ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, đái tháo đường không chỉ là một vấn đề sức khỏe mà nó còn được xem là một thảm họa xã hội toàn cầu. Theo thống kê của Liên hiệp Đái tháo đường Thế giới (IDF) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có khoảng 370 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và hơn 280 triệu người thuộc nhóm nguy cơ cao trong năm 2011. Ước tính đến năm 2030 con số này có thể tăng lên 552 triệu người mắc với hơn 398 triệu người thuộc nhóm nguy cơ cao. Theo dự đoán của WHO đến năm 2030, đái tháo đường sẽ là nguyên nhân đứng thứ 7 gây tử vong trên toàn cầu [36], [48].
Đái tháo đường còn trở thành lực cản trong guồng quay của sự phát triển, gánh nặng cho toàn xã hội khi mà mỗi năm thế giới phải chi số tiền khổng lồ khoảng 232 tỉ đô la Mỹ, dự báo sẽ tăng lên 302 tỉ đô la Mỹ vào năm 2025 cho việc phòng chống và điều trị [49]. Đái tháo đường gây ra nhiều biến chứng mạn tính nguy hiểm, đặc biệt là do đái tháo đường týp 2 thường được phát hiện muộn. Nhiều nghiên cứu cho thấy có tới hơn 50% bệnh nhân đái tháo đường týp 2 khi được phát hiện đã có biến chứng, trong đó có biến chứng thận [8]. Biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường là một trong những biến chứng mạn tính hay gặp nhất và là nguyên nhân hàng đầu của suy thận, cần phải lọc máu để duy trì sự sống.
Theo nghiên cứu tỉ lệ bệnh thận do đái tháo đường ở Hoa Kỳ chiếm 3,3% dân số (2005-2008), ước tính chi phí điều trị cho những bệnh nhân này hàng năm là khoảng 16,8 tỉ USD [35]. Việt Nam tuy không phải là quốc gia có tỉ lệ mắc đái tháo đường cao nhất nhưng lại là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh nhất. Điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường của Tạ Văn Bình năm 2001 tại 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh) ở tuổi 30-64 tuổi, cho thấy tỉ lệ đái tháo đường là 4%, rối loạn dung nạp glucose là 5,1% [3]. Trong một nghiên cứu gần đây ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong năm 2009 có gần 1 11,2% người trưởng thành ở độ tuổi 40-60 bị bệnh đái tháo đường [12].
Như vậy, chỉ sau 10 năm, tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 đã gia tăng một cách đáng kể. Tại Việt Nam, theo thống kê cuả một số tác giả tỉ lệ biến chứng thận tiết niệu nói chung do đái tháo đường là 30%. Theo Nguyễn Thu Hương và Nguyễn Tiến Dũng (2013) thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên ghi nhận tỉ lệ biến chứng thận nói chung trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 chiếm 41,5%, trong đó 22,7% có microalbumin niệu, 11,4% có protein niệu [9]. Điều trị bệnh lý thận do đái tháo đường hết sức phức tạp và tốn kém, đặc biệt là suy thận giai đoạn cuối.
Biến chứng thận do đái tháo đường được đặc trưng bởi sự xuất hiện microalbumin niệu, protein niệu, sau đó là suy thận mạn khi có tăng urê, creatinin [2]. Trong đó, microalbumin niệu được xem như là công cụ chẩn đoán sớm biến chứng thận. Tuy nhiên, ở đồng bằng sông Cửu Long, đa phần người dân sống bằng nghề nông, điều kiện sống và sinh hoạt còn nhiều khó khăn, cũng như những hạn chế trong kiến thức về bệnh đái tháo đường nên họ thường không quan tâm đến những biến chứng của nó. Đến khi bệnh trở nặng, nhập viện thì phần lớn giai đoạn microalbumin niệu đã chuyển sang protein niệu.
Protein niệu xuất hiện đánh dấu sự khởi phát của bệnh thận lâm sàng. Vấn đề này ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Cần Thơ nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Vì vậy, để góp phần hiểu rõ hơn tình hình bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có protein niệu, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PROTEIN NIỆU TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ”. 2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát: Khảo sát một số đặc điểm và yếu tố liên quan đến protein niệu trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú tại Khoa Nội tim mạch - lão học, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ trong khoảng thời gian từ tháng 10/2016 đến 01/2017.
Mục tiêu cụ thể: 1. Xác định tỉ lệ protein niệu của bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú tại Khoa Nội tim mạch - lão học, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ bằng xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh bệnh nhân đái tháo đường týp 2 kèm protein niệu đang điều trị nội trú tại Khoa Nội tim mạch - lão học, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ. Khảo sát một số yếu tố liên quan đến bệnh nhân đái tháo đường týp 2 kèm protein niệu đang điều trị nội trú tại Khoa Nội tim mạch - lão học, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ.
3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƯƠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1. Định nghĩa Theo WHO, “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng sự tăng glucose máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hay hoạt động của insulin” [4]. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA), đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, đặc trưng của bệnh là tăng glucose máu mạn tính cùng với rối loạn chuyển hóa carbohydrat (chất đường), lipid (chất béo), protein (chất đạm) do thiếu insulin có kèm hoặc không kèm kháng insulin với các mức độ khác nhau.
Hệ quả của tăng glucose máu mạn tính là tổn thương, mất chức năng và suy nhiều cơ quan như: mắt, thận, thần kinh, tim, mạch máu [26], [34]. Dịch tễ học 1. Tình hình đái tháo đường trên thế giới Trong những năm gần đây, tỉ lệ đái tháo đường gia tăng mạnh mẽ ở các quốc gia công nghiệp hoá và các nước đang phát triển, trong số đó có hơn 90% là đái tháo đường týp 2. Sự bùng nổ của đái tháo đường týp 2 và những biến chứng của bệnh đang là thách thức lớn với cộng đồng [18].
Theo thống kê của IDF và WHO, năm 2011 toàn thế giới có khoảng 370 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và khoảng 280 triệu người thuộc nhóm nguy cơ cao. Trong 20 năm tới, châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á sẽ là những vùng có tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường nhiều nhất [36], [48]. Tại Hoa Kỳ, năm 2011 đã có 25,8 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, chiếm 8,3% dân số, nhóm nguy cơ cao khoảng 79 triệu người [27]. Ở châu Á, tỉ lệ đái tháo đường cũng bùng phát mạnh mẽ ở các nước có tốc độ phát triển nhanh như Ấn Độ, Trung Quốc và các nước đang phát triển như khu vực Đông Nam Á.
Nguyên nhân của sự gia tăng nhanh chóng là do quá trình đô thị hóa 4 nhanh, sự di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị nhiều, dẫn đến sự thay đổi về lối sống công nghiệp (việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng tăng lên kèm theo lối sống ít vận động). Tại Trung Quốc, theo nghiên cứu được thực hiện năm 2010, hiện có khoảng 115 triệu người mắc bệnh đái tháo đường chiếm khoảng 11,6% dân số, nhóm nguy cơ ước đạt xấp xỉ 500 triệu người [51]. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 3 triệu người chết do đái tháo đường. Vào năm 2007, tỉ lệ tử vong do đái tháo đường gây ra trên thế giới là 3,8 triệu người (chiếm 6% tỉ lệ tử vong toàn cầu), tương đương với HIV/AIDS [44].
WHO đã lên tiếng báo động về vấn đề nghiêm trọng này trên toàn thế giới. Theo một nghiên cứu gần đây, chi phí cho điều trị đái tháo đường của toàn thế giới năm 2007 ước tính 232 tỉ đô la Mỹ, dự báo sẽ tăng lên 302 tỉ vào năm 2025 [49]. Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam Ở Việt Nam, song song với mức độ đô thị hóa, phát triển kinh tế thì tỉ lệ bệnh đái tháo đường cũng có chiều hướng gia tăng không ngừng. Theo thống kê ở một số bệnh viện lớn trong nước cho thấy đái tháo đường là bệnh thường gặp nhất và có tỉ lệ tử vong cao nhất trong các bệnh nội tiết.
Các chuyên gia tin rằng hiện có ít nhất hai triệu người bị bệnh đái tháo đường ở Việt Nam, mặc dù 60% trong số đó vẫn chưa được chẩn đoán và không biết là mình bị bệnh. Điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường của PGS. Tạ Văn Bình Bệnh Viện Nội Tiết năm 2001 tại 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh) ở tuổi 30- 64 tuổi, cho thấy tỉ lệ đái tháo đường là 4%, rối loạn dung nạp glucose là 5,1% [3]. Trong một nghiên cứu gần đây ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong năm 2009 có gần 11,2% người trưởng thành ở độ tuổi 40-60 bị bệnh đái tháo đường [12].
Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2012 tại 6 vùng sinh thái trong cả nước, gồm Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho thấy: tỉ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở nước ta chiếm 5,7% dân số. Trong đó, Tây Nam Bộ có tỉ lệ cao nhất với 7,2% dân số và thấp nhất là khu vực tây Nguyên với 3,8% 5 dân số [1]. Như vậy, chỉ sau 10 năm, tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đã gia tăng một cách nhanh chóng. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2016, chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 4 tiêu chuẩn sau: HbA1c 6,5% - Trong đó xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện ở phòng xét nghiệm được chuẩn hóa theo chương trình chuẩn hóa Glycohemoglobin Quốc gia (National Glyco-hemglobin Standardization Program: NGSP).
- Tuy nhiên, không dùng HbA1c để chẩn đoán bệnh đái tháo đường trong các trường hợp thiếu máu, bệnh Hemoglobin. Những trường hợp này chẩn đoán dựa vào glucose máu huyết tương lúc đói. FPG 7,0 mmol/L ( 126 mg/dL) - Glucose máu lúc đói FPG (fasting plasma glucose): sau khi nhịn ăn ít nhất 8 giờ. Glucose máu sau 2 giờ 11,1 mmol/L (200mg/dL) khi thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose (uống 75 gam glucose và đo glucose máu sau 2 giờ).
Glucose máu ngẫu nhiên 11,1 mmol/L (200mg/dL) kèm theo triệu chứng tăng glucose máu.