' thường được thay thế bằng những cách diễn đạt nhẹ nhàng hơn, giúp giảm bớt sự căng thẳng trong giao tiếp.

3.2. Uyển ngữ về giới tính trong tiếng Việt

Tiếng Việt cũng có những uyển ngữ liên quan đến giới tính, như 'phái đẹp' hay 'phái mạnh'. Những cách diễn đạt này không chỉ giúp thể hiện sự tôn trọng mà còn phản ánh những giá trị văn hóa của người Việt. Việc sử dụng uyển ngữ trong tiếng Việt cho thấy sự nhạy cảm và tinh tế trong giao tiếp về giới tính.

IV. Phương pháp nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt

Phương pháp nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt bao gồm việc phân tích ngữ liệu từ các tác phẩm văn học, tài liệu nghiên cứu và các cuộc khảo sát thực địa. Việc áp dụng các phương pháp này giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến uyển ngữ.

4.1. Phân tích ngữ liệu từ văn học

Phân tích ngữ liệu từ các tác phẩm văn học là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu uyển ngữ. Các tác phẩm văn học thường chứa đựng nhiều uyển ngữ phong phú, phản ánh những giá trị văn hóa và xã hội của mỗi dân tộc.

4.2. Khảo sát thực địa và phỏng vấn

Khảo sát thực địa và phỏng vấn là phương pháp hữu ích để thu thập thông tin về cách sử dụng uyển ngữ trong giao tiếp hàng ngày. Phương pháp này giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến uyển ngữ trong đời sống thực tế.

V. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu uyển ngữ

Nghiên cứu uyển ngữ có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy ngôn ngữ, dịch thuật và giao tiếp văn hóa. Việc hiểu rõ về uyển ngữ giúp người học ngôn ngữ tránh được những sai sót do sự khác biệt văn hóa và xã hội.

5.1. Ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ

Nghiên cứu uyển ngữ có thể được áp dụng trong giảng dạy ngôn ngữ, giúp người học hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Việc này giúp nâng cao khả năng giao tiếp và sự nhạy cảm văn hóa của người học.

5.2. Ứng dụng trong dịch thuật

Trong dịch thuật, việc hiểu rõ về uyển ngữ giúp người dịch tránh được những sai sót do sự khác biệt văn hóa. Việc sử dụng uyển ngữ phù hợp trong dịch thuật không chỉ giúp truyền đạt chính xác ý nghĩa mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với văn hóa của ngôn ngữ đích.

VI. Kết luận và tương lai của nghiên cứu uyển ngữ

Nghiên cứu uyển ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc hiểu rõ về uyển ngữ không chỉ giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa của mỗi dân tộc.

6.1. Tương lai của nghiên cứu uyển ngữ

Tương lai của nghiên cứu uyển ngữ hứa hẹn sẽ có nhiều phát triển mới, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự giao thoa văn hóa. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa của mỗi dân tộc.

6.2. Khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc mở rộng phạm vi khảo sát uyển ngữ trong các ngôn ngữ khác nhau, cũng như nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của văn hóa đến việc sử dụng uyển ngữ. Việc này sẽ giúp làm rõ hơn những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ khảo sát đặc điểm của uyển ngữ tiếng hán đối chiếu với tiếng việt tương đương trên cứ liệu của hai nhóm uyển ngữ chỉ cái chếtvà giới tính

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 C ơ SỞ L Ý L U Ậ N : M Ộ T S Ố V Â N Đ Ể LÍ T H U Y Ế T V Ể U Y Ể N n g ữ CÓ L IÊ N Q U A N Đ ẾN Đ Ể T À I K H Ả O SÁ T I. S ựX U Ấ T HIỆN CỦA KHÁI NIỆM UYEN n g ữ 1. Lịch sử kiêng kỵ và sự ra đời của khái niệm uyển ngữ Kiêng kỵ là một bộ phận hợp Ihành phong tục tập quán của các bộ tộc, dân tộc trên thế giới. Khi thế giới quan khoa học chưa phát triển, người ta thường tin rằng đổ tránh những rủi ro tai họa, đạt được những may mắn hạnh phúc trong cuộc sống con người phải luân theo những cách ứng xử nào đó.

Những cách thức ứng xử này rất đa dạng nhưng có thể khái quát thành điều cần làm và điều tránh làm: cần phải làm điều gì và cần phải tránh không làm điều gì. Loại ứng xử thứ nhất "cần làm diều gì" là nguycn nhân hình thành các nghi lỗ cầu cúng, tín ngưỡng ỉôn giáo. Loại ứng xử ihứ hai "cần phải tránh điều gì" là nguyên nhân hình thành các lập tục kiêng kỵ. Cả hai đều có nguồn gốc lâu đời Irong lịch sử, do đó cũng thường phản ánh những nét đặc trưng nào đó trong quá trình tiến hoá của cộng đồng.

Chính vì vây các nhà nghiên cứu dân tộc học, nghiên cứu văn hoá dân gian, nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học. đều coi phong tục tập quán là một đối tượng nghiên cứu quan trọng. Qua đó có thể tìm ra lời giải đáp cho những vấn đề mà xã hội hiện dại đang quan tâm. Chúng ta có thể thấy rằng, đằng sau mỗi việc kiêng kỵ đều có những nỗi lo âu, sợ hãi xảy ra rủi ro tai hoạ mà con người thời cổ tin rằng có thể qua khỏi được bằng cách kiêng kỵ.

Chẳng hạn đêm ba mươi Tết kiêng đi ra đường sợ gặp quỷ đói vào làng tìm kiếm thức ăn, kiêng quél nhà trong ngày mùng một TỐI vì sợ quanh năm động thổ v. Nhưng không phải tất cả những gì lo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 sự đều là đối tượng của khái niệm kiêng kỵ. Ví dụ tục kiêng di biển vào mùa biển động vì lo dông bão, tục nuôi tằm kiêng gió lây, v. thì ý nghĩa không hoàn toàn giống với các thứ kiêng kỵ khác như kiêng ăn chân gà vì sợ viết run tay hoặc di buôn bán kiêng ăn cơm khê vì sợ không may.

Ở hai tập lục kiêng kỵ trcn chúng ta nhận Ihấy tính lôgic giữa nguyên nhân và hành động kiêng kỵ: giữa mùa hò mà có gió tây là thời tiếl Ihay đổi dột ngột, tằm dễ bị chết. Còn hai tục kiêng sau thì không thể giải thích nguyên do. Năm 1913 Phan Kế Bính đã liệt kê 46 điều kiêng kỵ của người Việt Nam như: kiêng ngày xấu, ngày mùng một đàu năm, đầu tháng, v.Thực ra trong sách của ông rải rác ở nhiều chương khác chúng ta còn có thể nhặt thêm được vài chục điều kiêng kỵ khác nữa như: không bế con trao cho người khác qua cửa, v. Nói đến kiêng kỵ là phải nhắc đến sự ra đời của tabu.

Vào thế kỷ 18, nhà hàng hải người Anh James Cook đến quần đảo Tonga Nam Thái Bình Dương, khi tiếp xúc với cư dân ở đây ông phát hiện thấy họ có rất nhiều hiện tượng xã hội kỳ lạ. Chẳng hạn, một số đồ vật chỉ đặc biệt giành cho những người thuộc tầng lớp trên (thần, lăng lữ, vua, tù trưởng,.) sử dụng mà không cho phép dân Ihường sử dụng, hay chỉ cho phép sử dụng vào mục đích đặc biột mà không cho phép sử dụng vào mục-đích bình thường hoặc không cho phép một nhóm người (như phụ nữ) sử dụng. Cư dân ở đây gọi kiểu cấm kỵ này là "tabu". Từ "tabu" sau này đã thâm nhập vào các lĩnh vực của các bộ môn như Nhân loai học, Nhân chủng học, Xã hội học, làm thành một loại danh từ chuyên dụng chỉ những hiện lượng xã hội đặc biệt (kiêng kỵ) và được sử dụng rộng rãi.

Hiện tượng "tabu" bao gồm hai mặt: một mặt lci những vât linh Ihiêng được tôn kính, không được phép sử dụng mộl cách tuỳ tiện; một mặl là nlìững vật thấp hèn bị coi khinh không được phốp liếp xúc một cách tuỳ tiện. Vì thế, cái dược gọi là ngôn ngữ "tabu" trên thực chất cũng bao gồm hai mặt: Mộl là ngôn ngữ sùng bái linh vật (ngôn ngữ bái vật giáo) và mặt khác là ngôn ngữ cấm dù n g hoặc d ù n g thay thế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ngôn ngữ là công cụ giao liếp quan trọng của xã hội loài người, nó xuất hiện và phát triển cùng với lao dộng. Nhưng trong hoàn cảnh khi con người chưa hiểu rõ ràng lắm về các hiện lượng tự nhiên và sức mạnh của nó thì ngôn ngữ thường được người ta cho rằng có mối liên hệ với một số sức mạnh của tự nhiên, có thể mang hoạ-phúc đến cho con người.

Như vậy, ngôn ngữ dã được trao cho một thứ mà bản thân nó không có: cảm giác siêu phàm và sức mạnh siêu phàm. Các thành viên của xã hội cho rằng, bản thân ngôn ngữ có thể mang lại hạnh plnìc hay tai hoạ cho con người, ngôn ngữ là nguồn gốc của hạnh phúc và lai hoạ. Ai đắc lội với nó người đó sẽ bị trừng phạt, ngược lại, ai "dược lòng" nó thì sẽ được che chở bảo vệ. Đây chính là lí do dẫn tới việc xuất hiện ngôn ngữ kicng kỵ và ngôn ngữ sừng bái linh vật.

Nhưng, hay gặp nhất là hiện tượng kiêng huý. Liên quan đến nội dung này, tiếng Việt có cách biểu thị như sau: Từ "kiêng" trong tiếng Việt là một từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, nhưng là lớp từ tiếng Hán đã du nhập vào nước ta lâu đời, từ thời kỳ cổ Hán Vict và đã chuyổn hoá thành từ Việt. Từ nguyên của từ "kiêng" trong tiếng Viọt bắt nguồn ở từ "kinh" trong tiếng Hán. "Kinh" nglũa gốc là sự sợ hãi của con ngựa khi bị giật mình chồm lên.

Nhưng sang tiếng Việt ta thấy lừ "kiêng " đã chuyển nghĩa: do sợ hãi mà tránh đi, như Irong tục ngữ "có kiêng có lành", hoặc nói" kiêng rượu, kiêng thịt." Từ "kiêng" trong tiếng Việt hầu như chỉ dùng để chỉ những kiêng Iránh cụ thể ( như " kiêng rưựu kiêng thịt."), còn khi muốn nói khái quái để chỉ chung mộl tập tục, một khái niệm kiêng Iránh nói chung thì cần phải dùng đến từ "kiêng kỵ". Đó là một từ ghép cấu tạo Iheo kiểu : 1 từ Việt + 1 từ Hán. Đúng ra là hai từ Hán: 1 cổ Mán Việt + 1 Hán Việt. Từ "huý" có ba nghĩa: 1) tránh, kiêng; 2) giấu; 3) ten người.

Vì vậy, kiêng huý tức là kiêng lên người, có nghĩa là tránh nói, viết tên người. Thông Ihường người la phân biệt kicng huý làm hai loại: Tư huý (bao gồm gia huý, tộc huý, hương huý) và công huý (cũng gọi là quốc huý). Việc kiêng gia huý, tộc huý tuỳ theo quy định của từng gia đình, gia tộc. Ngoài việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thờ cúng lổ liên ở các hương ấp như ở Trung Quốc, làng xã ở Việt Nam còn có tục thờ Thành hoàng với ý nghĩa iưởng nhớ những người có công Irong quá trình hình thành và phát triển hương ấp: nhà phú hộ, quân nhân, văn nhân, Ihợ thủ công, v.

Nói chung là những người đã có những kỳ lích nào đó khiến cho hương ấp của họ trở Ihành nổi tiếng. Cùng với những quy định khác như kiêng màu sắc, mùi vị, nước, lửa. thần huý là mộl khoản mục kiêng huý của cộng đồng hương ấp gọi là hương huý. Ngoài ten huý của thần Thành hoàng, lnrưng huý còn bao gồm tôn huý của các vị thần khác được thờ Irong hương ấp nếu cộng dồng hương ấp thừa nhân đó là vị thần chung của họ.

Quốc huý bao gồm: ngự danh hoặc ngự huý là tôn huý của vua và hoàng hậu đương triều. Miếu huý là lên huý của các đời vua trước, lức là tên huý của ông bà cố của vua, tuỳ theo quy định cụ thể. Khác với các loại tư huý có tính chất quy ước, tục lệ, thuộc phạm trù đạo đức cộng đồng, quốc huỷ do triều đình ban bố bằng các chỉ dụ luật lệnh có lính chất bắt buộc Ihuộc phạm trù pháp luâl, có hiệu lực thi hành trong toàn quốc. "Iuy vậy, xél về loại hình kiêng kỵ thì các loại kiêng liuý nói chung đều cùng một loại kiêng kỵ là kiông gọi tên riêng, kể cả tên người và tên các thần thánh vì lên thần Ihánh chủ yếu là tên người và tên do con người đặt ra.

Tập tục kiêng lên riêng phản ánh một phương diện quan trọng trong tâm lý giao tiếp xã hội của những dân tộc trong khu vực có kiêng huý như Trung Quốc, Việt Nam và một số cộng đồng khác. Nhưng quan niệm lau đời của người Trung Quốc người Việt Nam có xu hướng thiêng liêng hoá tên gọi, coi lên ricng có quan hệ trực tiếp với số phận của con người và họ cố gắng khống chế tên gọi trong phạm vi có thể kiểm soát được. Tín ngưỡng thờ linh hồn người chết cũng là một nguyên nhân hình thành tục lệ kiêng huý. Người ta quan niệm rằng linh hồn của ông bà cha mẹ đã mất cũng cần phải có tên ricng như người đang sống, do đó viết tên khi còn sống vào bài vị để thờ.

Trong mỗi gia đình, gia tộc hình thành một nhóm gia huý, tộc huý mà các thành viên trong gia đình, gia tộc cần biết để kiêng tránh. Một tác dụng có thể thấy của việc này là để tránh đặt tên con cháu Irùng với tên huý của lổ tiên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hơn nữa việc thường xuyên lưu ý tới lệ kiêng huý khiến cho con người cảm thấy những người đã mất như luôn luôn hiện diện để phù hộ cho cuộc sống c ủ a họ. Nói tóm lại việc kiêng huý lừ phạm vi gia đình mử rộng đến xã hội, lừ phạm trù đạo đức chuyển sang phạm trù pháp luật ở các Ihời kỳ khác nhau đều có những thể hiện đa dạng phức tạp.

Ví dụ, ử Trung Quốc, tập tục kiêng huý có lừ dời Chu (106Ố - 771 trước công nguyên), lưu hành ở Lưỡng Hán, thịnh hành ở dời Tuỳ Đường, sau đó ngày càng trở nên nghiêm ngặt, đến dời Thanh thậm chí vì phạm huý mà mất đầu, lai hoạ đến cả cửu tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ