ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh ung thư và sức khoẻ cộng đồng đang là những vấn đề ngày càng được quan tâm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê và ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 11 triệu người mới mắc bệnh ung thư và một nửa trong số đó chết vì căn bệnh này. Trong các bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ, ung thư cổ tử cung là một bệnh phổ biến hàng thứ hai (sau ung thư vú), ước tính hàng năm có khoảng 500.000 người mới mắc ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung cũng là một trong các bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ.
Tỷ lệ phụ nữ bị ung thư cổ tử cung đứng đầu tại thành phố Hồ Chí Minh và đứng thứ năm ở Hà Nội. Virus HPV (Human Papilloma virus) là một trong những thủ phạm chính gây nguy cơ cao dẫn đến ung thư cổ tử cung. Theo điều tra của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế, tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ toàn cầu dao động trong khoảng 9- 13%, nghĩa là cứ 10 phụ nữ thì một người bị nhiễm HPV. Trong khi đó ở Việt Nam, nếu chỉ tính riêng ung thư cổ tử cung thì số người chết vì HPV đã cao hơn nhiều so với HIV.
Trong 10 năm qua, có khoảng 6.000 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung, cao gấp đôi số phụ nữ chết vì bệnh AIDS, mặc dù khác với HIV, các tổn thương do HPV, thậm chí ung thư, có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm. Tuy nhiên trên thực tế ở Việt Nam, phần lớn bệnh nhân ung thư cổ tử cung chỉ được phát hiện bệnh ở giai đoạn cuối, vài năm trước khi qua đời. Do đó phát hiện sớm những tổn thương tiền ung thư là điều có thể làm được và cần thiết. Ngày nay, một số nghiên cứu cho thấy sử dụng phương pháp sinh học phân tử có thể chẩn đoán tình trạng tế bào, chẩn đoán sớm bệnh ung thư, xác định giai đoạn của ung thư, quá trình hình thành và phát triển của ung thư cổ tử cung một cách hiệu quả và làm cơ sở để xây dựng những liệu pháp gen mới trong điều trị ung thư, và đầy hứa hẹn phát triển trong tương lai.
Do đó, việc tìm ra các biomaker đại diện đặc trưng trên người cho bệnh ung thư cổ tử cung SVTH: Bùi Thị Tuyết Nga ix KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 nhằm chẩn đoán sớm, dự báo và theo dõi tiến triển của quá trình hình thành và phát triển ung thư là vấn đề hết sức cần thiết. Epigenetics là hiện tượng liên quan đến những biến đổi cấu trúc DNA mà không liên quan đến biến đổi trình tự DNA và được di truyền cho thế hệ sau. Epigenetics bao gồm sự biến đổi histone và methyl hóa DNA. Mối tương quan giữa sự biến đổi epigenetic với tiến triển của bệnh ung thư đã được chứng minh trong thời gian gần đây.
Thực tế nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã chứng minh có sự methyl hóa bất thường trên một số nhóm gen quan trọng như gen ức chế khối u, gen gây khối u dưới sự xúc tác của họ enzyme DNA methyltransferase (DNMTs). Vì vậy, những biến đổi bất thường trên họ gen DNMTs, cụ thể DNMT3L có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng methyl hóa bất thường tế bào. Gần đây một số nghiên cứu chứng minh có xuất hiện sự giảm methyl hóa ở gen DNMT3L trên bệnh nhân ung thư cổ tử cung. Cho nên sự methyl hóa bất thường ở DNA methyltrasferase 3-like (DNMT3L) là một biomarker tiềm năng, có thể cung cấp thông tin hữu hiệu giúp đánh giá tình trạng mắc bệnh ung thư cổ tử cung cho bệnh nhân.
Xuất phát từ lý do trên đề tài :”Khảo sát mức độ methyl hóa tại vùng Promoter của gen DNMT3L trên bệnh nhân ung thư cổ tử cung” cần được thực hiện. SVTH: Bùi Thị Tuyết Nga x KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 I.TỔNG QUAN SVTH: Bùi Thị Tuyết Nga 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 I.SƠ LƯỢC VỀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG I.Tình hình ung thư, cụ thể ung thư cổ tử cung trên thế giới và ở Việt Nam I.Trên thế giới Bệnh ung thư và sức khoẻ cộng đồng đang là những vấn đề ngày càng được quan tâm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê và ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 11 triệu người mới mắc bệnh ung thư và một nửa trong số đó chết vì căn bệnh này [43]. Tỷ lệ chết do ung thư chiếm tới 12% trong số các nguyên nhân gây tử vong ở người [ 43].
Tỷ lệ mắc ung thư có xu hướng gia tăng ở hầu hết các nước trên thế giới. Các bệnh ung thư hàng đầu trên thế giới, đối với nam giới là ung thư phổi, dạ dày, đại trực tràng, tiền liệt tuyến, gan; còn ở nữ giới là ung thư vú, đại trực tràng, cổ tử cung, dạ dày và phổi. Trong đó các loại ung thư đại trực tràng, tiền liệt tuyến thường gặp ở các nước phát triển, còn ở các nước đang phát triển chủ yếu gặp các loại ung thư cổ tử cung, vòm họng, gan, thực quản… Ung thư cổ tử cung là bệnh phổ biến thường gặp ở phụ nữ, thường được phát hiện ở những phụ nữ trong độ tuổi khoảng 30-59 tuổi, nhiều nhất là ở độ tuổi từ 45- 55 tuổi, rất hiếm ở phụ nữ dưới 20 tuổi. Trên thế giới, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến hàng thứ hai (sau ung thư vú).
Trong khi ung thư vú là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước phát triển thì ung thư cổ tử cung là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nước đang phát triển. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới, ước tính hàng năm có khoảng 500.000 người mới mắc bệnh ung thư cổ tử cung[4], chiếm 4,5 % tỷ lệ người mới mắc bệnh và gần 250.000 phụ nữ trong số này chịu đầu hàng căn bệnh này[4]. Trong đó tỷ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung ở các nước đang phát triển chiếm khoảng 80% cao hơn ở các nước phát triển[4]. Và trong một thời gian dài, ung thư cổ tử cung là cơn ác mộng đối với phụ nữ, không chỉ do bệnh diễn tiến thầm lặng rất khó phát hiện mà còn vì tỉ lệ tử vong và số lượng bệnh nhân.
Điều đáng sợ là do các dấu hiệu tiền ung thư và ung thư giai đoạn đầu ở cổ tử SVTH: Bùi Thị Tuyết Nga 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 cung không gây đau đớn hay có triệu chứng rõ rệt. Tuy nhiên, theo các chuyên gia y tế, ung thư cổ tử cung nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, người bệnh sẽ có cơ hội chữa khỏi bệnh rất lớn và tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể trong quá trình điều trị.Tại Việt Nam Cũng như các nước trên thế giới, số người mắc bệnh ung thư ở Việt Nam đang có xu hướng ngày một gia tăng. Tại Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 người mới mắc bệnh ung thư và khoảng 50 – 70 nghìn người chết vì ung thư [44]. Đối với nam giới tại Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh thì ung thư phổi, dạ dày, gan, đại trực tràng chiếm tỷ lệ cao nhất.
Còn đối với nữ giới: ung thư vú và ung thư cổ tử cung là hai loại ung thư chiếm tỷ lệ cao nhất tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay chúng ta đã tiến hành ghi nhận các số liệu về ung thư tại một số bệnh viện, thành phố khác như thành phố Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng, bệnh viện E Hà Nội. Nhìn chung tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở các địa phương về cơ bản có những nét tương đồng. Trong các căn bệnh ung thư thường mắc phải ở phụ nữ Việt Nam, ung thư cổ tử cung là mối e ngại lớn đối với sức khoẻ và hạnh phúc của phụ nữ bởi ung thư cổ tử cung hiện nay đang là nguyên nhân gây tử vong cao hàng thứ 2 ở Việt Nam (sau ung thư vú).
Tỷ lệ phụ nữ tại thành phố Hồ Chí Minh bị ung thư cổ tử cung chiếm tỉ lệ cao nhất. Điều này khác với thành phố Hà Nội, ung thư vú ở vị trí số 1. Trong khi đó tỷ lệ phụ nữ tại Hà Nội bị ung thư cổ tử cung xếp ở vị trí thứ 5 [45]. Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ ung thư cổ tử cung cao trong các nhóm phụ nữ: làm nông nghiệp, có nhiều bạn tình, sinh hoạt tình dục sớm, có con sớm, nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục.
Hiện tại, có khoảng 30,77 triệu phụ nữ tuổi từ 15 tuổi trở lên có nguy cơ mắc phải ung thư cổ tử cung. Theo kết quả thống kê của IARC cho thấy rằng có 2.472 ca tử vong trong số 5.174 trường hợp được chẩn đoán ung thư cổ tử cung mỗi năm tại Việt Nam[42]. SVTH: Bùi Thị Tuyết Nga 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 I.Tác nhân gây bệnh I.Tác nhân Gần đây các nhà khoa học đã xác định thủ phạm chính của hầu hết các dạng ung thư cổ tử cung là Human Papilloma Virus (HPV) – một loại virus gây u nhú ở người, chiếm khoảng 70-80% số trường hợp phụ nữ bị ung thư cổ tử cung [47]. Nhiễm HPV thường gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi 18-28 và những phụ nữ bị nhiễm virus HPV thường có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung tăng gấp 2,5-5 lần so với phụ nữ không bị nhiễm[4].
Virus HPV được phân làm 2 nhóm: nguy cơ cao và nguy cơ thấp (về tính gây ung thư). Hiện có khoảng 100 phân nhóm virus HPV, trong đó khoảng 40 nhóm tác động trên đường sinh dục, số nhóm nguy cơ cao hiện nay vào khoảng 15 - 18 nhóm, phổ biến nhất là nhóm 16, 18 (2 nhóm HPV-16 and HPV-18 liên quan đến khoảng 70% các ca ung thư cổ tử cung) [4].Nhóm có nguy cơ cao có liên quan cao đến bệnh lý ung thư với khả năng tích hợp DNA vào bộ gen của tế bào người, làm rối loạn sinh sản ác tính, gây ra ung thư (hầu như các trường hợp ung thư cổ tử cung đều phát hiện có nhiễm HPV nguy cơ cao).