LỜI MỞ ĐẦU “Tnnh độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xẩ hội” là câu nói nổi tiếng của S.Furier, người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng đầu thế kỷ 19 ở nước Pháp. Câu nói này có ý nghĩa rằng phụ nữ chỉ thực sự được giải phóng trong xã hội có trình độ phát triển cao, trong xã hội đó sẽ công nhận vai trò, vị thé, sự đóng góp của những người phụ nữ một các tương xứng. Nước Việt Nam chúng ta đang trên con đường phát triển từ kinh tế, văn hóa xã hội, khi đất nước chuyển đổi nên kinh tế từ tập trung bao cấp sang nên kinh tế thị trường, bộ mặt cuộc sống người dân dần đần được thay đổi và cải thiện. Lần lượt những chính sách ra đời đã tạo thêm những động lực mới mạnh mẽ hơn cho sự phát triển xã hội.
Mỗi thành viên trong xã hội có nhiều cơ hội, thuận lợi mới để tham gia xây dựng phát triển kinh tế trước cho bản thân, sau giúp ích cho gia đình và xã hội, nữ giới cũng như. nam giới đều đứng trước những ngưỡng cửa thử thách và cơ hội mới. Đặc biệt là nữ giới với hàng trăm doanh nghiệp, công ty nữ ra đời, thành công và nỗi tiếng như Vinamilk, mỳ ăn liền, sản xuất kinh doanh, trang sức, mỹ nghệ vvv.có những người là chủ của những trang trại rộng lớn với hàng chục hàng trăm hécta. Sự đóng góp của họ quả là không nhỏ cho sự phát triển đất nước và xã hội.
Tuy nhiên, để có được sự thành công, để trở thành ngừơi chủ, người lãnh đạo công ty họ đã phải nỗ lực không ngừng, bởi định kiến, khuôn mẫu vai trò, trách nhiệm mà xã hội dành cho nữ giới. Trong khi đó, nam giới lại gặp rất nhiều thuận lợi cũng như sự cỗ vũ khích lệ của người thân và gia đình. Trong cùng vai trò, cương vị lãnh đạo, trách nhiệm, công việc, áp lực xét về chuyên môn nghề nghiệp thì có thể nam và nữ cân bằng nhau. Song trong những cơ hội tiếp cận mới, cũng như con đường khẳng định giá trị bản thân và xây dựng sự nghiệp cho bản thân thì nữ giới còn rất nhiều khó khăn và thiệt thòi.
Vậy những thiệt thi, khó khăn đó là gì? có thuận lợi nào? Giữa nam và Nữ trên con đường lập nghiệp, trong vai trò lãnh đạo có những yếu tế nào tác động ? Những yếu tổ đó có khác biệt giữa nam và nữ không? Có bất bình đăng giới không? Với hy vọng nam và nữ thật sự bình đẳng trên và trong vai trò lãnh đạo, cả - hai sẽ được tạo điều kiện thuận lợi và phát triển ngang bằng nhau trong cơ hội, vị thế và vai trò cao hơn trong sự nghiệp và cuộc sống. Đặc biệt là được xã hội thay đổi cách nhìn nhận về người phụ nữ cũng như công nhận, để cao sự đóng góp của. họ cho gia đình, xã hội và cho đất nước. PHAN 1: PHAN MO DAU I.
BOI CANH VAN DE NGHIEN CUU Bình đẳng giới, tăng cường, nâng-cao vị thế cho phụ nữ là một trong những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millenium Development Goals - viết tắt MDGs) đã được 189 nguyên thủ Quốc gia ký vào bản cam kết “Mục tiêu Phát triển Thiên niên ký” tháng 9 năm 2000 tại New York. Với những nỗ lực chính sách của mình, Chính Phủ Việt Nam kết hợp với sự giúp đỡ của các nhà tài trợ, trong 5 năm qua, đã đây mạnh tiến trình thực hiện MDGs cũng như mục tiêu phát triển của. Và đã đạt được những thành công đáng kế, là một trong những nhóm nước có thành tựu tốt nhất trong khu vực về Chỉ số phát triển giới, xếp thứ 87/144 quốc gia. Ngoài ra luật Bình Đăng Giới được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 là một minh chứng.
Bình đắng giới được cải thiện trong tất cả các lĩnh vực, như giáo dục và đào tạo, trong tỷ lệ nữ tham gia công tác quản lý, lãnh đạo từ Trung Ương đến địa phương và trong cả lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên vẫn còn rat nhiều khó khăn và thách thức trong việc thực hiện bình đẳng giới. Nữ giới dường như ít có cơ hội tiếp cận cơ hội đào tạo hơn nam, trong nghề nghiệp và mức lương cũng luôn thấp hơn nam và kể cả trong vai trò cương vị lãnh đạo cũng thua kém nam giới về điều kiện, cơ hội và số lượng. Trước khi đi tìm hiểu xem có những yếu tố nào dẫn đến sự bất bình đẳng trong vai trò lãnh đạo chúng ta điểm qua một số tài liệu, bài nghiên cứu có đề cập đến điều này.
11 DIEM LAI THU TICH 1.1 Bài viết “Giới và Việc làm Trên Thị Trường lao Động. Một số lý thuyết tiếp cận” trên Báo Khoa học về Phụ Nữ số 4 - năm 2005” của Ngô Tuấn Dung. Bài viết này tập trung một số lý thuyết chính dé cập đến sự tham gia của phụ nữ và nam giới trên thị trường lao động, về hiện tượng, bản chất, nguyên nhân tách biệt giới tính dẫn đến bất bình đăng trong việc làm. Ngoài ra còn đề cập đến một số quan điểm như quan điểm lý thuyết phụ nữ và giới (Barron R,1976.) nhấn mạnh các đặc điểm giới và các vị thế kinh tế xã hội, ảnh hưởng nhất định đến các cá nhân trong các nhóm nghề nghiệp hay lĩnh vực hoạt động, vị trí nam giới thường ưu trội hơn nữ trong bất kì lĩnh vực nào.
Ở đây, sự khác biệt giữa hai giới tính không nên hiểu một cách đơn giản, nghĩa là chí quy về sự tách biệt giữa các nhóm ngành nghề, hay vị trí tách biệt mà cần phải xem xét và đặt trong bối cảnh phát triển lịch sử tư bản chủ nghĩa và chế độ gia trưởng. Và quan điểm của nhóm tác giả thuyết nữ x À quyền vẻ “hệ thống kép” tư bản và gia trưởng như Einstein, 1979: Delphy, 1984; Hartman, 1979, walby, 1986 tập trung phân tích nền tảng của “chuyên biệt vai trò” trong gia đình với tư cách là yếu tế quan trọng đối với tách biệt cung lao động trong đó, chế độ gia trưởng chính là cơ sở phân chia lao động trong gia đình.chính hệ thống thứ bậc giới và chủng tộc sẽ quyết định ai sẽ chiếm vị trí cao. Niềm tin về hệ thống, thứ bậc, địa vị, tuổi tác.sẽ quyết định các thức và nội dung tương tác xã hội; niềm tin vào vai trồ giới tính sẽ ảnh hưởng đến quyền lực và sự hiện điện của nữ hay nam ở lĩnh vực hoạt động nao do. Bài viết “Nữ Quản Lý Đại Học ở Một Số Nước Trên Thế Giới” của Trần Thị Bạch Mai bài viết đề cập đến vì sao sự tham gia hạn chế của nữ trong hoạt động quản lý và là vấn dé phô biến với các trường Đại Học.
Có nhiều các tiếp cận như quan điểm “tiếp cận quy về cá nhân” quan điểm này cho rằng chính phụ nữ với những quan điểm khiếm khuyết của mình đã tạo nên rào cản của bản thân, rằng nếu phụ nữ thay đổi quan niệm, cách nghĩ của bản thân, thì rào cản sẽ được giải quyết. Vì vậy giải pháp duy nhất là bù đắp các “khiếm khuyết” của phụ nữ. Trong cách tiếp cận này có ba mô hình Mô hình cản trở nội tại: cản trở nằm bên trong từ phía chủ quan phụ nữ. Do tác động qua quá trình xã hội hóa và định kiến giới, các cản trở nội tại trong bản thân người phụ nữ đã kiểm chế họ.
Tâm lý thiếu tự tin va ty ti - khiến phụ nữ nghĩ mình kém cỏi, không có khả năng trở thành quản lý, tâm lý này vẫn ám ảnh cả những phụ nữ đang ở trong cương vị lãnh đạo khi lý giải sự thành đạt của mình là do may mắn. Ngoài ra, phụ nữ bị cho là thiếu động cơ làm việc, thiếu phẫn đấu vươn lên, thiếu chí tiến thủ, thiếu sự hy sinh hết mình vì công việc. Mô hình này hơi phiến diện và máy móc vì những mặc cảm thiếu tự tin.vì đây là do ảnh hưởng của tư tưởng xã hội Mô hình vị trí phụ nữ: cho là phụ nữ thường tự cho mình và bị cho là không có khả năng làm quản lý cũng như vị trí quản lý không phải dành cho họ. Đây là hậu quả của quá trình xã hội hóa.
Nam thường được hình dung như người lãnh đạo. Ảnh hướng này còn ảnh hưởng đến sự phân công công việc, kế cả khi họ làm quản lý. ` ` ~ x Mô hình năng lực: cho răng môi cá nhân được để bạt vào vị rí nào đó là căn cứ vào năng lực và trình độ của họ, như vậy phụ nữ không được lựa chọn vào vị trí quản lý họ trình độ họ không bằng nam giới Quan điểm tiếp cận quy về cơ chế tổ chức. Theo quan điểm tiếp cận này, sự thành công không chỉ phụ thuộc vào động cơ cá nhân mả còn chịu sự - tác động của cơ hội phát triển và thăng tiến và cá nhân có trong tổ chức Quan điểm tiếp cận quy về định kiến giới, theo quan điểm này dự định kiến và phân biệt giới tạo nên bởi xã hội và ảnh hưởng đến quan niệm của cá nhân về vai trò, vị trí và kỳ vọng đôi với nam giới và phụ nữ.13 Bài viết “Phụ Nữ Trong Đỗi Mới: Thành Tựu Và Thách Thức” của Lê "Thị Qúy trong báo Khoa Học Về Phụ Nữ số I năm 2006 cho rằng sy phat triển của nền kinh tế thị trường đã tạo ra những thuận lợi cho sự phát triển của phụ nữ song cũng nảy sinh ra nhiều thách thức mới.
Đó là những thiệt thời liên quan tới điều kiện và thời gian lao động, tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với lao động nữ trong các khu vực kinh tế khác nhau. Ngoài ra sự khác biệt giới tính và tình trạng phân công lao động bất bình đăng trong gia đình còn phổ biến cũng đã đưa đến cho phụ nữ những thiệt thòi, bất công. Nhất là trong thị trường lao động phái nữ Khó cạnh tranh được với nam giới là những người thường có sức khỏe, trình độ cao hơn và thường rảnh rang hơn trong các chức năng sản xuất và tái sản xuất 1.14 Bài viết “ Nghị Quyết Của Đảng Và Thực Tiễn Cuộc Sống Về Năng Lực Lãnh Đạo Của Cán Bộ Nữ Trong Hệ Thống Chính Trị? cuả Võ Thị Mai trong tạp chí Khoa Học Xã Hội số 4 năm 2007 có đề cập đến những nguyên nhân gây cản trở sự thăng tiến của phụ nữ như nhận thức quan niệm về lãnh đạo, quản lý, bất bình đẳng giới và những rào cản văn hóa, truyền thống, tập tục phong kiến ảnh hưởng rất sâu đậm trong suy nghĩ của mọi người.