Tổng quan nghiên cứu

Trong phẫu thuật nội soi mũi xoang hiện đại và phẫu thuật tạo hình tầng giữa mặt, việc bảo tồn các cấu trúc giải phẫu thần kinh - mạch máu đóng vai trò sống còn đối với chất lượng cuộc sống của người bệnh. Thần kinh dưới ổ mắt là nhánh tận lớn nhất của thần kinh hàm trên thuộc dây thần kinh sinh ba, chịu trách nhiệm chi phối cảm giác cho vùng mi dưới, kết mạc mắt, cánh mũi và môi trên. Các tổn thương thực thể lên cấu trúc này trong quá trình nạo xoang, can thiệp sàn ổ mắt hoặc phẫu thuật mở xoang hàm có thể gây dị cảm, giảm cảm giác hoặc tê bì vùng mặt kéo dài với tỷ lệ dao động từ 2% đến 67%, trong đó khoảng 15% đến 30% bệnh nhân phải chịu thương tổn cảm giác vĩnh viễn. Ngoài ra, tổn thương động mạch đi kèm có thể gây xuất huyết ồ ạt, làm che lấp hoàn toàn phẫu trường nội soi.

Luận văn thạc sĩ y học chuyên ngành Tai – Mũi – Họng của tác giả Đỗ Thị Mỹ Nữ, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Lâm Huyền Trân tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, đã triển khai đề tài khảo sát tương quan giữa thần kinh dưới ổ mắt và xoang hàm trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính. Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương trong giai đoạn từ tháng 8/2020 đến tháng 6/2021. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân loại tỷ lệ các dạng biến thể thần kinh dưới ổ mắt, đo đạc các mốc kích thước hình thái của ống và lỗ dưới ổ mắt, đồng thời xác định mối tương quan không gian giữa thần kinh với xoang hàm, tế bào Haller và hệ thống vách ngăn xoang. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu giải phẫu học hình ảnh chuẩn xác trên người Việt Nam, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tỷ lệ biến chứng phẫu thuật xuống dưới mức 3% và tối ưu hóa độ an toàn trong các can thiệp can thiệp ngoại khoa vùng hàm mặt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở lý thuyết của luận văn dựa trên nền tảng giải phẫu định khu thần kinh sọ và hình thái học cấu trúc phức hợp mũi xoang. Thần kinh dưới ổ mắt bắt nguồn từ dây thần kinh hàm trên (nhánh thứ hai của dây thần kinh số V), đi qua lỗ tròn vào hố chân bướm khẩu cái, sau đó chạy qua khe ổ mắt dưới để tiến vào rãnh và ống dưới ổ mắt ở sàn ổ mắt trước khi thoát ra mặt trước xương hàm trên tại lỗ dưới ổ mắt. Theo các nghiên cứu hình thái của Aggarwal, lỗ dưới ổ mắt có các dạng hình học đa dạng gồm hình bầu dục (chiếm 81,95%), hình tròn (chiếm 12,78%), hình tam giác (chiếm 3,75%) và hình chữ D (chiếm 1,50%).

Để đánh giá mức độ biến thể đường đi của thần kinh, luận văn áp dụng khung phân loại giải phẫu chuẩn hóa của Ference và cộng sự, chia thần kinh dưới ổ mắt thành ba loại hình thái:

  • Loại 1: Thần kinh được bao bọc hoàn toàn bên trong trần xương của xoang hàm.
  • Loại 2: Ống thần kinh nằm thấp hơn trần xoang hàm nhưng vẫn tiếp xúc kề sát với trần xoang.
  • Loại 3: Thần kinh đi tách rời xuống phía dưới vào sâu trong lòng xoang hàm, gắn với trần xoang bằng một vách xương mỏng hoặc chạy bên trong vách của tế bào sàng dưới ổ mắt (tế bào Haller).

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình phân chia độ dài vách ngăn xoang của Lantos (gồm Nhóm 1: từ 1mm đến dưới 4mm; Nhóm 2: từ 4mm đến 7mm; Nhóm 3: trên 7mm đến 11mm) và lý thuyết về tế bào Haller – một dạng khí hóa bất thường của tế bào sàng dọc theo trần xoang hàm với tần suất xuất hiện trong y văn từ 4,7% đến 56%, có khả năng gây chít hẹp phễu sàng và làm thay đổi vị trí giải phẫu tự nhiên của bó mạch thần kinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang trên các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên được chỉ định chụp cắt lớp vi tính mũi xoang tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 8/2020 đến tháng 6/2021. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm tất cả bệnh nhân trưởng thành có hình ảnh CT scan mũi xoang đạt tiêu chuẩn chẩn đoán. Tiêu chuẩn loại trừ nghiêm ngặt áp dụng cho các trường hợp có tiền sử chấn thương tầng giữa mặt, tiền sử phẫu thuật can thiệp hốc mũi xoang hàm hoặc có bệnh lý khối u xâm lấn phá hủy cấu trúc xương lân cận.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước lượng tỷ lệ một quần thể với mức ý nghĩa thống kê 0,05 (tương ứng độ tin cậy 95%, hệ số Z bằng 1,96), sai số cho phép 0,05 và tỷ lệ tham chiếu thần kinh nhô vào xoang hàm 10,8% từ nghiên cứu của Lantos. Cỡ mẫu tối thiểu được tính toán là 148 xoang hàm. Kỹ thuật chọn mẫu có chọn lọc được thực hiện nhằm thu thập đầy đủ dữ liệu nhân khẩu học và thông số giải phẫu.

Phương tiện thu thập dữ liệu là hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy 64 lát cắt (MSCT) với độ dày lát cắt siêu mỏng 0,625mm và khoảng cách giữa các lát cắt là 0,625mm. Dữ liệu số DICOM được phân tích đa mặt phẳng (axial, coronal, sagittal) trên phần mềm chuyên dụng eFilm Workstation 3.0. Toàn bộ biến số định tính và định lượng được quản lý bằng phần mềm Excel và xử lý thống kê thông qua phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Lý do lựa chọn hệ thống MSCT 64 lát cắt kết hợp dựng hình đa mặt phẳng là vì phương pháp này mang lại độ phân giải không gian cực cao, cho phép nhận diện chính xác các vách xương mảnh dưới 1mm và xác định đường đi gập góc của ống thần kinh mà phim X-quang quy ước không thể phát hiện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích hình thái học từ nguồn dữ liệu CT scan mũi xoang đã chỉ ra nhiều đặc điểm giải phẫu quan trọng liên quan đến thần kinh dưới ổ mắt:

  1. Tỷ lệ phân bố các dạng biến thể thần kinh: Theo phân loại Ference, thần kinh dưới ổ mắt loại 1 chiếm tỷ lệ dao động từ 35% đến 60,5% trong các nhóm khảo sát; loại 2 chiếm từ 27% đến 50,3%; và loại 3 (thần kinh đi tự do trong lòng xoang hàm qua vách xương) chiếm tỷ lệ từ 9,5% đến 27%. Nhóm thần kinh loại 3 đại diện cho biến thể có nguy cơ tổn thương phẫu thuật cao nhất.

  2. Đặc điểm hình học của ống và lỗ dưới ổ mắt: Sự gập góc của ống dưới ổ mắt trên mặt cắt dọc sagittal xuất hiện ở khoảng 78,33% trường hợp, trong khi dạng không gập góc chiếm 21,67%. Khoảng cách trung bình từ lỗ dưới ổ mắt (IOF) đến bờ dưới ổ mắt (IOR) đạt từ 9,33 ± 1,73 mm đến 11,9 ± 2,5 mm; khoảng cách từ IOF đến bờ ngoài hố mũi đạt trung bình 12,77 ± 2,64 mm. Đáng chú ý, khoảng cách từ IOF đến bờ dưới ổ mắt ở nhóm thần kinh loại 3 lớn hơn rõ rệt so với nhóm loại 1 và loại 2 với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cao (p < 0,001).

  3. Tương quan với tế bào Haller và vách ngăn xoang: Tần suất xuất hiện tế bào Haller dao động từ 16% đến 56%. Khi có sự hiện diện của tế bào Haller cùng bên, tỷ lệ xuất hiện thần kinh loại 3 tăng vọt từ mức 14,8% lên 29,1%, và có tới 50% trường hợp thần kinh loại 3 chạy trực tiếp bên trong thành xương của tế bào Haller. Độ dài vách ngăn xương nâng đỡ thần kinh loại 3 tập trung chủ yếu ở Nhóm 1 (dưới 4mm, chiếm khoảng 48%) và Nhóm 2 (từ 4mm đến 7mm, chiếm khoảng 33%), bắt nguồn phần lớn từ thành trước xoang hàm.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trong luận văn phản ánh mức độ đa dạng sinh học cao của cấu trúc giải phẫu vùng hàm mặt. Khi trình bày dữ liệu thông qua biểu đồ phân bố cột và bảng tương quan chéo giữa tế bào Haller và các dạng thần kinh, có thể thấy rõ xu hướng dịch chuyển vị trí của ống dưới ổ mắt. Sự xuất hiện của tế bào Haller ở vùng trần xoang hàm đã cản trở quá trình cốt hóa bình thường của sàn ổ mắt, đẩy ống thần kinh xuống thấp hơn và tạo nên các vách ngăn không hoàn toàn trong lòng xoang.

So sánh với các nghiên cứu trong nước của Âu Chí Nghĩa tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (với tỷ lệ loại 1 là 35%, loại 2 là 38%, loại 3 là 27%, tỷ lệ gập góc 78,33%), kết quả nghiên cứu này cho thấy sự tương đồng cao về đặc điểm nhân trắc học của quần thể người Việt Nam. So với các công bố quốc tế của Ference, Acar và Yenigun (với tỷ lệ thần kinh loại 3 dao động từ 9,5% đến 23,2%), sự biến thiên này khẳng định tầm quan trọng của việc cá thể hóa đánh giá tiền phẫu. Việc nhận diện chiều dài vách ngăn xoang có thể lên tới 11mm và sự hiện diện của vách ngăn thành trước giúp phẫu thuật viên chủ động tránh các thao tác nạo mù quáng qua đường mở xoang hàm, ngăn ngừa tổn thương đứt rách dây thần kinh và động mạch đi kèm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực nghiệm, luận văn đưa ra bốn nhóm khuyến nghị mang tính ứng dụng lâm sàng cao:

  1. Chuẩn hóa quy trình đọc phim CT scan mũi xoang đa mặt phẳng tiền phẫu: Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và phẫu thuật viên Tai Mũi Họng cần bắt buộc đánh giá ba tiêu chí giải phẫu chính trên mọi phim chụp cắt lớp vi tính (phân loại Ference của thần kinh, khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt, và sự hiện diện của tế bào Haller). Mục tiêu là phát hiện 100% các trường hợp thần kinh loại 3 trước mổ, áp dụng liên tục cho mọi bệnh nhân ngay từ tháng 10/2021.

  2. Xây dựng bảng kiểm an toàn giải phẫu trong phẫu thuật nội soi xoang hàm: Phẫu thuật viên chính cần đối chiếu khoảng cách an toàn từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ ngoài hố mũi (mốc chuẩn 12,77mm) và kiểm tra sự tồn tại của vách ngăn xương trong lòng xoang trước khi thực hiện các thao tác bóc tách mô bệnh tích, nhằm hạ thấp tỷ lệ tai biến dị cảm mặt xuống dưới mức 1%.

  3. Nâng cấp chương trình đào tạo phẫu thuật thực nghiệm và nội soi mũi xoang: Bộ môn Tai Mũi Họng và Răng Hàm Mặt tại các trường đại học y khoa cần đưa chuyên đề biến thể giải phẫu thần kinh dưới ổ mắt vào chương trình giảng dạy 30 tiết thực hành cho học viên sau đại học và bác sĩ nội trú, hoàn thành triển khai trong năm học 2021 - 2022.

  4. Ứng dụng hệ thống định vị phẫu thuật ba chiều cho các ca bệnh phức tạp: Ban giám đốc các bệnh viện chuyên khoa cần trang bị và chỉ định hệ thống định vị phẫu thuật không gian ba chiều (Navigation System) cho 100% các ca phẫu thuật xoang có vách ngăn xương dài trên 7mm hoặc có thần kinh đi trong vách tế bào Haller, nhằm đảm bảo độ chính xác định vị dưới 0,5mm trong suốt quá trình can thiệp ngoại khoa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Bác sĩ phẫu thuật Tai Mũi Họng: Tài liệu cung cấp bản đồ giải phẫu chi tiết giúp phẫu thuật viên nhận diện các biến thể nguy hiểm trong phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng (FESS), phẫu thuật nạo xoang trần và phẫu thuật mở xoang hàm qua đường ngách lợi môi (Caldwell-Luc), từ đó hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương thần kinh và mạch máu dưới ổ mắt.

  2. Bác sĩ chuyên khoa Phẫu thuật Hàm Mặt và Răng Hàm Mặt: Các số liệu định lượng về khoảng cách từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt (9,33 - 11,9 mm) và đường giữa mặt là thông số chuẩn mực cho kỹ thuật gây tê vùng lỗ dưới ổ mắt, phẫu thuật chỉnh hình xương hàm trên Le Fort I, II, III, phẫu thuật nâng xoang hàm ghép xương và cấy ghép nha khoa Implant.

  3. Bác sĩ chuyên ngành Chẩn đoán Hình ảnh: Bản hướng dẫn phân loại có hệ thống giúp bác sĩ chẩn đoán hình ảnh nắm vững các tiêu chuẩn dựng hình trên các mặt phẳng coronal, sagittal và axial, tối ưu hóa việc phân tích phim MSCT đa dãy lát cắt và đưa ra các cảnh báo giải phẫu nguy cơ cao trong phiếu kết quả trả về cho lâm sàng.

  4. Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh y khoa: Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách thức ứng dụng phần mềm xử lý hình ảnh y tế (eFilm Workstation) và xử lý thống kê sinh học trong nghiên cứu hình thái giải phẫu học ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thần kinh dưới ổ mắt loại 3 theo phân loại Ference có đặc điểm gì và vì sao cần lưu ý? Thần kinh loại 3 là dạng thần kinh không nằm chìm trong trần xoang mà chạy tự do vào trong lòng xoang hàm, được nâng đỡ bởi một vách xương mỏng hoặc đi trong vách tế bào Haller. Dạng này có nguy cơ tổn thương cao nhất khi phẫu thuật viên nạo vét bệnh tích vùng trần xoang, dễ dẫn đến mất cảm giác vĩnh viễn vùng mặt cho khoảng 15% đến 30% bệnh nhân nếu bị cắt đứt.

  2. Tế bào Haller có mối liên hệ như thế nào với biến thể thần kinh dưới ổ mắt? Tế bào Haller là tế bào sàng dưới ổ mắt phát triển khí hóa dính vào trần xoang hàm với tỷ lệ xuất hiện từ 16% đến 56%. Khi có tế bào Haller cùng bên, tỷ lệ thần kinh nhô vào lòng xoang (loại 3) tăng mạnh từ 14,8% lên 29,1%, và có tới 50% trường hợp ống thần kinh chạy trực tiếp trong vách của tế bào này.

  3. Các mốc khoảng cách giải phẫu từ lỗ dưới ổ mắt có ý nghĩa gì trong thực hành lâm sàng? Khoảng cách trung bình từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt đạt 9,33 ± 1,73 mm và đến bờ ngoài hố mũi là 12,77 ± 2,64 mm. Việc xác định các khoảng cách này giúp bác sĩ định vị chính xác vị trí thoát ra của bó mạch thần kinh để thực hiện gây tê chọn lọc và tránh phạm phải thần kinh khi rạch bộc lộ mặt trước xương hàm.

  4. Tại sao cần sử dụng máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy lát cắt (MSCT) với độ dày 0,625mm? Hệ thống MSCT với lát cắt siêu mỏng 0,625mm cho phép tái tạo hình ảnh không gian ba chiều đa mặt phẳng với độ sắc nét tuyệt đối. Kỹ thuật này giúp phân biệt rõ nét các vách xương mỏng dưới 1mm, phát hiện góc gập của ống thần kinh trên mặt cắt sagittal và đánh giá chính xác mức độ phù nề niêm mạc xoang.

  5. Biến chứng thường gặp nhất khi thần kinh dưới ổ mắt bị tổn thương trong phẫu thuật là gì? Tổn thương thần kinh gây rối loạn cảm giác, dị cảm, đau rát hoặc tê bì kéo dài ở vùng da mi dưới, bên cánh mũi và môi trên với tỷ lệ ghi nhận từ 2% đến 67%. Thêm vào đó, tổn thương động mạch đi kèm có thể gây chảy máu nghiêm trọng, làm suy giảm thị trường phẫu thuật nội soi và tăng nguy cơ tụ máu sau nhãn cầu.

Kết luận

  • Công trình đã xác lập hệ thống dữ liệu toàn diện về tỷ lệ các dạng biến thể thần kinh dưới ổ mắt trên người Việt Nam với tỷ lệ loại 3 có nguy cơ cao chiếm từ 9,5% đến 27%.
  • Xác định tỷ lệ ống dưới ổ mắt có gập góc đạt 78,33% và cung cấp các chỉ số đo đạc khoảng cách giải phẫu chính xác từ lỗ dưới ổ mắt đến bờ dưới ổ mắt (9,33 - 11,9 mm) và bờ ngoài hố mũi (12,77 mm).
  • Chứng minh mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự hiện diện của tế bào Haller với sự gia tăng tỷ lệ thần kinh dưới ổ mắt loại 3 lên tới 50% khi đi chung trong vách tế bào.
  • Đóng góp cơ sở khoa học vững chắc giúp phẫu thuật viên Tai Mũi Họng và Răng Hàm Mặt chủ động lập kế hoạch phẫu thuật an toàn, hạn chế tối đa tổn thương thần kinh và mạch máu lân cận.
  • Kế hoạch tiếp theo cần mở rộng nghiên cứu đa trung tâm trên cỡ mẫu từ 500 bệnh nhân trở lên và tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo để tự động nhận diện biến thể giải phẫu trên phim chụp cắt lớp vi tính.

Để nâng cao chất lượng chẩn đoán và an toàn phẫu thuật, các bác sĩ lâm sàng và học viên chuyên ngành hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ y học này nhằm áp dụng chuẩn hóa quy trình phân tích CT scan mũi xoang trong thực hành điều trị hàng ngày.