ĐẶT VẤN ĐỀ Bào hiếm xã hội y tế hay bảo hiểm y tế (BỈỈYT) là một giải pháp quan trọng cho tài chính y tế, đây cũng là một giải pháp mang tính nhân văn vì nó chia sẻ nguy cơ về ốm đau bệnh tật, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp, góp phần bảo đảm tính công bàng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe. Sau gần 15 năm triển khai thực hiện, bảo hiểm y tế Việt Nam ngày càng khang định được tính đúng đắn của một chính sách lớn trong chiến lược chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân, phù họp với tiến trình đối mới của đất nước. Theo các kết quã nghiên cứu, số người sử dụng BHYT đang ngày càng gia tăng. Nếu như năm 1993, cả nước mới có 5,3% dân số tham gia BHYT, năm 2001 tăng lên 15% dân số thì đến năm 2007.
số người tham gia BHYT có gần 40 triệu người, chiếm 48% dân số cá nước [14], Thực tế cho thấy BHYT đã góp phần không nhở trong việc thực hiện công bàng trong khám chữa bệnh (KCB), thế hiện tính nhân đạo và cộng đồng cao. Vì vậy, B1ỈYT đang từng bước trở thành một nhu cầu tất yểu của đời sống xã hội. Thực tế cũng cho thấy tình hình sử dụng DVKCB của những người tham gia BHYT đang có xu hướng tăng theo mức độ bao phủ cùa BHYT. với việc áp dụng Nghị định 63/2005/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ.
quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được mở rộng gần như tối đa [15], Bởi vậy. chỉ sau hơn hai năm thực hiện Nghị định, tỳ lệ người tham gia BHYT cũng như số lượt người có thẻ bảo hiếm sử dụng các ĐVK.CB đã gia tãng nhanh chóng. Năm 2006 đã có khoảng 65 triệu lượt bệnh nhân BHYT sử dụng các DVKCB nội trú và ngoại trú (tăng 56% so với cùng kỳ năm 2005), năm 2007 có 75 triệu lượt người tham gia BHYT đi khám, chữa bệnh - tăng 15% so với năm 2006 [30]. ■ -4- Với tỷ lệ người tham gia bảo hiểm như hiện nay và sự gia tăng nhu cầu sử dụng DVKCB của các dối tượng tham gia bảo hiếm đã tác động đến khả năng cung cấp dịch vụ của nhiều cơ sở y tế (đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội và thành phổ Hồ Chí Minh).
Nhiều bệnh viện luôn ở trong tình trạng quá tải, nhân viên y tế phải làm việc quá sức. do đó có thể ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu CSSK của người bệnh có thẻ BHYT [15]. Trong bối cảnh đó, một câu hỏi được đặt ra là người bệnh có BHYT có hài lòng về dịch vụ khám chữa bệnh hay không? Để có thêm thông tin tham khảo trả lời câu hói trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: "Kháo sát tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của bệnh nhân nội trú có và không có thẻ BHYT tại Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội, năm 2008 ”, Hy vọng kết quả nghiên cửu sẽ giúp các nhà quản lý có thêm thông tin tham kháo, góp phần làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh hơn nữa. đảm báo tiêu chí “Công bang và hiệu quả” trong chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và cho người tham gia BHYT nói riêng.
MỤC TIÊU NGHIÊN cứu Mục tiêu chung: Kháo sát tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của bệnh nhân nội trú cỏ và không có thẻ BHYT tại bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội, năm 2008. Mục tiêu cụ thê: « * /. Mô tá tình hình sứ dụng dịch vụ khám chữa bệnh cua bệnh nhãn có và không có thẻ BHYT, điểu trị nội trú tại Bệnh viện Bạch Mai. Khảo sát mức độ hài lòng đoi với dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú có và không có the BHYT tại bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội.
■ -5- Chuông I TỐNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về bảo hiêm y tế Bảo hiểm y tế là một quỹ độc lập do Chính phủ thành lập, quy dinh những quyền lợi rõ ràng cho người tham gia bảo hiểm, quỹ này thường được gọi là BIỈYT quốc gia. Việc tham gia BHYT xã hội là bắt buộc dối với một số nhóm dân cư nhất định và mức đóng góp được xác định dựa trên thu nhập chứ không dựa trên mức độ rủi ro về sức khoẻ. Trên thế giới, hệ thống BHYT đã hình thành và tồn tại từ lâu dựa trên nguyên lý chung về tập hợp và chia sẻ nguy cơ rủi ro về sức khoẻ và bệnh tật.
BHYT bắt buộc theo luật dinh đã sớm được triển khai từ cuối thể kỷ 19 và những năm đầu thế kỷ 20 ở các nước như: Đức (1883), Áo (1887), Na Uy (1902), Anh (1901), Pháp (1921). [6], [36], Bản chất của BHYT là chia sẻ, phân tán nguy cơ và huy dộng nguồn tài chính cho y tế, do vậy nó có tác động hết sức tích cực đến kinh tể xã hội. về mặt kinh tế, BHYT giúp tăng dáng kể nguồn tài chính cho y tế, góp phần tăng qui mô và chất lượng cua các dịch vụ y tế, đồng thời giám ngân sách đầu tư cho y tế để dầu tư cho các ngành quan trọng khác của đất nước, về mặt xã hội, BHYT làm tăng tính tiếp cận các dịch vụ y te cúa người dân, đặc biệt là đối với nhóm nghèo và cận nghèo. Đây chính là biểu hiện cua việc tăng tính công bàng trong chăm sóc sức khỏe (CSSK).
Ngoài ra, với việc chia sẻ nguy cơ về tài chính giữa người khỏe và người ốm; giữa người giàu và người nghèo, BHYT đã thế hiện một tính nhân văn vô cùng sâu sắc cần được khuyến khích phát triển nhằm tiến tới mô hình BHYT toàn dân 119], [22]. Các loại hình bảo hiếm y tế 1. Bảo hiểtny tế bắt buộc Các thành viên trong một tố chức, cộng đồng nào đó, dù muốn hay không cũng phải mua BlíYT, với một mức phí qui định. Đê đàm bảo độ bao phú cao, bao giờ cũng phải áp dụng che độ bảo hiếm y tế bắt buộc.
Tuy nhiên, điều này khó thực hiện với các nước sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp và việc kiểm soát thu nhập không được chặt chẽ [6]. Báo hiểm J’ tế tự nguyện Các cá nhân được quyền quyết định mua hay không mua BHYT của nhà nước trên cơ sở mức phí quy định chung. Mức phí này thường được quyết định dựa trên tình trạng sức khỏe chung cùa cộng đồng, ở Việt Nam hiện nay, ngoài dối tượng chủ yếu là học sinh, sinh viên, bảo hiếm y tế tự nguyện còn được mở rộng ra cho các đổi tượng khác như nông dân [6], 1. Báo hiểmy tế tư nhân vì lợi nhuận Là một hình thức của BHYT tự nguyện, trong đó những người tham gia có thể tự chọn công ty BHYT tư nhân.
Mệnh giá và quyền lợi cúa người tham gia sẽ được thỏa thuận giữa công ty báo hiểm và cá nhân người tham gia. Do hoạt động vì lợi nhuận nên việc quyết định mệnh giá thường dựa trên tinh trạng sức khóe cúa từng thành viên mua bảo hiểm. Thường những người khá giả mới áp dụng hình thức bảo hiếm này vì họ sẽ được nhận mức báo hiểm cao khi đóng bảo hiểm nhiều. Hình thức BHYT này quan tâm nhiều dến lợi nhuận, ít quan tâm đến van đề công bang và hiệu quá [6].
Bảo hiểm y tế cộng đồng Là hình thức bão hiểm y tế do cộng đồng (xã, huyện) tự quản lý. Mỗi cộng dồng sẽ đề ra mệnh giá bảo hiểm (bao nhiêu tiền trong thời gian bao lâu), hình thức bảo hiểm (theo hộ gia đình hay cá nhân), mức độ bảo hiểm - 7- (chi trả cho những dịch vụ ở tuyến nào), cách thức đóng góp (đóng tiền hay đóng thóc, đóng 1 lần hay 2 lần trong năm. Một số vấn đề thường gặp khi thực hiện bảo hiểm t’ tế Lý thuyết về BHYT thì rất rõ ràng, nhưng để triền khai được một mô hình BHYT thật hiệu quả trên thực tế là một việc rất khó khăn vì sẽ gặp phải một số các vấn đề sau đây: - Người dân không nhận ra lợi ích mà BHYT mang lại nên họ không muổn tham gia hoặc sau một thời gian thì không tiếp tục tham gia nữa. - Tâm lý lạm dụng dịch vụ từ phía thầy thuốc cũng như của bệnh nhân tham gia bảo hiếm y tế.
+ Sự lạm dụng của thầy thuốc xảy ra khi không có hợp đồng thoả thuận chi tiết giữa cơ quan BIIYT và bệnh viện cũng như không có sự giám sát chặt chẽ của cơ quan BHYT. Vì lợi ích cúa mình, cơ sở y tế có thể cho bệnh nhân làm những xét nghiêm, dùng những thuốc hay dịch vụ không cần thiết, thậm chí thanh toán khống với cơ quan BI IYT. + Tâm lý lạm dụng của bệnh nhân tham gia BHYT cũng vì mục đích tối đa hoá lợi ích cùa mình. Người tham gia BliYT sẽ di khám và sử dụng các DVKCB quá nhiều và thậm chí là không cần thiết vì họ nghĩ BHYT sẽ thanh toán hết cho họ.
Để hạn chế vấn đề này chính sách “đồng chi trả” đã ra dời và được áp dụng, nghĩa là cả bệnh nhân và cơ quan BHYT cùng chi trà cho phí KCB của bệnh nhân. - “Sự lựa chọn ngược”: Chỉ những người yếu, biết mình sắp phải sử dụng dịch vụ y tế mới tự nguyện tham gia BHYT. ■ - 8- - Hiện tượng “Hớt váng kem”: Cơ quan BHYT chi bán bảo hiểm cho những người khoẻ mạnh. Như vậy có khả năng số tiền thu được sẽ không phải chi trả hết cho những người mua báo hiểm và số tiền kết dư cơ quan bào hiếm sẽ được hưởng.
Hai điểm cuối chỉ xảy ra với hình thức BHYT tự nguyên và các công ty BHYT hoạt động vì lợi nhuận [6]. Tình hình thực hiện BHYT ở một số nước trên thế giới 1. BHYT tại Pháp Tại Pháp, tài chính cho y tế chù yếu từ nguồn BHYT bắt buộc. Năm 2000, toàn bộ người dân Pháp đều có BHYT bắt buộc.
Quỹ BHYT chi trá toàn bộ hoặc một phần chi phí điều trị nội trú và ngoại trú cúa bệnh nhân tuỳ từng loại dịch vụ và hình thức điều trị. Tuy nhiên quỹ BFIYT bắt buộc cũng chỉ đảm nhiệm được 3/4 chi phí y tế, phần còn lại được bổ sung từ BHYT tư nhân. Năm 2000, chi phí BHYT của Pháp tăng 6,3% so với năm trước, chủ yếu là do bội chi thuốc men [10].