ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay việc sử dụng các bài thuốc từ thực vật để chữa bệnh ngày càng phổ biến. Các loài thực vật này có trong tự nhiên, dễ kiếm lại ít có những tác dụng phụ cho con người, do đó đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu hóa sinh và y dược học trong nước cũng như trên thế giới (Võ Thị Mai Hương, 2009). Bên cạnh đó, một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng, vi khuẩn nội sinh cây dược liệu có khả năng sinh ra các chất có khả năng ứng dụng để sản xuất kháng sinh, đó là nguồn chất kháng khuẩn, kháng nấm có tiềm năng quan trọng dùng cho việc phòng trị các loại vi nấm và vi khuẩn gây bệnh (Ryan và cs, 2008). Với những công dụng to lớn của các cây dược liệu, để tận dụng và phát triển nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, nhằm đem đến nhiều lựa chọn hơn cho vấn đề sức khỏe của con người và động vật.
Thời gian gần đây, thế giới đang rất lo ngại trước sự gia tăng không ngừng của hiện tượng đề kháng kháng sinh của nhiều loài vi khuẩn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này; như sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng cách, không sử dụng đúng liều lượng và thời gian trị liệu. Các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn đề kháng kháng sinh ngày càng nhiều, trong môi trường bệnh viện và cộng đồng (Conly J. Vì vậy, hướng đi mới trong điều chế thuốc kháng sinh có nguồn gốc từ vi sinh vật nội sinh thực vật có tác dụng tiêu diệt hay kìm hãm sự phát triển của các vi khuẩn ngày càng được quan tâm.
Ở Việt Nam, Trầu Không được dùng chữa hàn thấp nhức mỏi, đau bụng đầy hơi, vết thương nhiễm trùng có mủ sưng đau, hen suyễn khi thời tiết thay đổi, đờm nhiều khó thở, cảm mạo, bỏng, mụn nhọt, hắc lào, mề đay, ghẻ ngứa, sâu kiến đốt, viêm quanh răng, viêm tai, viêm họng. Dùng ngoài, đắp lá tươi giã nát hoặc ngâm lá với nước để rửa (Đỗ Tất Lợi, 2004). Trầu Không có các tác động dược lý khác nhau như kháng khuẩn, chống oxy hóa, chống ung thư, kháng viêm,…(Singh và cs. Một số bệnh viện nước ta dùng cao nước Trầu Không thí nghiệm điều trị bệnh viêm cận răng (paradentose) SVTH: HỒ QUÍ ĐĂNG 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
NGUYỄN VĂN MINH GVDHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH có hiệu quả (Đỗ Tất Lợi, 2004). Trong Trầu Không có nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh, có khả năng kháng lại nhiều loại vi khuẩn. Như trong nghiên cứu của Nalina T.
đã thử hoạt tính sinh học của dịch chiết thô của lá trầu Malaysia lên vi khuẩn gây sâu răng trong khoang miệng người là Streptococcus mutans (Nalina T. Theo Đông y, Dừa Cạn có tác dụng làm săn, chống viêm, hạ áp, được sử dụng để điều trị một số bệnh: viêm đại tràng, khí hư bạch đới, tăng huyết áp, viêm nhiễm phần phụ, kinh bế, zona, phong ngứa, đái tháo đường, vàng da.Ngoài ra, người ta thường dùng Dừa Cạn là thuốc kìm tế bào và được chỉ dẫn trong điều trị bệnh Hodgkin. Trong dân gian, người ta dùng lá giã nát đắp lên những vết bỏng làm mát da thịt, giảm đau, chống bội nhiễm (Thanh Ngọc, 2014). Việc nghiên cứu các nhóm vi khuẩn nội sinh trong cây dược liệu có khả năng kháng lại với một số vi khuẩn kháng thuốc sinh carbapenemase là rất cần thiết nhằm tìm ra những loại hợp chất sinh học mới trong tương lai, hỗ trợ thiết thực cho việc điều trị nhiễm trùng.
Vì vậy, nhằm phát huy và phát triển nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại tôi tiến hành đề tài: “KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG MỘT SỐ VI KHUẨN SINH CARBAPENEMASE CỦA VI KHUẨN NỘI SINH VÀ CAO CHIẾT TỪ CÂY DƯỢC LIỆU DỪA CẠN (Catharanthus roseus (L. Don) VÀ LÁ TRẦU KHÔNG (Piper betle L.)” Mục tiêu: Khảo sát khả năng đối kháng với một số vi khuẩn kháng thuốc sinh Carbapenemase vi khuẩn nội sinh và cao chiết từ cây dược liệu Dừa Cạn (Catharanthus roseus (L. Don) và lá Trầu Không (Piper betle L.)” Nội dung nghiên cứu: - Tái kiểm tra vi khuẩn nội sinh từ cây Dừa Cạn và lá Trầu Không. - Xác định khả năng đối kháng và hoạt tính kháng khuẩn một số vi khuẩn kháng thuốc sinh carbapenemase của vi khuẩn nội sinh cây Dừa Cạn và lá Trầu Không.
- Định danh vi khuẩn có hoạt tính kháng khuẩn cao. SVTH: HỒ QUÍ ĐĂNG 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH GVDHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH - Chiết xuất cao dược liệu từ cây Dừa Cạn (Catharanthus roseus (L.
Don) và lá Trầu Không (Piper betle L. - Xác định nồng độ thấp nhất (MIC) của chiết xuất cao dược liệu từ cây Dừa Cạn và lá Trầu Không ức chế sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc sinh carbapenemase trong môi trường nuôi cấy. SVTH: HỒ QUÍ ĐĂNG 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH GVDHD: ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: HỒ QUÍ ĐĂNG 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH GVDHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1.1 TỔNG QUAN THỰC VẬT 1.1 Khái quát về cây Trầu Không (Piper betle L.1 Phân loại thực vật Giới (regnum): Plantae Ngành (division): Magnoliophyta Lớp (class) : Magnoliopsida Bộ (ordo) : Piperales Họ (familia) : Piperaceae Chi (genus) : Piper Loài (species): P.1: Cây Trầu Không (Piper betle L.2 Đặc điểm thực vật Cây Trầu Không hay Trầu, Thược Tương, Hruề Êhang (Buôn Mê Thuột) có tên khoa học là Piper betle L.), thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae). Là một loại cây mọc leo, thân nhẵn, lá mọc so le, cuống có bẹ, dài 1,5 – 3,5 cm; phiến lá hình trái xoan, dài 10 – 13 cm; rộng 4,5 – 9 cm; phía cuống hình tim (đối với những lá phía gốc), SVTH: HỒ QUÍ ĐĂNG 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
NGUYỄN VĂN MINH GVDHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH đầu lá nhọn, khi soi lên thấy nhiều điểm chứa tinh dầu rất nhỏ, gân lá thường 5; hoa khác gốc mọc thành bông, quả mọng không có vòi sót lại.2: Đặc điểm cây Trầu Không (Piper betle L.3 Nguồn gốc Trầu Không có nguồn gốc ở miền trung và đông Malaysia, được trồng từ 2500 năm trước, sau đó lan sang Madagasca và Đông Phi. Ở Trung Quốc, Trầu không được ghi chép từ đời nhà Tần năm 618 – 907 sau công nguyên. Đầu thế kỷ XV, cây bắt đầu được đưa sang Châu Âu.
Ngày nay Trầu Không được trồng phổ biến ở khắp các nước nhiệt đới vùng Nam Á và Đông Nam Á như Ấn Độ, Srilanka, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philipine, Việt Nam, Trung Quốc,… (Đỗ Huy Bích và cs. Năm 1999, Theo Kumar, Trầu Không trong tự nhiên có ở trung và đông Malaysia, đã được đưa vào trồng hơn trong suốt 2500 trước ở Châu Á. Ngoài ra còn được tìm thấy ở Madagasca và phía đông Châu Phi nhiều năm sau đó và cũng đã được đưa đến phía tây Ấn Độ. Với dược tính được biết thì loài cây này được sử dụng rộng rãi tại Ấn Độ, Indonesia và nhiều quốc gia như Malaysia, Việt Nam, Lào, Camphuchia, Thái Lan, Myanmar, Singapore (Kumar N.
SVTH: HỒ QUÍ ĐĂNG 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH GVDHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1.2 Công dụng trong y học và hoạt tính sinh học của Trầu Không (Piper betle L.) Trầu Không có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm, vào các kinh, phế tỳ, vị, có tác dụng trừ phong thấp, chứng lạnh, hạ khí, tiêu đờm, tiêu viêm, sát trùng. Y học dân gian nhiều nước có kinh nghiệm dùng nước sắc lá trầu để rửa vết thương và những chỗ lở loét ngoài da, mẫn ngứa, viêm mạch hạch huyết.
Ở Indonesia, dân gian dùng trầu làm thuốc kháng sinh, kháng khuẩn, diệt nấm. Ở Việt Nam, Trầu Không được dùng chữa hàn thấp nhức mỏi, đau bụng đầy hơi, vết thương nhiễm trùng có mủ sưng đau, hen suyễn khi thời tiết thay đổi, đờm nhiều khó thở, cảm mạo, bỏng, mụn nhọt, hắc lào, mề đay, ghẻ ngứa, sâu kiến đốt, viêm quanh răng, viêm tai, viêm họng. Dùng ngoài, đắp lá tươi giã nát hoặc ngâm lá với nước để rửa (Đỗ Tất Lợi, 2004). Trầu Không có các tác động dược lý khác nhau như kháng khuẩn, chống oxy hóa, chống ung thư, kháng viêm,…(Singh và cs.
Một số bệnh viện nước ta dùng cao nước Trầu Không thí nghiệm điều trị bệnh viêm cận răng (paradentose) có hiệu quả (Đỗ Tất Lợi, 2004). Trong Trầu Không có nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh, có khả năng kháng lại nhiều loại vi khuẩn. Như trong nghiên cứu của Nalina T. đã thử hoạt tính sinh học của dịch chiết thô của lá trầu Malaysia lên vi khuẩn gây sâu răng trong khoang miệng người là Streptococcus mutans (Nalina T.
Cao lá và tinh dầu Trầu Không có hoạt tính ức chế in vitro các chủng vi khuẩn: tụ cầu vàng, phế cầu, Staphylococcus albus, Bacillus subtilis, Bacillus anthracis, liên cầu tan máu, E. typhi, phẩy khuẩn tả, Shigella flexneri, Shigella shigae, Proteus vulgaris, Sarcina lutea và Erwinia carotovona, các chủng nấm: C. albicans, Candida stellatoides, Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Aspergillus oryzae, Curvularia lunata, Fusarium oxysporum và Rhizopus cans. Nước cất lá có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao in vitro trong thử nghiệm pha loãng với nồng độ ức chế thấp nhất 1 : 5000 (Panuwat Suppakul và cs.
SVTH: HỒ QUÍ ĐĂNG 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH GVDHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1.3 Khái quát về cây Dừa Cạn (Catharanthus roseus (L.1 Giới thiệu về cây Dừa Cạn (Catharanthus roseus (L. Don) Tên khoa học: Catharanthus roseus L., Lochnera rosea Reich.
Tên thường gọi: Bông Dừa, Dừa Cạn, Hoa Hải Đằng, Trường Xuân, Dương Giác.2 Vị trí phân loại cây Dừa Cạn (Catharanthus roseus (L. Don) Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Bộ : Gentianales Họ : Apocynaceae Chi : Catharanthus Loài : Catharanthus roceus L.3: Cây Dừa Cạn (Catharanthus roseus (L. Don) Tiếng Anh từ Catharanthus nghĩa là “pure flower”: hoa tinh khiết, hoa tinh khôi và roceus có nghĩa là “rose coloured flower”: hoa có màu sắc hồng (Nguyễn Hoàng Lộc, 1999). SVTH: HỒ QUÍ ĐĂNG 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
NGUYỄN VĂN MINH GVDHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1.3 Đặc điểm thực vật Cây Dừa Cạn là cây thân thảo sống lâu năm, mọc đứng, phân nhiều cành, cây cao 0,4 – 0,8 m. Thân hình trụ có 4 khía dọc, có lông trắng, thân non màu xanh lục nhạt, chuyển dần sang màu hồng tím theo thời gian phát triển của cây. Bộ rễ rất phát triển, thân gỗ phía gốc và phần trên mềm.
Cây mọc thành bụi dày, có cành đứng. Lá đơn nguyên, mọc đối chéo chữ thập, hình trứng, đầu hơi nhọn, dài 4-7 cm, rộng 2-3 cm, mặt trên sẫm, mặt dưới nhạt, có lông. Cuống lá ngắn dài 3-5 mm.