Tổng quan nghiên cứu

Tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, động lực giảng dạy của giảng viên đóng vai trò quyết định đối với hơn 70% chất lượng tiếp thu kiến thức và kết quả học tập của sinh viên. Tuy nhiên, tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc, 100% trong tổng số 7 giảng viên tiếng Anh tham gia khảo sát đều phản ánh tình trạng suy giảm động lực làm việc nghiêm trọng trước định mức giảng dạy bắt buộc lên tới 560 tiết/năm (gấp đôi so với mức chuẩn 270 đến 280 tiết/năm ở nhiều trường đại học) cùng áp lực quản lý các lớp học tích hợp từ 50 đến 70 sinh viên.

Hiện tượng mất động lực (demotivation) của giáo viên dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) là rào cản tiêu cực làm suy giảm sự cam kết nghề nghiệp, gia tăng mức độ kiệt sức và dẫn đến nguy cơ dịch chuyển nhân sự chất lượng cao. Đề tài tập trung giải quyết 3 mục tiêu cốt lõi:

  • Nhận diện các yếu tố gây mất động lực đặc thù ở giảng viên EFL tại cơ sở đào tạo nghề;
  • Xác định mức độ ảnh hưởng và phân cấp thứ tự tác động của từng tác nhân tiêu cực;
  • Đo lường sự khác biệt về trải nghiệm mất động lực giữa nhóm giảng viên nam và nữ.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2014 tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc. Đóng góp của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về hiện tượng mất động lực của giáo viên ngoại ngữ tại Việt Nam, mang lại hệ thống chỉ số định lượng đáng tin cậy hỗ trợ các nhà quản trị giáo dục xây dựng chiến lược cải thiện môi trường làm việc và nâng cao hiệu quả giảng dạy ngoại ngữ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình Động lực học tập ngôn ngữ xã hội - giáo dục của Gardner (1985) kết hợp với hệ thống lý thuyết về sự mất động lực của Dörnyei (2001, 2005). Theo Dörnyei, mất động lực được định nghĩa là các xung lực bên ngoài làm suy giảm hoặc triệt tiêu nền tảng động lực ban đầu của một hành vi hay một kế hoạch hành động. Lý thuyết phân biệt rõ ràng giữa trạng thái suy giảm động lực (demotivation - chịu tác động tiêu cực từ các nhân tố can thiệp) và mất hoàn toàn động lực (amotivation - trạng thái không có bất kỳ kỳ vọng nào về kết quả hành động).

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp Thuyết tự quyết của Deci và Ryan (1985) nhằm phân tích sự tương tác giữa động lực nội tại (intrinsic motivation) và động lực ngoại sinh (extrinsic motivation), đồng thời ứng dụng Mô hình định hướng theo tiến trình của Dörnyei và Ottó (1998) với 3 giai đoạn: trước hành động, trong hành động và sau hành động. Khung lý thuyết tập trung vào 4 khái niệm then chốt:

  • Năng lực tự định vị bản thân (Self-efficacy)
  • Quyền tự chủ trong giảng dạy (Teacher autonomy)
  • Tác nhân gây tiêu cực nghề nghiệp (Demotivators)
  • Môi trường tâm lý - tổ chức (Organizational climate)

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế khảo sát kết hợp định lượng và định tính (mixed-methods survey design):

  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Khảo sát toàn bộ 7 giảng viên tiếng Anh (3 nam và 4 nữ) đang trực tiếp công tác tại trường. Độ tuổi dao động từ 25 đến 45 tuổi; 4 giảng viên có thâm niên từ 10 đến 15 năm, 3 giảng viên có thâm niên từ 3 đến 7 năm. Mẫu nghiên cứu mang tính đại diện tuyệt đối cho toàn bộ đội ngũ giáo viên EFL tại đơn vị khảo sát.
  • Công cụ thu thập dữ liệu: Bảng hỏi Likert 5 mức độ gồm 37 câu hỏi chia thành 3 nhóm lớn (Yếu tố người học: 8 biến; Môi trường làm việc: 25 biến thuộc 5 tiểu mục; Đời sống cá nhân: 4 biến) và 1 câu hỏi mở. Song song đó là 7 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc (5 cuộc phỏng vấn trực tiếp từ 15 đến 20 phút và 2 cuộc phỏng vấn từ xa qua thư điện tử/điện thoại đối với các giáo viên chuyển trường) nhằm đào sâu ngữ cảnh thực tế.
  • Phương pháp phân tích: Dữ liệu định lượng được xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 16 để tính toán điểm trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (Standard Deviation). Kiểm định phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) với mức ý nghĩa thống kê p < 0.05 được áp dụng nhằm kiểm tra sự khác biệt giữa hai giới tính. Dữ liệu phỏng vấn được mã hóa theo chủ đề để diễn giải các nguyên nhân ẩn sâu phía sau các con số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ thang đo Likert 5 điểm cho thấy bức tranh chi tiết về các tác nhân gây mất động lực cho giáo viên EFL:

  • Phân nhóm theo 3 chủ đề lớn: Nhóm yếu tố liên quan đến người học xếp ở vị trí đầu tiên với điểm trung bình Mean = 3.27, theo sát là nhóm Môi trường làm việc (Mean = 3.15) và Khía cạnh cá nhân (Mean = 3.12).

  • Phân nhóm theo 8 tiểu mục chi tiết: Đời sống chuyên môn gây ức chế cao nhất với Mean = 3.61, tiếp đến là Áp lực hành chính (Mean = 3.46), Khối lượng công việc (Mean = 3.43), Yếu tố học viên (Mean = 3.27), Cơ sở vật chất và học liệu (Mean = 3.02), Tiền lương/thu nhập (Mean = 2.76), Quan hệ đồng nghiệp (Mean = 2.57) và Đời sống gia đình (Mean = 2.43).

  • Top 6 yếu tố gây mất động lực nghiêm trọng nhất:

    1. Gánh nặng trách nhiệm khi sinh viên đạt điểm thấp: Mean = 4.71 (Độ lệch chuẩn SD = 0.488)
    2. Phải kiêm nhiệm quá nhiều nhiệm vụ ngoài chuyên môn: Mean = 4.14 (SD = 0.900)
    3. Trình độ chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu dạy tiếng Anh chuyên ngành bậc cao đẳng: Mean = 4.14 (SD = 0.900)
    4. Sinh viên thường xuyên quên làm bài tập về nhà: Mean = 4.00 (SD = 0.816)
    5. Cơ sở vật chất phòng học thiếu thốn trang thiết bị: Mean = 3.86 (SD = 1.069)
    6. Sĩ số lớp học quá đông và trình độ học viên không đồng đều: Mean = 3.71 (SD = 1.113)
  • Khác biệt giới tính qua kiểm định One-way ANOVA:

    • Yếu tố thu nhập thấp: Giảng viên nữ chịu tác động tiêu cực với Mean = 4.25 so với nam giới Mean = 1.67 (p = 0.000, chênh lệch 2.58 điểm).
    • Phải dạy nhiều giáo án khác nhau cùng lúc: Nữ giới đạt Mean = 4.25 so với nam giới Mean = 1.00 (p = 0.001).
    • Tốn thời gian viết tay giáo án: Nữ giới đạt Mean = 4.00 trong khi nam giới chỉ đạt Mean = 1.00 (p = 0.003).
    • Thiếu thời gian dành cho gia đình: Nữ giới đạt Mean = 4.25, cao hơn hẳn nam giới Mean = 1.67 (p = 0.004).
    • Lớp học quá đông đa trình độ: Nữ giới chịu áp lực Mean = 4.50 so với nam giới Mean = 2.67 (p = 0.009).
    • Học sinh mất tập trung trong giờ học: Nữ giới đánh giá Mean = 3.75 so với nam giới Mean = 2.00 (p = 0.045).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa qua hệ thống bảng thống kê mô tả (Bảng 3.1 đến 3.6 trong luận văn) và mô hình hóa qua biểu đồ cột thể hiện giá trị trung bình giữa các tiểu mục. Biểu đồ cột minh họa rõ sự vượt trội của các yếu tố thuộc về thể chế quản lý so với các yếu tố quan hệ xã hội.

Mức độ ảnh hưởng của các tiểu mục gây mất động lực (Thang điểm 1 - 5):
Đời sống chuyên môn   : [====================] 3.61
Áp lực hành chính     : [=================== ] 3.46
Khối lượng công việc  : [=================== ] 3.43
Yếu tố học viên       : [==================  ] 3.27
Cơ sở vật chất        : [=================   ] 3.02
Thu nhập / Tiền lương : [===============     ] 2.76
Quan hệ đồng nghiệp   : [==============      ] 2.57
Đời sống gia đình     : [=============       ] 2.43

Sự chênh lệch sâu sắc giữa hai nhóm giới tính bắt nguồn từ vị trí công tác thực tế: 100% giảng viên nam (3 người) giữ cương vị quản lý (Trưởng khoa, Phó Giám đốc trung tâm) nên được hưởng phụ cấp chức vụ và định mức giảng dạy chỉ 2 đến 3 tiết/tuần. Ngược lại, 4 giảng viên nữ đều đảm nhiệm vai trò giáo viên chủ nhiệm lớp nghề, phải có mặt 8 tiếng mỗi ngày tại văn phòng, thực hiện định mức 560 tiết/năm, kiêm nhiệm công tác tuyển sinh, viết bài website và trực tiếp xử lý các vụ việc học sinh vi phạm kỷ luật.

Về cơ sở vật chất, dữ liệu phỏng vấn phản ánh phòng Lab chuyên dụng đã hỏng hóc 5 năm không sử dụng; phòng học tầng cao vào mùa hè chịu nhiệt độ 37 đến 38°C không có điều hòa, nhiều quạt trần hư hỏng. Những phát hiện này tương đồng với các nghiên cứu của Sugino (2010) tại Nhật Bản và Siti Sari (2013) tại Indonesia. Tuy nhiên, luận văn đã phát hiện 2 tác nhân mới mang tính đặc thù cao tại Việt Nam: hình thức kỷ luật/phê bình công khai khi sinh viên thi trượt (Mean = 4.71) và gánh nặng kiêm nhiệm công việc phi chuyên môn (Mean = 4.14).

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các tác nhân gây mất động lực, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Điều chỉnh định mức giảng dạy và số hóa giáo án: Ban Giám hiệu nhà trường cần ban hành quy chế mới, giảm định mức giảng dạy từ 560 tiết/năm về mức chuẩn 270 đến 280 tiết/năm theo khung quy định chung của ngành giáo dục trong thời hạn 6 tháng. Bãi bỏ hoàn toàn yêu cầu viết tay giáo án, cho phép 100% giảng viên soạn thảo giáo án điện tử nhằm tiết kiệm khoảng 10 đến 15 giờ làm việc mỗi tuần.
  2. Nâng cấp hạ tầng công nghệ và học liệu chuyên ngành: Phòng Quản trị thiết bị triển khai gói sửa chữa trong quý 3 năm 2014 để đưa phòng Lab Labear vào vận hành trở lại; trang bị điều hòa và hệ thống âm thanh chuẩn cho 100% phòng học ngoại ngữ. Thư viện trường cần bổ sung tối thiểu 50 đầu sách đọc tiếng Anh, đĩa CD/VCD tương tác và phần mềm học liệu số.
  3. Giảm quy mô lớp học và phân hóa đối tượng đầu vào: Phòng Đào tạo tái cấu trúc lịch học, chia tách các lớp gộp 50 đến 70 sinh viên xuống quy mô chuẩn 25 đến 30 sinh viên/lớp trong năm học mới. Tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh đầu vào để phân lớp theo trình độ thực tế, chấm dứt việc ghép chung sinh viên nhiều chuyên ngành vào cùng một lớp.
  4. Hỗ trợ tài chính bồi dưỡng chuyên môn và đổi mới cơ chế đánh giá: Nhà trường cam kết hỗ trợ 100% kinh phí và bố trí thời gian cho 6 giảng viên chưa có bằng cấp chính quy theo học các chương trình thạc sĩ Phương pháp giảng dạy tiếng Anh (ELT/TESOL) và tiếng Anh chuyên ngành (ESP). Xóa bỏ hình thức phê bình cá nhân khi sinh viên có điểm số thấp, thay thế bằng cơ chế đánh giá sự tiến bộ dựa trên hồ sơ học tập đa chiều.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Giám hiệu và Cán bộ Quản lý trường nghề: Cung cấp góc nhìn thực tiễn và bộ chỉ số định lượng để xây dựng chính sách phân công lao động, định mức tiết dạy và cơ chế đãi ngộ hợp lý cho giảng viên cơ hữu.
  • Giảng viên Ngoại ngữ tại các trường Cao đẳng, Đại học: Giúp giáo viên nhận diện các nguyên nhân cốt lõi gây suy giảm nhiệt huyết, từ đó áp dụng các kỹ thuật tự tạo động lực (self-motivation) và cân bằng giữa áp lực công việc với đời sống cá nhân.
  • Nhà nghiên cứu Giáo dục và Học viên Cao học ngành ELT/TESOL: Cung cấp bộ công cụ điều tra 37 biến số chuẩn hóa và khung quy trình phân tích SPSS/ANOVA làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về tâm lý học giáo dục.
  • Chuyên viên Phát triển Chương trình và Khảo thí: Hỗ trợ việc thiết kế chương trình đào tạo tiếng Anh chuyên ngành phù hợp với năng lực thực tế của sinh viên khối trường kỹ thuật - kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào gây mất động lực nặng nề nhất cho giảng viên EFL tại VTEC? Tác nhân hàng đầu là việc giáo viên phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả thi kém của sinh viên (Mean = 4.71/5.00). Khi sinh viên thi trượt, giảng viên bị nêu tên phê bình trong các cuộc họp hội đồng và phải viết báo cáo giải trình, tạo ra áp lực tâm lý căng thẳng kéo dài.

Vì sao có sự chênh lệch lớn về mức độ mất động lực giữa giảng viên nam và nữ? Kiểm định ANOVA chỉ ra mức sai biệt có ý nghĩa thống kê về thu nhập (p = 0.000) và áp lực soạn bài (p = 0.001). Ba giảng viên nam giữ chức vụ quản lý nên có phụ cấp cao và chỉ dạy 2 đến 3 tiết/tuần, trong khi 4 giảng viên nữ phải chủ nhiệm lớp nghề, dạy 560 tiết/năm và gánh vác việc gia đình.

Điều kiện cơ sở vật chất ảnh hưởng như thế nào đến tâm lý giảng dạy? Phòng học thiếu điều hòa với nhiệt độ mùa hè lên tới 37 đến 38°C cùng phòng Lab hỏng 5 năm không thể sử dụng đạt điểm tiêu cực Mean = 3.86. Môi trường ngột ngạt làm suy kiệt thể lực của cả thầy lẫn trò, triệt tiêu hứng thú đối với các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ.

Quy mô lớp học tiếng Anh tại trường đang gặp phải bất cập gì? Nhà trường thường gộp 2 lớp chuyên ngành khác nhau vào một giảng đường với sĩ số lên tới 50 đến 70 sinh viên đa trình độ (Mean = 3.71, riêng nhóm nữ đánh giá Mean = 4.50). Quy mô này khiến giáo viên không thể tổ chức thảo luận nhóm hay hỗ trợ cá nhân hóa cho học viên yếu.

Đóng góp mới của đề tài so với y văn quốc tế là gì? Bên cạnh việc củng cố các phát hiện về tình trạng sinh viên lười làm bài tập (Mean = 4.00), nghiên cứu đã phát hiện 2 tác nhân đặc thù chưa từng được công bố trong các nghiên cứu trước đây: gánh nặng công việc kiêm nhiệm hành chính ngoài chuyên môn (Mean = 4.14) và chế tài xử phạt giáo viên theo điểm số của người học (Mean = 4.71).

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa toàn diện thực trạng mất động lực của 100% đội ngũ giảng viên EFL tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc thông qua 37 biến số khảo sát chuyên sâu.
  • Xác lập 3 rào cản tiêu cực lớn nhất: trách nhiệm giải trình điểm số sinh viên (Mean = 4.71), khối lượng công việc kiêm nhiệm quá tải (Mean = 4.14) và sự tự ti về năng lực giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành (Mean = 4.14).
  • Làm sáng tỏ sự bất bình đẳng giới qua kiểm định One-way ANOVA (p < 0.01), chỉ ra áp lực đa tầng mà các giảng viên nữ đang phải gánh chịu từ thu nhập đến việc viết tay giáo án.
  • Vạch rõ những yếu kém về hạ tầng khi phòng Lab ngoại ngữ bị bỏ hoang 5 năm và sĩ số lớp học nghề vượt ngưỡng 50 đến 70 người.
  • Đề xuất lộ trình 4 bước khả thi nhằm chuẩn hóa định mức 270 đến 280 tiết/năm, số hóa hồ sơ bài giảng và cấp kinh phí bồi dưỡng nâng chuẩn thạc sĩ cho giáo viên.

Nghiên cứu là công trình tiên phong lấp đầy khoảng trống dữ liệu về hiện tượng mất động lực của giáo viên ngoại ngữ tại Việt Nam. Các cơ sở đào tạo và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác bộ công cụ bảng hỏi Likert và ma trận dữ liệu SPSS của luận văn để mở rộng quy mô khảo sát trên toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp.