ĐẶT VẤN ĐỀ Cholesterol là yếu tố tác động chính đến sức khỏe tim mạch của con người và đóng một vai trò trong việc cấu tạo nên các tế bào khỏe mạnh. Cholesterol tăng cao là tình trạng nồng độ cholesterol trong cơ thể vượt mức bình thường, có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh, một yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với bệnh tim mạch (Cardiovascular Disease - CVD), bệnh mạch vành (Coronary Artery Disease - CAD), bệnh tiểu đường (Diabetes disease) và đột quỵ (Stroke disease), bệnh huyết khối (Homocysteine), hội chứng chuyển hóa (Metabolic Syndrome – MetS), sinh non…(Goldberg et al., 2011; Pishva et al., 2013; Li et al., 2015; Ni et al. Một số công bố khoa học ghi nhận các dạng biến thể/đột biến trên gen MTHFR và MTRR là nguyên nhân dẫn đến các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như: khiếm khuyết tâm thất (Ventricular Septal Defect – VSD) theo công bố khoa học của Pishva và cộng sự (2013), là do các biến thể trên gen MTHFR và MTRR; hội chứng chuyển hóa (Metabolic Syndrome – MetS) theo công bố khoa học của Botto và cộng sự (2003); bệnh động mạch vành theo công bố khoa học Laraqui và cộng sự (2007) (Pishva et al., 2013; Laraqui et al., 2007; Botto et al., 2003)… Hơn nữa, bệnh tăng cholesterol máu có tính chất gia đình (Cholesterol Familial Hypercholesterolemia – FH) là bệnh lý rối loạn di truyền, liên quan đến quá trình chuyển hóa lipoprotein tỷ trọng thấp (Low Density Lipoproteins – LDLs). Bệnh FH là nguyên nhân dẫn đến tăng nguy cơ mắc sớm một số bệnh lý về tim mạch: bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch (Klose et al.
Công bố khoa học của Lievers và cộng sự (2001) ghi nhận tính chất biến thể đột biến trên gen MTHFR (A1298C) dẫn đến sự thay đổi lượng homocystein huyết tương có sự tương quan với diễn tiến bệnh lý động mạch vành (xơ vữa động mạch) ở bệnh nhân mắc bệnh lý tăng cholesterol trong máu có tính gia đình FH (Lievers et al. Thêm vào đó, công bố khoa học của Kawashiri và cộng sự (2000), Pisciotta và cộng sự (2005) ghi nhận tính chất biến thể đột biến A1298C gen MTHFR dẫn đến sự thay đổi lượng homocystein huyết tương có sự tương quan với diễn tiến bệnh lý động mạch vành (xơ vữa động mạch) ở bệnh nhân mắc bệnh tăng cholesterol máu có tính gia đình (Kawashiri et al., 2000; Pisciotta et al. Trang xii Công bố khoa học Gaughan và cộng sự (2001) xác định tính biến thể A66G gen MTRR là một yếu tố di truyền quyết định sự thay đổi nồng độ homocystein trong huyết tương và tăng cholesterol máu có tính chất gia đình (Gaughan et al. Cho đến nay, chưa có các công bố cụ thể về tính chất biến thể đột biến A1298C gen MTHFR và tính chất biến thể đột biến A66G gen MTRR trên quần thể người Việt Nam.
Dựa vào các dẫn chứng khoa học nêu trên và với mong muốn tiếp tục phát triển nội dung nghiên cứu từ chuyên đề thực tập tốt nghiệp về hướng nghiên cứu đặc điểm phân tử liên quan một số bệnh lý rối loạn (rối loạn chuyển hóa cholesterol và lipid trong máu, bệnh lý liên quan đến tim mạch, bệnh lý huyết khối,…), chúng tôi thực hiện chuyên đề khóa luận tốt nghiệp: “Khảo sát sự xuất hiện biến thể A1298C gen MTHFR và A66G gen MTRR đối với một số mẫu bệnh phẩm máu của người Việt Nam”. ❖ Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa sự xuất hiện biến thể A1298C gen MTHFR và A66G gen MTRR và một số bệnh lý rối loạn (rối loạn chuyển hóa cholesterol và lipid trong máu, bệnh lý liên quan đến tim mạch, bệnh lý huyết khối,…) trên thế giới và ở Việt Nam, dựa vào công cụ phân tích tổng hợp (Meta-analysis) và khảo sát thực nghiệm bằng kỹ thuật sinh học phân tử phù hợp (PCR kết hợp giải trình tự). ❖ Nội dung nghiên cứu: - Khai thác dữ liệu khoa học trên NCBI, Google với một số từ khóa: MTHFR, MTHFR A1298C, MTRR, MTRR A66G Cholesterol, Hypercholesterolemia, Familial combined hyperlipidemia,… - Phân tích tổng hợp (Meta-analysis) về mối tương quan giữa sự xuất hiện biến thể A1298C gen MTHFR và A66G gen MTRR đối với một số bệnh lý rối lọan chuyển hóa: bệnh tăng cholesterol máu có tính chất gia đình và một số bệnh lý (dự kiến: mạch máu, đột quỵ,.), dựa trên bộ dữ liệu khoa học đã công bố trên thế giới. Quá trình phân tích tổng hợp dựa vào phân tích tần suất đột biến (Proportion) trên mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên hoặc mô hình ảnh hưởng bất biến bằng công cụ Medcalc (phiên bản 18.
- Cập nhật kết quả khảo sát trên máy tính để chọn lọc các bộ mồi phù hợp với quy trình PCR - giải trình tự để xác định sự xuất hiện biến thể A1298C gen MTHFR và A66G gen MTRR. Trang xiii - Bước đầu thực hiện quy trình PCR kết hợp giải trình tự để phân tích sự xuất hiện biến thể A1298C gen MTHFR và A66G gen MTRR trên một số mẫu bệnh phẩm máu của người Việt Nam với một số chỉ số sinh hóa trong máu. Trang xiv PHẦN I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU PHẦN I.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU I. MỘT SỐ BỆNH LÝ RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA I. Bệnh tăng cholesterol máu có tính gia đình (Cholesterol familial hypercholesterolemia – FH) Dạng bệnh lý rối loạn lipid trong máu và cholesterol trong máu là những nguyên nhân chính dẫn tới các bệnh lý tim mạch, đột quỵ, nhồi máu cơ tim (Watts et al. Bệnh lý tăng cholesterol trong máu có tính gia đình (Cholesterol Familial Hypercholesterolemia – FH) được xác định với biểu hiện rối loạn lipid, cholesterol toàn phần và lipoprotein trong máu (Daniels et al.
Xét về đặc điểm phân tử trên các gen mã hóa protein tham gia sự chuyển hóa cholesterol trong máu, bệnh tăng cholesterol trong máu có tính chất gia đình (Cholesterol Familial Hypercholesterolemia – FH) là dạng bệnh lý di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, thường là tính chất đột biến xảy ra chủ yếu trên các gen: LDLR (Low Density Lipoprotein Receptor), ApoB (Apolipoprotein B), PCSK9 (proprotein convertase subtilisin / kexin loại 9) (Goldberg et al., 2011), MTHFR (Methylenetetrahydrofolate reductase) (Yang et al., 2013), gen MTRR (Methionine synthase reductase) (Zhi et al., 2016)… Biểu hiện bệnh FH gồm có các biểu hiện đặc trưng như tổn thương da, xuất hiện u vàng (xanthoma) ở gót chân hoặc mí mắt (Hobbs et al. Bệnh FH gồm thể đồng hợp (Homozygous Familial Hypercholesterolemia - HoFH) và thể dị hợp (Heterozygous Familial Hypercholesterolemia - HeFH), có thể do sự di truyền từ bố mẹ sang thế hệ con. Bệnh lý FH thể đồng hợp tử thuộc dạng bệnh lý hiếm gặp, với tần suất 1/1.000 trường hợp khảo sát. Tuy nhiên, bệnh lý FH thể dị hợp tử với tần suất trong khoảng 1/300 – 1/500 (Pejic et al., 2014; Hopkins et al.
Bệnh lý FH thể dị hợp tử có lượng cholesterol toàn phần trong khoảng 350-550 mg/dL. Bệnh lý FH thể đồng hợp tử có có lượng cholesterol toàn phần trong khoảng 650-1.000 mg/dL (Pejic et al., 2014; Hopkins et al. Nghiên cứu của Goldberg và cộng sự năm 2011, bệnh lý tăng cholesterol trong máu có tính chất gia đình (Familial Hypercholesterolemia – FH) rất khó điều trị, phái cần phát hiện sớm để kiểm soát bệnh lý FH (Goldberg et al. Robinson và cộng sự (2011) Trang 1 ghi nhận bệnh nhân bệnh lý tăng cholesterol máu gia đình (FH) có yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ nếu không được chữa trị sớm.
Độ tuổi trung bình mắc bệnh tim do bệnh lý FH: nam giới vào 40 tuổi, phụ nữ vào 50 tuổi. Bệnh lý FH có nguy cơ nhồi máu cơ tim tăng gấp 24 lần ở tuổi 40. Ở các nước phương Tây, tần suất mắc bệnh tim mạch ở những người trung niên có bệnh lý FH dao động từ 22% đến 39%. Do đó, tất cả những người mắc bệnh lý FH tăng cường điều trị những người có tiền sử bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường hoặc các yếu tố nguy cơ tim mạch khác (Robinson et al.
Thông thường, thể trạng người khỏe mạnh có lượng cholesterol toàn phần thấp hơn 200 mg/dl, bệnh nhân mắc bệnh tim mạch có lượng cholesterol toàn phần trong khoảng 200 - 239 mg/dl và bệnh nhân tăng cholesterol trong máu có lượng cholesterol toàn phần cao hơn 240 mg/dl (Ma et al. Theo công bố của Smith và cộng sự (2005), một số dạng biến thể trên gen MTHFR: MTHFR C677T và A1298C có liên quan đến tăng lượng homocysteine trong máu là yếu tố nguy cơ chính dẫn dến bệnh lý FH, bệnh tim mạch, bệnh đột quỵ,. Các dạng biến thể này gây nên sự bất hoạt của protein MTHFR, làm giảm chức năng của enzyme MTHFR dẫn đến tăng lượng homocystein huyết tương, dẫn đến đến các bệnh lý tim mạch (Smith et al., 2005; Butler et al. Trên thế giới, các bộ tiêu chí chẩn đoán bệnh nhân mắc bệnh FH thường được áp dụng thuộc tổ chức DLCN (Dutch Lipid Clinic Network), Simon Broome và MEDPED của Hoa Kỳ (US Make Early Diagnoses Prevent Early Deaths) (Damgaard et al.
Thông tin về bộ tiêu chí phân tích chỉ số nồng độ lipid trong máu nhằm xác định bệnh lý FH của tổ chức DLCN, Simon Broome và MEDPED được trình bày ở Phụ lục VI.1- Phụ lục VI. Các bệnh lý tim mạch (Cardiovascular Disease – CVD) Bệnh lý tim mạch (Cardiovascular Disease – CVD): tăng cholestrol trong máu là một trong những yếu tố nguy cơ đối với các bệnh tim mạch – CVD (Zhou et al. Bệnh nhân tăng cholesterol máu gia đình (FH) có nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch rất cao (Robinson et al. Bệnh tim mạch là do lớp mỡ thừa tích tụ trong các đại thực bào chứa lipid trong nội mạc động mạch.
Việc tích tụ liên tục của các đại thực bào chứa lipid kết hợp với sự tăng sinh Trang 2 tế bào cơ trơn có thể tiến triển thành tổn thương xơ vữa động mạch hoặc thành mảng xơ vữa. Sự xơ vữa lòng động mạch hoặc tắc nghẽn lòng động mạch bởi các mảng xơ, thường có lượng huyết khối cao, dẫn đến các bệnh lý tim mạch như nhồi máu cơ tim và đột quỵ (Daniels et al. Bệnh tim mạch là nguyên nhân của thiếu máu cơ tim gây ra chết mô cơ tim dẫn đến ngừng tim và tử vong, bệnh bao gồm hàng loạt các bệnh lý có liên quan với nhau, đáng chú ý nhất là bệnh động mạch vành (Coronary Artery Disease - CAD), gây ra khoảng 7 triệu ca tử vong trên toàn thế giới mỗi năm (Sharma et al., 2014; Butler et al. Công bố khoa học của Cortese và cộng sự (2001), công bố của Butler và cộng sự (2018) ghi nhận biến thể gen MTHFR có yếu tố di truyền góp phần gây xơ vữa động mạch (Cortese et al., 2001; Butler et al.
Các bệnh lý đột quỵ (Stroke) Đột quỵ là một rối loạn đa yếu tố do chịu ảnh hưởng của môi trường và các yếu tố di truyền.