Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Chương 2: Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Chương 3: Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện, thực thi pháp luật tố tụng hình sự về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 1. Khái niệm và ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Trong khoa học luật Tố tụng hình sự Việt Nam, thuật ngữ “kháng cáo” đƣợc phân biệt với thuật ngữ “kháng nghị” kể từ sau khi ban hành Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960. Trƣớc đó, thuật ngữ “chống án” hoặc “kháng cáo” đƣợc sử dụng chung đối với cả đƣơng sự, biện lí và chƣởng lí.
Sự phân biệt đó thể hiện địa vị pháp lý khác nhau giữa chủ thể của quyền kháng cáo và chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam (một bên là bị cáo và các đƣơng sự - ngƣời tham gia tố tụng hình sự và một bên là Viện kiểm sát – cơ quan tiến hành tố tụng hình sự) [8, tr. Trong khi đó, luật Tố tụng hình sự của nhiều nƣớc trên thế giới chỉ sử dụng một thuật ngữ, ví dụ “appel” trong tiếng Pháp hay “appreal” trong tiếng Anh [51, tr.614], thể hiện địa vị pháp lý bình đẳng của các bên trƣớc Tòa cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, sự phân biệt “kháng cáo” và “kháng nghị” là hợp lý, vì hai hành vi này có ý nghĩa khác nhau, tuy đƣa đến kết quả giống nhau là vụ án đƣợc đƣa lên cấp trên xét xử lại [37, tr. Kháng cáo, kháng nghị là sự kiện pháp lý, nghĩa là “sự kiện thực tế mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng đƣợc pháp luật gắn với việc phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật” [40, tr.
Trong phân loại sự kiện pháp lý theo tiêu chuẩn ý chí, kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là hành vi pháp lý, tức là sự kiện xảy ra theo ý chí của chủ thể kháng cáo, kháng nghị dƣới dạng hành động. Dƣới đây, xem xét kháng cáo, kháng nghị theo tiêu chí này: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 1. Khái niệm kháng cáo Theo Từ điển Tiếng Việt, “kháng cáo là chống án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử lại” [49, tr.
Khái niệm trên chỉ nêu một cách chung chung, cho ta một khái niệm khái quát và mang tính hình thức mà chƣa đề cập đến những vấn đề cơ bản của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm nhƣ: chủ thể, đối tƣợng… Theo cách định nghĩa này thì khái niệm “kháng cáo” đồng nghĩa với “chống án” mà trƣớc đây một số ngƣời thƣờng dùng. Pháp luật Tố tụng hình sự nƣớc ta hiện nay không dùng thuật ngữ này mà thống nhất dùng thuật ngữ “kháng cáo”. Sự hình thành và phát triển của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự gắn liền với sự hình thành và phát triển các tƣ tƣởng, các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự nhƣ công bằng; nhân đạo; suy đoán vụ tội; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, xét xử công khai, trực tiếp và bằng lời nói v. Quyền kháng cáo hiểu theo đúng nghĩa của nó không tồn tại trong tố tụng hình sự của những chế độ xã hội không có nền dân chủ, không tôn trọng quyền con ngƣời [28].
Bởi vậy, trong chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ và chế độ xã hội phong kiến, bị cáo cũng nhƣ ngƣời bị hại không có quyền phản đối phán quyết của Toà án. Bản chất dân chủ và tiến bộ là một trong những thuộc tính quan trọng của hệ thống tƣ pháp hình sự hiện đại. Sự ra đời của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự là nhu cầu tất yếu khách quan xuất phát từ bản chất của tố tụng hình sự là bảo vệ ngày càng có hiệu quả hơn quyền con ngƣời trong lĩnh vực hoạt động đặc thù - tố tụng hình sự. Quyền kháng cáo là biểu hiện của dân chủ và tiến bộ, bảo đảm pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự.
Công bằng là một trong những nguyên tắc rƣờng cột của lĩnh vực áp dụng pháp luật hình sự. Công bằng chỉ có khi hình phạt đƣợc quyết định đối với 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời phạm tội tƣơng xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, với các đặc điểm của nhân thân ngƣời phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, với dƣ luận xã hội, với ý thức pháp luật. Đồng thời chỉ có công bằng khi trong những điều kiện và hoàn cảnh phạm tội giống nhau thì ngƣời phạm tội phải bị kết án và xử phạt nhƣ nhau. Thế nhƣng, những đòi hỏi đó của công bằng trong xét xử không phải lúc nào cũng đạt đƣợc do nhiều nguyên nhân nhƣ không có sự thống nhất giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử, giữa các Toà án trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật, đặc biệt là, khi cần áp dụng các quy định mang tính chất đánh giá hoặc mang tính chất tuỳ nghi.
Việc quy định và tiến hành thủ tục phúc thẩm, xét đến cùng là đảm bảo công lý, công bằng xã hội, nhân đạo, quyền con nguời trong tố tụng hình sự. Sự ra đời của quyền kháng cáo còn xuất phát từ quan niệm đúng đắn của các nhà lập pháp cho rằng, nhờ xét xử phúc thẩm các vụ án khi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Toà án cấp trên trực tiếp sẽ hạn chế đƣợc những sai sót về xét xử của các Thẩm phán Tòa sơ thẩm cấp dƣới trực tiếp. Toà án cấp trên trực tiếp làm đƣợc điều đó bởi Toà án có những Thẩm phán giỏi hơn, có kinh nghiệm xét xử đúng và công bằng hơn. Đồng thời, do Toà án cấp trên ở xa các đƣơng sự nên không chịu sự ảnh hƣởng từ phía địa phƣơng.
Nhƣ vậy, sự ra đời của quyền kháng cáo là một nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội loài ngƣời phát triển đến một trình độ nhất định, gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tƣ tƣởng về nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự [28]. Kháng cáo phúc thẩm hình sự là một quyền năng tố tụng cơ bản đƣợc pháp luật tố tụng hình sự quy định cho bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác, khái niệm này đƣợc nhiều nhà lý luận và thực tiễn quan tâm, đồng thời đƣa ra những quan niệm khác nhau. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn “Từ điển giải thích luật học” của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội có đƣa ra khái niệm kháng cáo “Ngƣời tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm” [39, tr. Khái niệm trên đã nêu đƣợc đối tƣợng, chủ thể, mục đích của kháng cáo nhƣng chƣa chỉ rõ đƣợc đối tƣợng là bản án có hiệu lực hay chƣa có hiệu lực pháp luật nên định nghĩa này cũng chƣa đầy đủ.
Tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn “Thủ tục phúc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” đã đƣa ra khái niệm “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của mình đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại” [20, tr. Đây là một khái niệm khá đầy đủ đã nêu đƣợc chủ thể, đối tƣợng và Tòa án, nhƣng chƣa chính xác ở điểm “tòa án cấp trên”. Theo Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì chỉ có “Tòa án cấp trên trực tiếp” mới có quyền xét xử lại bản án, quyết định theo thủ tục phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Mặt khác, định nghĩa trên đã nêu đƣợc đối tƣợng của kháng cáo nhƣng chƣa chỉ rõ đối tƣợng của kháng cáo phúc thẩm.
Nhìn chung, các khái niệm nêu trên đều chƣa đƣa ra đƣợc một khái niệm chính xác về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Theo em, để có đƣợc khái niệm đầy đủ và hoàn chỉnh về kháng cáo, chúng ta cần làm rõ những vấn đề sau: Thứ nhất, đối tƣợng của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chƣa có hiệu lực pháp luật. Trong thời hạn luật định (hoặc ngoài thời hạn luật định nhƣng có lý do chính đáng), nếu bản án hoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Tòa án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải xét xử lại bản án theo thủ tục phúc thẩm. Thứ hai, chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là những 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời tham gia tố tụng, nhƣng không phải tất cả ngƣời tham gia tố tụng đều có quyền kháng cáo mà chỉ những ngƣời đƣợc pháp luật quy định cụ thể mới có quyền kháng cáo.
Chủ thể của quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm có thể là những ngƣời có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, bản án và quyết định của Tòa án đã ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Chủ thể của quyền kháng cáo còn có thể là những ngƣời không có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án nhƣng họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho những ngƣời khác. Đó là ngƣời mà họ đại diện hợp pháp hoặc là ngƣời họ nhận bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong trƣờng hợp những ngƣời này chƣa thành niên hoặc có nhƣợc điểm về thể chất, tâm thần. Do bản án, quyết định của Tòa án có ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ hoặc của ngƣời mà họ đại diện, bảo vệ nên pháp luật quy định cho họ quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chƣa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ ba, mục đích của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời tham gia tố tụng. Khi xét xử Tòa án phải tuân theo pháp luật từ việc đánh giá chứng cứ đến việc đƣa ra bản án, quyết định. Nhƣng vì nhiều lý do khác nhau mà bản án có thể không đúng pháp luật, không đảm bảo sự chính xác.