CHƯƠNG I KHÁI QUAT VE BẢO HIEM LIÊN KET CHUNG VÀ CÔNG TAC KHAI THÁC BẢO HIẾM LIÊN KET CHUNG TẠI CÔNG TY BẢO HIEM NHÂN THỌ 1.1 Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ 1.1 Sự can thiết khách quan và vai trò của bảo hiểm nhân thọ Thứ nhất, đối với người dân, bảo hiểm nhân thọ là chỗ dựa tỉnh thần cho người được bảo hiểm. Rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào và thực tế đã chứng minh rằng nhiều gia đình trở nên khó khăn, túng quan khi có một thành viên trong gia đình, đặc biệt thành viên đó lại là người trụ cột gặp phải rủi ro tử vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Khi đó, gia đình phải chịu hàng loạt các chi phí mai táng, chôn cất, chỉ phí nằm viện, thuốc men, chỉ phí phẫu thuật và bù dap những khoản thu thường xuyên bi mất đi. Kèm theo đó là một loạt các nghĩa vụ và trách nhiệm mà người chết chưa kịp hoàn thành như: trả nợ, phụng dưỡng bố me gia, nuôi dạy con cái ăn học.
Hệ thống bảo trợ xã hội và các tô chức xã hội có thê trợ cấp khó khăn, nhưng cũng chỉ mang tính tạm thời trước mắt, chưa đảm bảo được lâu dài về mặt tài chính, bảo hiểm nhân thọ sẽ phần nào giải quyết được những khó khăn đó. Thứ hai, thông qua bảo hiểm nhân thọ - với số lượng tham gia rất đông đảo, các nhà bảo hiểm thu được phí để hình thành quỹ bảo hiểm, quỹ này được sử dụng chủ yếu vào mục đích bồi thường, chi trả và du phòng. Đây sẽ là nguồn vốn đầu tư hữu ích góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế khi nhàn rỗi. Nguồn vốn này không chỉ có tác dụng đầu tư dài hạn, đồng thời còn góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
Tại nhiều nước trên thế giới, những tiến bộ khoa học đã góp phần đây nhanh quá trình phát triển sản xuất, nâng cao đời sống kinh tế xã hội, kéo dài tuổi thọ. Đây là điều đáng mừng, song nó cũng đặt ra cho xã hội và nguồn ngân sách Nhà nước một số vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Đó là việc phải chỉ tương ứng một khoản kinh phí tăng tương ứng so với mức tăng dân số và tuổi thọ dé giải quyết các chế độ đảm bảo xã hội, nhất là đối với những người già yếu, không nơi nương tựa. Do vậy, phần vốn ngân sách đầu tư cho phát triển ít nhiều nhất định sẽ bị ảnh hưởng.
Nhằm khắc phục tình trạng này, nhiều nước trên thế giới đã dùng biện pháp khác để bổ sung vốn đầu tư phát triển. Đây được coi là biện pháp hỗ trợ ngân sách Nhà nước trong việc duy trì sinh hoạt bình thường cho 4 những người già yếu, những người mất sức bên cạnh các khoản phúc lợi xã hội của Nhà nước và là nguồn vốn bổ sung cho ngân sách Nhà nước trong việc đầu tư phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, giữ gìn trật tự va ôn định xã hội. Thứ ba, bảo hiểm nhân thọ là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi ở các tang lớp dân cư trong xã hội dé góp phần chống lạm phát. Xét về mặt sản pham, tất cả sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ đều có khả năng chống lại ảnh hưởng lạm phát vì khi tính phí bảo hiểm, công ty bảo hiểm đã áp dụng một tỷ lệ chiết khấu phí, phần lãi này sẽ bù đắp lại phần trượt giá.
Khi tham gia, khách hàng có thê yên tâm về giá trị đồng tiền vì khi tham gia bảo hiểm, số tiền nộp phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm không phải là nguồn tiền bất động mà là tiền đẻ ra tiền. Số tiền đóng bảo hiểm được công ty bảo hiểm đem đầu tư và lãi đầu tư được trả lại đưới hình thức chiết khấu dòng tiền phí bảo hiểm, ngoài ra còn đưới hình thức lãi chia. Một điều cũng cần lưu ý là, khi tham gia bảo hiểm và đóng phí định kỳ, chỉ một phần số phí đóng phải chịu ảnh hưởng của lạm phát tương ứng với thời hạn bảo hiểm mà từng phần phí đóng sẽ chịu ảnh hưởng trong những thời hạn khác nhau. Qua đó, chúng ta thấy vai trò to lớn của bảo hiểm nhân thọ trong việc kìm hãm lạm phát.
Thứ tư, bảo hiểm nhân thọ còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội như: tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết kiệm có kế hoạch. Trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ, doanh nghiệp bảo hiểm muốn phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường của mình thì phải cần đến một hệ thống đại lý có quy mô lớn để giúp tuyên truyền, tư vấn và phân phối các sản phâm bảo hiểm nhân thọ đến khách hàng. Khi tô chức các dich vụ bảo hiểm nhân tho còn cần một số lượng lớn các nhân viên trên nhiều lĩnh vực.vì đối tượng và phạm vi rộng, thời gian dài, cho nên phat triển địch vụ này sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Trong thời gian vừa qua, lực lượng đại lý bảo hiểm nhân thọ sẽ phát triển rất nhanh trong thời gian tới.
Việc xây dựng và phát triển lực lượng đại lý, nhân viên của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã tạo được việc làm cho hàng ngàn lao động, góp phần ổn định an ninh, trật tự cho xã hội và tăng trưởng kinh tế cho đất nước. Như vậy, có thé thay rằng bảo hiểm nhân tho vừa là nguồn bổ sung vốn đầu tư phát triển, đồng thời là công cụ kìm hãm lạm phát hữu hiệu, tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm bớt khó khăn cho cá nhân và gia đình người gặp rủi ro, giúp bảo vệ an ninh quôc gia, bảo đảm và ôn định đời sông kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Do vậy, với những quốc gia vai trò đảm bảo xã hội của Nhà nước còn chưa mạnh việc đây mạnh dịch vụ bảo hiểm nhân thọ dài hạn sẽ góp phần hỗ trợ cho ngân sách Nhà nước giải quyết được một số khó khăn về kinh phí đảm bảo xã hội và đầu tư phát triển.2 Khái niệm va ban chất của bảo hiểm nhân tho Theo diéu 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 được định nghĩa: “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sông hoặc chết.” Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm (số tiền bảo hiểm) cho người tham gia khi nguươiì tham gia có những sự kiện đã định trước (chăng hạn như: chết thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hết hạn hợp đồng, sống đến một thời hạn nhất định. Người tham gia Bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí Bảo hiểm day đủ định kỳ trong một thời gian thoả thuận trước có thé là 5 nam, 10 năm, 20 năm.
va đúng thời han. Như vậy Bảo hiểm nhân thọ đươc hiểu như một sự bảo đảm “hình thức tiết kiệm” và mang tính chất tương hỗ. Mỗi người mua hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ (gọi là người được bảo hiểm) sẽ định kỳ trả những khoản tiền nhỏ (phí bảo hiểm) trong một thời gian dài đã thoả thuận trước (thời hạn bảo hiểm) vào một quỹ lớn do công ty bảo hiểm quản lý và có trách nhiệm trả một số tiền lớn đã định trước (số tiền bảo hiểm) cho người được bảo hiểm khi người được Bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định, khi kết thúc thời hạn Bảo hiểm hay khi có một sự kiện xảy ra (người được Bảo hiểm kết hôn hoặc vào đại học hoặc nghỉ hưu. ) hoặc cho thân nhân và gia đình người được Bảo hiểm nếu không may họ chết sớm hơn.
Số tiền lớn trả cho thân nhân và gia đình người có hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ khi không may họ gặp rủi ro ngay khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ sẽ giúp những người còn sống chỉ trả những khoản phải chỉ tiêu rất lớn như tiền thuốc thang, tiền ma chay, khoản tiền cần thiết cho những người còn sống, chi phí nuôi dưỡng con cái. Chính vì vậy Bảo hiểm nhân tho được coi là một hình thức bảo đảm và mang tính chất tương hỗ, chia sẻ rủi ro giữa một số đông người cho một số ít người trong số họ phải gánh chịu. Với tính chất như một hình thức tiết kiệm, hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ giúp cho mỗi người, mỗi gia đình có một kế hoạch tài chính dài hạn thực hiện tiết kiệm thường xuyên có kế hoạch. Với xã hội như một hình thức Bảo hiểm, Bảo hiểm nhân thọ góp phần xoá bỏ những đói nghèo, khó khăn của mỗi gia đình khi không may người trụ cột trong gia đình mat di.
Như một hình thức tiết kiệm, việc triển khai Bảo hiểm nhân thọ là một hình thức tập trung nguồn vốn tiết kiệm dài hạn trong nhân dân, góp phan tạo nên nguồn vốn dau tư dai hạn trong nên kinh tế. Bảo hiểm nhân thọ được coi là một hình thức tiết kiệm dài hạn nhưng không phải là hoàn toàn giống hệt nhau. Trong góc độ nghiên cứu ta cần phân biệt rõ về hai hình thức này vì nó rất thiết thực và gần gũi vơi đời sống của chúng ta. Thực tế Bảo hiểm nhân thọ xét về mặt tích cực có những điểm giống và khác nhau so với hình thức tiết kiệm.3 Đặc điểm bảo hiểm nhân thọ Thứ nhất, Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro.
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với BHPNT. Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. STBH được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng hoặc sẽ được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm. Số tiền này giúp những người còn sống trang trải các khoản phí cần thiết khi người trụ cột chắng may gặp phải rủi ro.