Khóa luận: Chân dung người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM

Khảo sát chân dung người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP Hồ Chí Minh. Nghiên cứu trường hợp tại các quận 4, 6, 11, Tân Phú, Bình Thạnh cho khóa luận

Trường đại học

Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2008

85
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về người dân sống bằng xe tự chế 3 4 bánh

Người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM chủ yếu tập trung tại các quận 4, 6, 11, Tân Phú, Bình Thạnh. Họ sử dụng xe tự chế để kinh doanh và kiếm sống. Trình độ học vấn của họ chủ yếu tập trung tại cấp 1 và cấp 2.

1.1. Giới thiệu về người dân sống bằng xe tự chế 3 4 bánh

Người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh là những người sử dụng xe tự chế để kinh doanh và kiếm sống. Họ thường tập trung tại các khu vực đông dân và có nhu cầu kinh doanh cao.

1.2. Đặc điểm của người dân sống bằng xe tự chế 3 4 bánh

Người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh thường có trình độ học vấn thấp, chủ yếu tập trung tại cấp 1 và cấp 2. Họ cũng có tình trạng hôn nhân khác nhau, với 83% đã lập gia đình.

II. Phân tích về vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3 4 bánh

Vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM là một vấn đề phức tạp và đa dạng. Nó liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, và điều kiện kinh tế.

2.1. Nguyên nhân của vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3 4 bánh

Nguyên nhân của vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM là do sự thiếu hụt việc làm và thu nhập ổn định. Người dân phải sử dụng xe tự chế để kinh doanh và kiếm sống.

2.2. Hậu quả của vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3 4 bánh

Hậu quả của vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM là sự gia tăng của tội phạm và sự bất ổn định trong xã hội. Người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh thường phải đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức.

III. Giải pháp cho vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3 4 bánh

Giải pháp cho vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM là tạo ra nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho người dân. Chính phủ và các tổ chức cần phải đầu tư vào giáo dục và đào tạo để giúp người dân có thể tìm được việc làm tốt hơn.

3.1. Tạo ra nhiều việc làm và thu nhập ổn định

Tạo ra nhiều việc làm và thu nhập ổn định là một giải pháp quan trọng để giúp người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh. Chính phủ và các tổ chức cần phải đầu tư vào các dự án kinh tế và tạo ra nhiều cơ hội việc làm.

3.2. Đầu tư vào giáo dục và đào tạo

Đầu tư vào giáo dục và đào tạo là một giải pháp quan trọng để giúp người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh. Người dân cần phải có trình độ học vấn và kỹ năng tốt để có thể tìm được việc làm tốt hơn.

IV. Kết luận và ứng dụng

Kết luận, vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM là một vấn đề phức tạp và đa dạng. Giải pháp cho vấn đề này là tạo ra nhiều việc làm và thu nhập ổn định, và đầu tư vào giáo dục và đào tạo.

4.1. Kết luận

Vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM là một vấn đề phức tạp và đa dạng. Nó liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, và điều kiện kinh tế.

4.2. Ứng dụng

Giải pháp cho vấn đề người dân sống bằng xe tự chế 3-4 bánh tại TP.HCM có thể được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm kinh tế, giáo dục, và xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Khảo sát chân dung nguời dân sống bằng xe tự chế 3 4 bánh tại thành phố hồ chí minh hiện nay trường hợp khảo sát tại các quận 4 6 11 tân phú bình thạnh khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN > LY THUYET MAU THUAN XA HOI Lý thuyết này đưa ra quan niệm về xã hội là một hệ thống có những bất bình đẳng; có một bộ phận hưởng lợi hơn bộ phận khác; sự bát bình đẳng sẽ đưa tới mâu thuẫn, đưa tới biến chuyển xã hội. Các vấn đề nâu ra: xã hội được phân chia như thế nào? Đâu là những khuôn mẫu bắt bình đẳng xã hội chủ yếu? Tại sao một vài tằng lớp xã hội cố bảo vệ quyền lợi của mình? Các thành phần khác trong xã hội cố cải thiện vị trí của mình như thế nào? Các tác giả của lý thuyết mâu thuẫn đều cho rằng hành động của con người bị quy định bởi các lợi ích khác nhau. Nhiều tác giả cho rằng lợi ích kinh tế không phải là lợi ích duy nhất mà là các lợi ích chính trị, xã hội, văn hóa cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Cũng như một số tác giả khác của lý thuyết này cho rằng: các thủ lĩnh của giới tỉnh hoa trong xã hội cũng như trong tổ chức thực chất chỉ hoạt động bằng mọi cách vì mục đích và lợi ích của riêng họ mả thôi.

Quan niệm này rất giống với quan niệm của Marx ~ người đặt nền móng cho thuyết này khi cho rằng xã hội có phân chia giai cắp là một thể thống nhất của các mặt đối lập, trong đó một số thiểu số người thống trị đa số những người khác. Với ý nghĩa lý thuyết, đề tài này sẽ ởi tìm hiểu mẫu nhóm mà tôi lựa chọn nghiên cứu có thuộc vào thành phần nào. Nghiên cứu để tìm hiểu mỗi quan hệ giữa các bên tham gia là mối quan hệ gì, có phải là mối quan hệ mâu thuẫn đặc biệt sau khi có sự thay đồi từ Nghị quyết 32/2007/NQ-CP. BAN ĐÒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH er mm TAY ý, `" NINH J 4 vs ; ⁄ J `.

i Xư ⁄ * c BINH | Muveéw €0 cr > DƯƠNG - v , ~ ¬ ì 4 \ ` : a N ĐỒNG N NAI LONG AN Grain, bu Suga DẨN SỐTP, HỖ CHÍMINH NĂM 3/45 Phin as tgs age Diu rich ther): Mea der gt ior | Quan Mi By Quan I Sd Tu 311 É [Quản ALIN 29306, Sal Fj Minh Tia — — MAY] Aide 1m HH Hình Thạnh 2038 435,300 ANH l§ [Gà Vấp 1974 aT 8 Hư Nhận - tù JT [rae tion ĐA” (| Cae 21. pte ange Saunpn tin 308/0 10 ` CHƯƠNG 2. SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 ° 10' ~ 10 °38 vĩ độ bắc và 106 °22’ — 106 °54 kinh độ đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.

Diện tích hiện nay của Thành phố hồ chí Minh vào khoảng: 2.095 km? với 24 quận huyện, trong đó bao gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành. Năm 2007, dân số Thành phố Hồ Chí Minh là: 8.000 người, tỉ lệ dân cư thành thị chiếm 85,8% và tỉ lệ dân cư nông thôn là 14,2%. Mật độ dân số vào khoảng: 3.067 người/ km? Với vị trí địa lý thuận lợi, Sài Gòn — nơi một thời được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” đã là trung tâm thương mại và là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc tộc văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng. Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống dân tộc với những.

nét văn hoá phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối sống, tính cách con người Sài Gòn. Đó là những con người thẳng thắn, bộc trực, phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm. Năng động và sáng tạo, Thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu cả nước trong các phong trảo xã hội, nơi đầu tiên trong cả nước được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học. Địa bàn nghiên cứu trong đề tài này bao gồm 5 quận trong tổng số 24 quận huyện là chưa nhiều, song phần nào cũng mang những đặc trưng - riêng biệt.

11 Quận 4 là một quận giáp ranh với trung tâm thành phố, có hình dạng _„ như một cù lao tam giác với tổng diện tích 4.181 km, tỉ lệ diện tích so với thành phố là 0,1995% ( xếp thứ 24/24 quận huyện ). Tổng dân số khoảng 200.000 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 92,81%, dân tộc Hoa chiếm 4,08% còn lại là các dân tộc khác. Mật độ dân số 48.791 người/ km” đứng thứ 2/24 quận huyện. Địa giới hành chính được chia thành 15 phường, 51 khu phố và 666 tổ dân phố.

Quận 6 là quận ven ngoại thành, nằm về phía Tây Nam Thành phố ' Hồ Chí Minh, gồm 14 phường (74 Khu phố, 1293 tổ dân phó) với tổng diện tích tự nhiên là 7,14 km”, chiếm 0,34% tổng diện tích tự nhiên của toàn Thành phố. Dân số hiện nay của Quận là 247.212 người, mật độ bình quân 346 người/ha, trong đó nữ chiếm 53%. Về thành phần dân tộc thì đa số là người Kinh (chiếm 71,54%), kế đến là người Hoa chiếm 27,31%, ngoài ra còn một số khác như người Chăm, Khơme, Tày, Nùng. Quận 11 có tổng diện tích 513,58 ha, nằm ở Tây Nam thành phố.

Giáp quận Tân Bình ở phía Bắc và Tây Bắc, phía Đông giáp Quận 5,10, phía Nam và Tây Nam giáp ranh Quận 6. Tính đến cuối năm 2004, quận 11 có dân số là 229. Người Hoa có 403.189 người (tỷ lệ 44,89%), mật độ dân số trung bình là 44.722 người/km? , Quan Binh Thanh Diện tích : 2078 ha Dân số : 464397 người Dân tộc : 21 dân tộc, đa số là người Kinh Quận Bình Thạnh nằm về phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, ở vị trí cửa ngõ thành phố, là vùng đất có một vị trí chiến lược quan trọng. 12 Phía Đông Bắc giáp với quận 2 và Thủ Đức; ở phía Nam, Bình Thạnh và quận 1 cách nhau bởi con rạch Thị Nghè; về phía Tây - Tây Bắc giáp với quận Gò Vắp và Phú Nhuận.

Quận Bình Thạnh có sông Sài Gòn bao quanh mạn Đông Bắc. Cùng với sông Sài Gòn các kênh rạch: Thị Nghè, Cầu Bông, Văn Thánh, Thanh Đa, Hồ Tàu, Thủ Tắc. đã tạo thành một hệ thống đường thủy đáp ứng lưu thông cho xuồng, ghe nhỏ đi sâu vào các khu vực trên khắp địa bàn Bình Thạnh, thông thương với các địa phương khác. Quận Tân Phú Diện tích : 1.606 ha Dân số : 344.817 người năm 2004 Địa giới hành chính quận Tân Phú: Đông giáp quận Tân Bình; Tây giáp quận Bình Tân; Nam giáp các quận 6,11; Bắc giáp quận 12.

Quận Tân Phú phân chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường : Tân Sơn Nhì, Tây Thạnh, Sơn Kỳ, Tân Quý, Tân Thành, Phú Thọ Hòa, Phú Thạnh, Phú Trung, Hòa Thạnh, Hiệp Tân, Tân Thới Hòa. 13 ~ PHAN 3: KET QUA KHAO SAT CHUONG 3: DOI SONG NGUOI DAN SONG BANG XE TU CHE 3-4 BANH 3.1 CHAN DUNG NGUOI DAN SONG BANG XE TU'CHE 3 — 4 BANH 3.2 DO! SONG VAT CHAT VA TINH THAN CHUONG 4: LENH CAM XE TU CHE & NGUOI DAN SONG BANG XE TU’ CHÉ TẠI THÀNH PHÔ HỖ CHÍ MINH 4.1 THONG TIN VE LENH CAM LUU HANH XE TỰ CHẺ 3 - 4 BÁNH 4.2 ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI DẪN SÔNG BẰNG XE TỰ CHẾ 3 - 4 BANH VE LENH CAM 4.3 NHAN THUC CHAP HANH CUA NGUOI DAN KHI LENH CAM LUU HANH XE TU CHE DUOC THUC THI 4.4 MONG MUON CUA NGƯỜI DẪN SÓNG BANG XE TU CHE 3-4 BANH PHÀN 3. KÉT QUẢ KHẢO SÁT - CHƯƠNG 3. ĐỜI SÓNG NGƯỜI DÂN SÓNG BẰNG XE TỰ CHÉ 3 - 4 BÁNH 3.1 CHÂN DỤNG NGƯỜI DÂN SÓNG BẰNG XE TỰ CHÉ 3 & 4 BÁNH Chân dung người dân sống bằng xe tự chế 3 — 4 bánh được tôi phác hoạ ở đề tài này thông qua các chiều kích: đặc điểm xuất cư ( quê quán), trình độ học ván, giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, số lượng con cái, thời gian gắn bó với nghề ( xe tự chế ), thu nhập, chỉ tiêu cũng như thời gian người dân sống bằng xe tự chế dành cho công việc, giải trí và cả những khoản vay mượn mà họ có.1 QUÊ QUÁN Các miền trong đề tài này được phân chia theo phương án của viện chiến lược phát triển (đã điều chỉnh ranh giới 2001).

Hệ thống gồm 8 vùng tổng hợp từ 3 vùng chính: Miền Bắc kéo dài từ Hà Giang tới Ninh Bình bao gồm vùng Đông Bắc, Tây Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng. Miền Trung bao gồm vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ từ Thanh Hoá tới Khánh Hoà và vùng Tây Nguyên. Miền Nam gồm vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long, kéo dài từ Ninh Thuận tới Cà Mau. Nghiên cứu, tim hiểu nguồn gốc xuất thân của người dân nhằm giải đáp và so sánh có sự khác biệt giữa việc tiếp cận dịch vụ hay chỉ tiêu.

Theo mẫu khảo sát 100 người, tỉ lệ người miền Nam chiếm tỉ lệ cao nhất là 62%, trong đó đa phần họ đều là người dân sinh ra và*ớn lên tại thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ là 37%. Tï lệ người miền Bắc đứng thứ hai chiếm tỉ lệ 25%, người miền Trung là thắp nhất chiếm 13%. 14 Bảng 2: Quê quán „Quê quán “Tan số Tỷ lệ % Miễn Bắc 28 25.0 Nguôn: Kết quả khảo sát của đề tài, 5-2008 3.2 GIỚI TÍNH Do tính chất công việc gắn liền với việc điều khiển xe tự chế nên tỉ lệ nữ-giới tham gia vào lĩnh vực này là khiêm tốn hơn so với nam giới, nữ giới là 34%, nam giới là 66%. Việc sử dụng hay điều khiển xe tự chế cần có sức khoẻ tốt, mặt khác nữ giới là người “ chân yếu tay mềm ” nên tỉ lệ mẫu về : giới trong đề tài này là hoàn toàn hợp lí.

Theo các nhà nghiên cứu của trường Đại Học California ở Berkeley đã chứng minh sự khác biệt giữa nam và nữ về yếu tố sinh học cho biết: “Về giải phẫu, theo thống kê, tầm vóc trung bình của nam giới lớn hơn nữ giới khoảng 7%. Do đó, các mô, các cơ quan, hệ thống cơ và bộ não của phụ nữ cũng nhỏ hơn nam giới. Đây là những khác biệt có thể định lượng và đã được chứng minh. Một số nhà nghiên cứu khi xem xét các khác biệt được tạo ra từ sự khác biệt về giải phẫu, cho rằng sức khỏe thể chất và năng lực trí tuệ của nam giới vượt trội hơn so với nữ giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ