Tòng văn khương khảo sát đặc điểm dịch tễ và tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh điện biên năm 2020 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Khảo sát đặc điểm dịch tễ và tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại Điện Biên năm 2020, luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I

2022

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. MA TÚY VÀ CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ

1.2. Điều trị methadone

1.3. Thông tin methadone

1.4. TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE CỦA BỆNH NHÂN

1.4.1. Khái niệm tuân thủ điều trị

1.4.2. Tuân thủ điều trị methadone. Tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị methadone

1.4.3. Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị

1.5. Đặc điểm dịch tễ bệnh nhân tại một số tỉnh/thành phố

1.6. Tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại một số cơ sở y tế

1.7. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH ĐIỆN BIÊN

1.8. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Biến số nghiên cứu

2.2.2. Thiết kế nghiên cứu

2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu

2.2.4. Mẫu nghiên cứu

2.2.5. Xử lý và phân tích số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TẾ CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ METHADONE

3.1.1. Đặc điểm giới tính và nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm về tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu

3.1.3. Đặc điểm về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

3.1.4. Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

3.1.5. Đặc điểm về hành vi sử dụng rượu/bia, thuốc lá của đối tượng nghiên cứu

3.1.6. Tuổi bệnh nhân lần đầu sử dụng ma túy

3.1.7. Tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân khi đang điều trị methadone

3.1.8. Liều điều trị của bệnh nhân

3.1.9. Tình trạng nhiễm bệnh của bệnh nhân trước khi tham gia điều trị

3.1.10. Tình trạng điều trị ARV của bệnh nhân

3.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE

3.2.1. Tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân

3.2.2. Các triệu chứng bệnh nhân gặp phải khi bỏ uống thuốc

3.2.3. Dấu hiệu hội chứng cai của bệnh nhân trong 3 tháng qua

3.2.4. Tỷ lệ điều chỉnh liều, khởi liều lại của bệnh nhân

3.2.5. Mối liên quan giữa liều Methadone và tỷ lệ xuất hiện hội chứng cai

3.2.6. Mối quan hệ giữa thực hành tuân thủ điều trị methadone với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH NHÂN THAM GIA ĐIỀU TRỊ

4.1.1. Về đặc điểm giới tính

4.1.2. Về nhóm tuổi

4.1.3. Về việc làm

4.1.4. Tình trạng hôn nhân. Trình độ học vấn

4.1.5. Tiền sử sử dụng ma túy

4.1.6. Tình trạng mắc bệnh cơ thể

4.1.7. Tình trạng sử dụng ma tuý

4.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ

4.2.1. Các yếu tố liên quan đến tuổi của bệnh nhân

4.2.2. Các yếu tố liên quan đến trình độ học vấn

4.2.3. Các yếu tố liên quan đến tình trạng hôn nhân

4.2.4. Các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp

4.2.5. Các yếu tố liên quan đến xét nghiệm

4.2.6. Các yếu tố liên quan đến người sống cùng

4.2.7. Các yếu tố liên quan đến tình trạng mắc bệnh cơ thể

4.2.8. Các yếu tố liên quan đến tình trạng sử dụng thuốc lá

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE

4.4. THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát tuân thủ điều trị methadone tại Điện Biên

Khảo sát tuân thủ điều trị methadone là một vấn đề quan trọng trong việc quản lý và điều trị bệnh nhân nghiện ma túy. Tại tỉnh Điện Biên, việc thực hiện chương trình điều trị methadone đã được triển khai từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị vẫn còn thấp, gây ra nhiều thách thức cho hệ thống y tế. Nghiên cứu này nhằm mục đích mô tả đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân và phân tích thực trạng tuân thủ điều trị methadone tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Điện Biên năm 2020.

1.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh nhân điều trị methadone

Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân điều trị methadone tại Điện Biên bao gồm giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân và trình độ học vấn. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Theo nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm ưu thế, và độ tuổi trung bình của bệnh nhân thường từ 25 đến 40 tuổi.

1.2. Tình hình điều trị methadone tại Điện Biên

Tại Điện Biên, chương trình điều trị methadone đã được triển khai tại nhiều cơ sở y tế. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân bỏ điều trị vẫn cao. Nghiên cứu cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc không tuân thủ điều trị, bao gồm thiếu thông tin về methadone và các yếu tố xã hội như tình trạng việc làm.

II. Vấn đề tuân thủ điều trị methadone và thách thức hiện tại

Việc tuân thủ điều trị methadone là một yếu tố quyết định đến hiệu quả của chương trình điều trị nghiện ma túy. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân gặp khó khăn trong việc duy trì thói quen uống thuốc. Các thách thức này bao gồm sự thiếu hiểu biết về tác dụng của methadone, áp lực từ môi trường xã hội và tình trạng tâm lý của bệnh nhân.

2.1. Nguyên nhân không tuân thủ điều trị methadone

Nhiều bệnh nhân không tuân thủ điều trị methadone do thiếu thông tin và hiểu biết về chương trình. Ngoài ra, áp lực từ gia đình và bạn bè cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định của bệnh nhân.

2.2. Tác động của việc không tuân thủ điều trị

Việc không tuân thủ điều trị methadone có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, bao gồm tái nghiện, gia tăng tỷ lệ mắc bệnh HIV/AIDS và các vấn đề sức khỏe khác. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân bệnh nhân mà còn đến gia đình và xã hội.

III. Phương pháp nghiên cứu khảo sát tuân thủ điều trị methadone

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp khảo sát mô tả để thu thập dữ liệu về tình hình tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại Điện Biên. Dữ liệu được thu thập từ các bệnh nhân đang điều trị tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Điện Biên trong năm 2020.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang, với đối tượng là các bệnh nhân đang điều trị methadone tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật. Số lượng bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 70 người, được chọn ngẫu nhiên từ danh sách bệnh nhân.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân. Sau khi thu thập, dữ liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm thống kê để xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan.

IV. Kết quả nghiên cứu về tuân thủ điều trị methadone

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại Điện Biên còn thấp. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ, bao gồm tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn và tình trạng việc làm của bệnh nhân.

4.1. Tỷ lệ tuân thủ điều trị methadone

Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị methadone tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Điện Biên chỉ đạt khoảng 30%. Điều này cho thấy cần có các biện pháp can thiệp để nâng cao tỷ lệ tuân thủ.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị

Các yếu tố như trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Những bệnh nhân có trình độ học vấn cao thường có tỷ lệ tuân thủ tốt hơn.

V. Kết luận và kiến nghị cho tương lai điều trị methadone

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy việc tuân thủ điều trị methadone tại Điện Biên còn nhiều thách thức. Cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả để nâng cao tỷ lệ tuân thủ, bao gồm việc cung cấp thông tin đầy đủ về methadone và hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân.

5.1. Đề xuất giải pháp nâng cao tuân thủ điều trị

Cần triển khai các chương trình giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và gia đình về tác dụng của methadone. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ từ cộng đồng để tạo môi trường thuận lợi cho bệnh nhân.

5.2. Tương lai của chương trình điều trị methadone tại Điện Biên

Chương trình điều trị methadone tại Điện Biên cần được mở rộng và cải thiện để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân. Việc nghiên cứu và đánh giá thường xuyên sẽ giúp nâng cao hiệu quả của chương trình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

14/08/2025
Tòng văn khương khảo sát đặc điểm dịch tễ và tuân thủ điều trị methadone của bệnh nhân tại trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh điện biên năm 2020 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. MA TÚY VÀ CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ 1. Khái niệm về nghiện ma tuý Nghiện ma túy là khi một người cần phải sử dụng ma túy để sinh hoạt bình thường. Rượu, một số thuốc được kê đơn, các loại bất hợp pháp như cần sa, heroin và amphetamines (như thuốc lắc, ma túy đá…) đều được xem là chất gây nghiện.

Điều quan trọng cần lưu ý rằng sử dụng ma túy có nhiều cấp độ khác nhau, từ dùng thử, dùng có mục đích và dùng nhiều dẫn đến nghiện. Cũng cần lưu ý rằng, khi đã mắc nghiện thì không chỉ là “sử dụng rất nhiều ma túy” mà còn mất khả năng kiểm soát hành vi. Nghiện ma túy là một tình trạng bệnh mạn tính của não bộ, tương tự như các bệnh mạn tính khác. Nghiện ma túy cần phải được chẩn đoán và có thể kiểm soát được.

Nghiện ma túy có thể được mô tả như là người bệnh “buộc tìm kiếm và sử dụng ma túy, bất chấp những hậu quả tiêu cực cho sức khỏe và xã hội liên quan đến việc sử dụng ma túy”. Có rất nhiều lý do khác nhau khi một người bắt đầu sử dụng ma túy, bao gồm: Giúp giảm đau Giúp tỉnh táo và minh mẫn khi làm việc, học tập Là tập tục và truyền thống mang tính văn hoá Giúp thư giãn, giải trí Điều quan trọng là cần phải hiểu nghiện ma tuý là một bệnh mạn tính cần điều trị lâu dài. Bước đầu tiên để điều trị nghiện ma tuý là biết được bản thân mình bị bệnh và mong muốn được điều trị [8] Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng [4]. Chất dạng thuốc phiện là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, heroin, morphine, thedadone, buprenonrphine, pethidine, codein, fentanyle [4].

3 Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy và bị lệ thuộc vào các chất này [4]. Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà người nghiện thường sử dụng. Việc cai nghiện sẽ dẫn tới người bệnh xuất hiện hội chứng cai nên cần được điều trị [4]. Hội chứng cai là trạng thái cơ thể của người nghiện khi thiếu (do cắt giảm) chất ma túy đang sử dụng.

Mỗi loại ma túy khác nhau có các biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau[4]. Phân loại chất gây nghiện Theo nguồn gốc: Ma túy được phân chia thành 3 loại: - Ma túy tự nhiên: là sản phẩm của các cây trồng tự nhiên và các chế phẩm của chúng như thuốc phiện, cần sa, cocain. - Ma túy bán tổng hợp: là các chất ma túy được chế từ ma túy tự nhiên và một số chất phụ gia khác, có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu như - Ma túy tổng hợp: là các loại ma túy được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ hóa chất như: thuốc lắc, ma túy đá. - Theo mức độ gây nghiện và khả năng bị lạm dụng: ma túy được chia thành 2 loại - Ma túy có hiệu lực cao: Là các chất ma túy chỉ cần sử dụng với một lượng nhỏ đã có thể thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng (mức độ kích thích mạnh), và sử dụng vài lần có thể gây nghiện.

Ví dụ: thuốc phiện, heroine, cocaine, thuốc lắc… - Ma túy có hiệu lực thấp: Là các chất ma túy phải sử dụng nhiều lần với một lượng lớn thì mới làm thay đổi được trạng thái tâm sinh lý của người dùng và gây nghiện; ví dụ: thuốc lá, thuốc lào… - Nhóm thuốc an thần, ức chế hệ thần kinh trung ương: Thuốc phiện, những chất chế ra từ thuốc phiện (heroine, morphine, cocaine, methadone và pethidine) và thuốc ngủ (lumiau, valium, seconau phenobacbital, serepax, 4 mogadon, seduexen…). Tác động chủ yếu khi sử dụng là buồn ngủ, an thần, yên dịu, giảm nhịp tim, giảm hô hấp… - Nhóm các chất gây kích thích: Bao gồm amphetamine và các dẫn xuất của nó; có tác dụng làm tăng sinh lực, gây hưng phấn, tăng hoạt động của cơ thể, tăng nhịp tim, hô hấp… - Nhóm các chất gây ảo giác: Điển hình gồm LSD (Lysergic Acid Diethylamide) hay còn gọi là ma túy gây ảo giác, ecstasy (thuốc lắc). Việc sử dụng các chất này với lượng lớn có thể làm thay đổi nhận thức về hiện tại, về môi trường xung quanh; khiến cho người dùng có thể nghe thấy, nhìn thấy những sự việc không có thật (ảo thanh, ảo giác) Theo luật pháp: Ma túy được phân thành 2 loại: - Ma túy hợp pháp: Là những loại ma túy thông dụng: rượu bia, thuốc lá (ni-cô-tin), ca-phê-in, thuốc ngủ an thần, thuốc giảm đau thông thường. - Ma túy bất hợp pháp: Theo luật pháp của Việt Nam, những chất ma túy bất hợp pháp có thể kể đến là: thuốc phiện, cần sa, heroin, cocaine, thuốc lắc, các chất gây nghiện kích thích dạng Amphetamin… 1.

Tác hại của ma túy. Nghiện ma tuý có thể tác động nghiêm trọng đến bản thân, gia đình và bạn bè người nghiện. Đối với người nghiện ma túy, thông thường mọi suy nghĩ của họ đều chỉ là về ma tuý. Người nghiện rất khó kháng cự lại sự cám dỗ của ma tuý, và điều này dẫn đến sự thay đổi trong tính cách của họ.

Ma tuý cũng có thể làm thay đổi hành vi của con người, cũng như cách người đó suy nghĩ và cảm nhận. Kết quả là có nhiều người nghiện bị trầm cảm, kích động và dễ giận dữ, gây mâu thuẫn và bất hòa với gia đình và bạn bè. Hậu quả của việc sử dụng ma túy * Về kinh tế: - Tệ nạn nghiện ma túy gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước.000 người nghiện hàng ngày dùng nhiều loại ma túy khác nhau và 5 giá trị tiền cũng khác nhau: như Heroine; 100.000đ/liều, có loại thuốc lắc: 300.000đ/liều, có những người nghiện phải dùng 3 - 4lần/ngày dẫn đến tiêu phí khoảng 2000 tỷ đồng/1 năm. * An ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội: - Để có tiền sử dụng ma túy, người nghiện đã phạm tội trộm cướp, cướpcủa, giết người, buôn bán ma túy.

- Do bị kích thích sau khi sử dụng chất ma túy nhiều người đã phạm các tội về gây rối trật tự công cộng, hiếp dâm, đua xe trái phép, vi phạm luật lệ giao thông gây hậu quả nghiêm trong. * Về xã hội: - Tệ nạn nghiện ma túy làm gia tăng số người bị nhiễm HIV/AIDS mà chủ yếu là bị lây truyền qua con đường tiêm chích ma túy - Tệ nạn ma túy tác động làm gia tăng tệ nạn mại dâm do sử dụng các chất ma túy kích thích. * Đối với gia đình: Tệ nạn ma túy đã phá vỡ hạnh phúc của hàng vạn gia đình. Nhiều người nghiện ma túy đánh đập vợ con, chém giết bố mẹ, ông bà để đòi tiền hút chích ma túy, bán hết tài sản thậm chí bán cả nhà ở để có tiền sử dụng ma túy, nhiều trẻ em phải bỏ học lang thang, nhiều bà vợ phải bỏ chồng vì chồng nghiện ma túy.

* Đối với bản thân người nghiện ma túy: Các chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thông qua việc tác động có hại đến đường hô hấp, hệ tim mạch, hệ thần kinh, hệ sinh dục. * Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp, gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp nhất là dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở không cấp cứu kịp sẽ dẫn đến tử vong. Ngoài ra, người dùng ma túy còn bị những tác hại như hủy hoại tế bào gan, ảo thính, ảo thị… 6 Tóm lại, tệ nạn nghiện ma túy ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đến hạnh phúc của mỗi gia đình, sức khỏe và tính mạng của con người 1.

Trên thế giới Trên thế giới, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone (gọi tắt là điều trị thay thế bằng methadone) không phải là một trong những giải pháp mới trong hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV. Ở Hồng Kông, chương trình methadone đã được triển khai từ những năm 1970, ở Hà Lan được triển khai từ những năm 1980 và Trung Quốc cũng đã thực hiện chương trình này vào năm 2003. Chính vì vậy, các công trình nghiên cứu về đề tài này rất phong phú và đa dạng với các mục tiêu khác nhau. Các nghiên cứu quốc tế đã đưa ra các bằng chứng thống nhất là: điều trị thay thế bằng methadone giúp người nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) dự phòng lây nhiễm HIV, giảm tần suất sử dụng các CDTP, giảm các hành vi tội phạm, cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống bệnh nhân bao gồm giảm tỷ lệ tử vong do quá liều, tăng hiệu quả điều trị HIV/AIDS bằng thuốc ARV.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tính hiệu quả về mặt kinh tế của chương trình điều trị thay thế bằng methadone. Chương trình điều trị thay thế bằng methadone đã được triển khai tại rất nhiều nước trên thế giới: Úc, Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Hồng Kông. Hiện nay trên toàn thế giới có 80 nước triển khai Chương trình methadone, điều trị khoảng 580.000 bệnh nhân tại Châu Âu, hơn 200.000 bệnh nhân tại Châu Á [33]. Tại Hoa Kỳ đang điều trị cho khoảng 260.000 người trên tổng số gần một triệu người nghiện ma túy tại 1.200 điều trị methadone.

Hiệu quả của Chương trình điều trị methadone tại Hoa Kỳ là rất lớn. Tính đến 7/2014 trên toàn lãnh thổ Hồng Kông có 20 cơ sở điều trị methadone đang hoạt động. Tổng số người đăng ký tham gia chương trình là 8. Chương trình methadone tại Hồng Kông đã điều trị cho khoảng 7 60% tổng số người nghiện các chất dạng thuốc phiện.

Chương trình đã giúp 70% bệnh nhân có việc làm, tỷ lệ tội phạm giảm đáng kể (từ 26% trước điều trị xuống còn 4% sau điều trị), tỷ lệ tiêm chích ma túy cũng giảm từ 40% xuống còn dưới 10%. Tỷ lệ nhiễm HIV tính đến nay chỉ là 0,3% trong nhóm sử dụng methadone Một số nghiên cứu trước đây cho thấy tần xuất sử dụng ma túy và dùng chung bơm kim tiêm ở nhóm điều trị methadone giảm đáng kể sau khi được điều trị từ 6 đến 18 tháng điều trị. Nghiên cứu của Moss và các đồng nghiệp đưa ra kết quả việc sử dụng ma túy bât hợp pháp giảm từ 33% xuống 15% và giảm tiêm chích ma tuý từ 19% xuống 6% sau 5 năm MMT .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ