Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, các bệnh lý nhiễm khuẩn hiện chiếm tỷ lệ mắc rất cao trong cơ cấu bệnh tật điều trị nội trú, đứng hàng thứ hai chỉ sau các bệnh lý tim mạch. Trong đó, viêm phổi mắc phải ở cộng đồng là bệnh lý nhiễm khuẩn hô hấp phổ biến nhất, chiếm khoảng 12% tổng số các bệnh lý về phổi và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh truyền nhiễm. Việc sử dụng kháng sinh hợp lý đóng vai trò quyết định đến hiệu quả lâm sàng, tuy nhiên tình trạng gia tăng đề kháng kháng sinh đang là thách thức nghiêm trọng đối với hệ thống y tế. Nhằm kiểm soát thực trạng này, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 772/QĐ-BYT và Quyết định số 5631/QĐ-BYT hướng dẫn thiết lập chương trình quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện.

Dù vậy, tại các cơ sở y tế tuyến huyện, việc triển khai chương trình quản lý kháng sinh còn gặp nhiều rào cản và chưa được đánh giá định lượng một cách toàn diện. Trung tâm Y tế huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ là đơn vị sự nghiệp y tế công lập hạng I với quy mô 500 giường bệnh kế hoạch, công suất sử dụng giường bệnh thường xuyên đạt 100% đến 105%, tiếp nhận từ 110.000 đến hơn 120.000 lượt khám bệnh mỗi năm.

Nghiên cứu được tiến hành nhằm phân tích thực trạng tiêu thụ kháng sinh nội trú giai đoạn 2020-2021 và đánh giá tính hợp lý trong kê đơn kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng trên 125 bệnh nhân nội trú từ tháng 6/2021 đến tháng 9/2021. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng định lượng thông qua chỉ số đo lường chuẩn hóa, tạo cơ sở khoa học giúp tối ưu hóa phác đồ điều trị, nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh và giảm thiểu áp lực đề kháng kháng sinh tại tuyến cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của hai khung lý thuyết và hướng dẫn thực hành lâm sàng chuẩn mực:

Thứ nhất, khung chương trình quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Khung lý thuyết này tập trung vào các trụ cột cốt lõi: xây dựng hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, giám sát tiêu thụ kháng sinh định kỳ, tối ưu hóa chế độ liều theo dược động học và dược lực học (PK/PD), và thực hiện các biện pháp can thiệp lâm sàng nhằm nâng cao tính hợp lý khi chỉ định thuốc.

Thứ hai, hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học và Đơn vị Liều xác định hàng ngày (ATC/DDD) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Phương pháp này giúp chuẩn hóa dữ liệu tiêu thụ thuốc độc lập với sự biến động về giá cả, hàm lượng và dạng bào chế.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm và công cụ chuyên ngành bao gồm: thang điểm phân tầng mức độ nặng CURB-65 theo Quyết định số 4815/QĐ-BYT của Bộ Y tế, tiêu chuẩn nhập khoa hồi sức tích cực của Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ và Hiệp hội Bệnh lý Nhiễm trùng Hoa Kỳ (ATS/IDSA 2019), cùng hướng dẫn đánh giá chức năng thận theo mức lọc cầu thận của Tổ chức Cải thiện Kết quả Điều trị Bệnh Thận Toàn cầu (KDIGO 2012).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế kết hợp giữa hai phương pháp:

Mục tiêu một sử dụng phương pháp mô tả hồi cứu phân tích định lượng toàn bộ dữ liệu tiêu thụ kháng sinh của bệnh nhân điều trị nội trú tại tất cả các khoa lâm sàng (ngoại trừ khoa Nhi) trong giai đoạn 2 năm từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2021. Dữ liệu được trích xuất trực tiếp từ phần mềm quản lý dược bệnh viện và đối chiếu với số liệu ngày nằm viện thực tế từ phòng Kế hoạch tổng hợp.

Mục tiêu hai sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang thông qua hồi cứu bệnh án. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 125 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên được chẩn đoán xác định viêm phổi mắc phải ở cộng đồng trong vòng 48 giờ sau khi nhập viện và điều trị nội trú từ ngày 01/06/2021 đến ngày 30/09/2021. Nghiên cứu loại trừ các trường hợp nằm viện dưới 3 ngày, bệnh nhân tử vong, chuyển tuyến, mắc đồng thời từ 2 ổ nhiễm khuẩn trở lên hoặc mắc lao phổi.

Lý do lựa chọn phương pháp đo lường DDD/100 ngày nằm viện là nhằm tạo ra thước đo chuẩn hóa có khả năng so sánh xu hướng tiêu thụ thuốc qua các năm và giữa các khoa lâm sàng khác nhau. Dữ liệu lâm sàng được phân tích bằng công thức Cockcroft-Gault để đánh giá độ thanh thải creatinin và đối chiếu phác đồ với hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế năm 2020. Số liệu được quản lý và xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ tiêu thụ kháng sinh toàn viện có xu hướng gia tăng nhẹ qua hai năm, với tổng số liều xác định hàng ngày đạt 55,4 DDD/100 ngày nằm viện trong năm 2020 và tăng lên 56,2 DDD/100 ngày nằm viện trong năm 2021. Mức tiêu thụ trung bình của toàn bộ giai đoạn 2020-2021 đạt 54,2 DDD/100 ngày nằm viện.

Thứ hai, nhóm cephalosporin chiếm tỷ trọng tiêu thụ áp đảo tuyệt đối ở mức 28,9 DDD/100 ngày nằm viện ở cả hai năm 2020 và 2021, đóng góp hơn 50% tổng lượng kháng sinh sử dụng nội trú. Trong nhóm này, cephalosporin thế hệ 3 chiếm ưu thế vượt trội với mức tiêu thụ cao gấp 3 đến 4 lần so với các phân nhóm cephalosporin khác, trong khi cephalosporin thế hệ 1 được sử dụng rất ít. Nhóm fluoroquinolon đứng thứ hai với mức tiêu thụ trung bình 11,5 DDD/100 ngày nằm viện, tiếp theo là nhóm penicillin (7,7 DDD/100 ngày nằm viện) và nitro-imidazol (5,2 DDD/100 ngày nằm viện). Các nhóm kháng sinh dự trữ như carbapenem và glycopeptid có tỷ lệ tiêu thụ rất thấp, chỉ khoảng 0,1 DDD/100 ngày nằm viện.

Thứ ba, xét theo từng hoạt chất cụ thể, cefoperazon đường tiêm tĩnh mạch là kháng sinh có lượng tiêu thụ lớn nhất toàn viện với 13,5 DDD/100 ngày nằm viện trong cả giai đoạn, tiếp theo là ciprofloxacin đường uống (6,6 DDD), cefamandol đường tiêm (3,9 DDD) và ceftriaxon đường tiêm (3,6 DDD). Đáng chú ý, levofloxacin bắt đầu được đưa vào sử dụng từ tháng 3/2021 và tăng nhanh từ 0,3 lên 4,0 DDD/100 ngày nằm viện vào tháng 12/2021.

Thứ tư, tiêu thụ kháng sinh có sự phân hóa rõ rệt giữa các khoa lâm sàng. Khoa Ngoại tổng hợp ghi nhận mật độ tiêu thụ cao nhất với 89,5 DDD/100 ngày nằm viện trong giai đoạn 2020-2021 (tăng từ 80,0 năm 2020 lên 100,0 năm 2021). Khoa Cấp cứu - Hồi sức tích cực - Thận nhân tạo đứng thứ hai với 69,3 DDD/100 ngày nằm viện, kế tiếp là khoa Nội tổng hợp với 62,6 DDD/100 ngày nằm viện. Ngược lại, khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản có mức tiêu thụ là 34,2 DDD/100 ngày nằm viện (chủ yếu là penicillin), và khoa Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng có mức tiêu thụ thấp nhất (0,5 DDD/100 ngày nằm viện).

Thứ năm, trên mẫu nghiên cứu 125 bệnh nhân viêm phổi cộng đồng, độ tuổi trung bình là 62,5 ± 19,2 tuổi, trong đó người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên chiếm 49,6%. Bệnh nhân nam chiếm 52,8% và nữ chiếm 48,8%. Thời gian điều trị nội trú trung vị là 9 ngày (dao động từ 8 đến 11 ngày). Về kết quả điều trị, tỷ lệ hồi phục tích cực đạt 97,6% (khỏi bệnh 29,6% và đỡ, giảm triệu chứng 68,0%), tỷ lệ không thay đổi là 2,4% và không ghi nhận trường hợp nào tử vong.

Thảo luận kết quả

Mô hình tiêu thụ kháng sinh tại Trung tâm Y tế huyện Cẩm Khê phản ánh rõ nét thực trạng kê đơn tại các bệnh viện tuyến huyện ở Việt Nam, nơi các kháng sinh phổ rộng thuộc nhóm cephalosporin thế hệ 3 và fluoroquinolon luôn chiếm tỷ lệ chủ đạo. Sự phụ thuộc lớn vào cefoperazon và ceftriaxon xuất phát từ thói quen lựa chọn phác đồ kinh nghiệm bao phủ rộng các chủng vi khuẩn Gram âm đường ruột và vi khuẩn đường hô hấp khi chưa có đầy đủ kết quả kháng sinh đồ. Điều này tương đồng với các nghiên cứu đa trung tâm tại Việt Nam ghi nhận tỷ lệ sử dụng cephalosporin nội trú thường dao động từ 65% đến hơn 70%.

Dữ liệu tiêu thụ thuốc có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ đường thể hiện biến thiên DDD theo từng tháng và biểu đồ cột so sánh cơ cấu nhóm thuốc giữa các khoa phòng. Cách trình bày này làm nổi bật rõ sự khác biệt giữa khối ngoại khoa (nơi cefoperazon và metronidazol chiếm ưu thế trong điều trị dự phòng và nhiễm khuẩn phối hợp) với khối nội khoa và hồi sức cấp cứu.

Tỷ lệ 49,6% người bệnh viêm phổi từ 65 tuổi trở lên với thời gian nằm viện trung bình 9 ngày giải thích cho việc ưu tiên dùng kháng sinh đường tiêm tĩnh mạch ban đầu. Tuy nhiên, việc tỷ lệ chuyển đổi từ kháng sinh đường tiêm sang đường uống còn hạn chế cho thấy sự cần thiết phải đẩy mạnh hơn nữa vai trò can thiệp của dược sĩ lâm sàng nhằm rút ngắn thời gian dùng đường tiêm không cần thiết, giảm chi phí điều trị và nguy cơ nhiễm khuẩn huyết khối liên quan đến catheter.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp trọng tâm:

  1. Thiết lập quy chế kiểm soát và phê duyệt kháng sinh ưu tiên quản lý: Hội đồng Thuốc và Điều trị phối hợp với khoa Dược ban hành danh mục kháng sinh cần hội chẩn trước khi kê đơn (đặc biệt là cephalosporin thế hệ 3, fluoroquinolon hô hấp và carbapenem). Đặt mục tiêu giảm 15% đến 20% lượng tiêu thụ cephalosporin thế hệ 3 không hợp lý trong vòng 12 tháng tại các khoa có mức tiêu thụ cao như Ngoại tổng hợp và Nội tổng hợp.

  2. Chuẩn hóa quy trình chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống: Ban Giám đốc trung tâm phê duyệt và triển khai hướng dẫn chuyển đổi kháng sinh đường tiêm sang đường uống (IV-PO switch) đối với các trường hợp bệnh nhân viêm phổi cộng đồng đã ổn định lâm sàng sau 48 đến 72 giờ điều trị. Dược sĩ lâm sàng thực hiện rà soát bệnh án hàng ngày, hướng tới mục tiêu đạt trên 80% bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được chuyển đổi phác đồ đúng thời điểm trong lộ trình 6 tháng.

  3. Tăng cường hiệu chỉnh liều theo chức năng thận: Khoa Dược xây dựng công cụ hỗ trợ tính toán độ thanh thải creatinin tự động tích hợp trên phần mềm quản lý bệnh viện. Bác sĩ điều trị và dược sĩ lâm sàng phối hợp hiệu chỉnh liều khởi đầu và khoảng cách đưa thuốc cho 100% bệnh nhân cao tuổi hoặc có suy giảm chức năng thận ngay khi có kết quả xét nghiệm sinh hóa.

  4. Nâng cao năng lực vi sinh và giám sát sử dụng thuốc định kỳ: Trung tâm Y tế huyện Cẩm Khê đầu tư nâng cấp trang thiết bị phòng xét nghiệm vi sinh, phấn đấu nâng tỷ lệ nuôi cấy đờm và làm kháng sinh đồ trước liều kháng sinh đầu tiên lên tối thiểu 40% ở bệnh nhân viêm phổi nội trú trong 2 năm tới. Phòng Kế hoạch tổng hợp định kỳ 3 tháng một lần báo cáo chỉ số DDD/100 ngày nằm viện để phản hồi kịp thời cho các khoa lâm sàng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng từ luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Bác sĩ điều trị chuyên ngành Nội khoa, Hồi sức cấp cứu và Ngoại khoa: Nắm bắt bức tranh tổng thể về mô hình đề kháng vi khuẩn tại địa phương, từ đó tối ưu hóa việc lựa chọn phác đồ kinh nghiệm theo phân tầng CURB-65 và quyết định thời điểm chuyển đổi kháng sinh tiêm - uống an toàn cho người bệnh.

  2. Dược sĩ lâm sàng và thành viên Hội đồng Thuốc và Điều trị: Ứng dụng quy trình tính toán chỉ số DDD/100 ngày nằm viện chuẩn hóa theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới để thiết lập hệ thống giám sát tiêu thụ kháng sinh định kỳ tại cơ sở y tế tuyến huyện và tuyến tỉnh.

  3. Nhà quản lý y tế và Ban Giám đốc các cơ sở khám chữa bệnh: Sử dụng các số liệu thực chứng của luận văn làm căn cứ xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về quản lý kháng sinh, phân bổ ngân sách mua sắm thuốc hợp lý và thiết lập chính sách can thiệp dược lâm sàng hiệu quả.

  4. Học viên sau đại học, sinh viên ngành Y - Dược và các nhà nghiên cứu: Tham khảo phương pháp luận khoa học, biểu mẫu thu thập dữ liệu hồi cứu bệnh án và khung tiêu chí đánh giá tính hợp lý của phác đồ điều trị nhiễm khuẩn theo các quyết định chuyên môn mới nhất của Bộ Y tế.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số DDD/100 ngày nằm viện phản ánh điều gì trong quản lý sử dụng kháng sinh?

Chỉ số DDD/100 ngày nằm viện đo lường mật độ tiêu thụ kháng sinh chuẩn hóa dựa trên số ngày điều trị nội trú thực tế. Tại nghiên cứu này, con số 54,2 DDD/100 ngày nằm viện cho thấy trung bình mỗi ngày có khoảng 54,2 liều chuẩn kháng sinh được sử dụng cho mỗi 100 bệnh nhân nằm viện, giúp loại trừ các yếu tố nhiễu về giá thuốc và quy cách đóng gói.

Tại sao nhóm cephalosporin thế hệ 3 lại chiếm mức tiêu thụ cao nhất toàn viện?

Cephalosporin thế hệ 3, đặc biệt là cefoperazon (13,5 DDD/100 ngày nằm viện) và ceftriaxon (3,6 DDD/100 ngày nằm viện), được sử dụng phổ biến do có phổ kháng khuẩn rộng trên vi khuẩn Gram âm, độ an toàn cao và là lựa chọn kinh nghiệm hàng đầu theo thói quen lâm sàng khi chưa có kết quả xét nghiệm vi sinh định danh vi khuẩn.

Thang điểm CURB-65 có vai trò như thế nào trong điều trị viêm phổi cộng đồng?

Thang điểm CURB-65 đánh giá 5 yếu tố lâm sàng gồm rối loạn ý thức, ure huyết thanh trên 7 mmol/L, tần số thở từ 30 lần/phút trở lên, huyết áp tụt và tuổi từ 65 trở lên. Thang điểm này giúp bác sĩ phân tầng chính xác mức độ nặng (nhẹ, trung bình, nặng) để quyết định địa điểm điều trị ngoại trú hay nội trú và lựa chọn phác đồ kháng sinh ban đầu chuẩn xác.

Lợi ích của việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống là gì?

Chuyển đổi kháng sinh đường tiêm sang đường uống khi người bệnh đã cải thiện triệu chứng lâm sàng sau 48 đến 72 giờ giúp giảm đáng kể nguy cơ nhiễm trùng liên quan đến đường truyền tĩnh mạch, giảm thời gian nằm viện trung bình (hiện là 9 ngày), tiết kiệm chi phí thuốc và vật tư y tế mà vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị.

Tại sao các kháng sinh nhóm carbapenem và glycopeptid có mức tiêu thụ rất thấp trong nghiên cứu?

Carbapenem và glycopeptid là các kháng sinh dự trữ đặc biệt dành cho nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn đa kháng thuốc hoặc tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA). Việc các nhóm này chỉ chiếm khoảng 0,1 DDD/100 ngày nằm viện phản ánh mô hình bệnh tật tuyến huyện chủ yếu là nhiễm khuẩn cộng đồng và trung tâm đang kiểm soát tốt việc hạn chế sử dụng kháng sinh dự trữ.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết bức tranh tiêu thụ kháng sinh nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 2020-2021 với mức tiêu thụ trung bình toàn viện đạt 54,2 DDD/100 ngày nằm viện.
  • Xác định mô hình sử dụng thuốc tập trung chủ yếu vào nhóm cephalosporin thế hệ 3 (28,9 DDD/100 ngày nằm viện) và nhóm fluoroquinolon (11,5 DDD/100 ngày nằm viện), trong đó cefoperazon là hoạt chất có mật độ sử dụng cao nhất toàn viện (13,5 DDD/100 ngày nằm viện).
  • Đánh giá thực trạng điều trị trên 125 bệnh nhân viêm phổi cộng đồng nội trú ghi nhận tỷ lệ điều trị thành công đạt 97,6%, thời gian nằm viện trung vị là 9 ngày, đối tượng người bệnh chủ yếu là người cao tuổi (49,6%).
  • Chỉ ra những điểm cần cải thiện trong thực hành kê đơn như tối ưu hóa chỉ định kháng sinh phổ rộng, tăng cường hiệu chỉnh liều theo mức lọc cầu thận và thúc đẩy thực hiện chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp đồng bộ từ quản lý danh mục thuốc, nâng cấp hệ thống vi sinh lâm sàng đến tăng cường vai trò của dược sĩ lâm sàng trong vòng 6 đến 12 tháng tới.

Các cơ sở y tế tuyến huyện cần khẩn trương đẩy mạnh hoạt động của Ban Quản lý sử dụng kháng sinh, chuẩn hóa quy trình phân tầng bệnh nhân và áp dụng chặt chẽ hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế nhằm bảo vệ nguồn kháng sinh quý giá và nâng cao chất lượng điều trị cho cộng đồng.