Chương 1 Nghiên cứu văn hoá vùng, khuynh hướng và các vấn ñề ñặt ra Ngay từ thời cổ ñại, con người ñã chú ý quan sát và tìm cách giải thích những tương ñồng và khác biệt về văn hoá giữa dân tộc mình và các dân tộc láng giềng. Ở Châu Âu, sự so sánh Êy có thể tìm thấy trong các công trình của người cha ñẻ ngành sử học Hêrôñốt, của nhà triết học Arixtốt. Trong tác phẩm "lịch sử", Hêrôñốt ñã nói về mối quan hệ thân thuộc về văn hoá giữa người Ai cập và Kolkhít, ñặc biệt ông cũng nêu những tương ñồng về ngôn ngữ, lối sống, một số phong tục, lễ nghi giữa các tộc Ai Cập, Kolkhít và Ephiốp. Ông giải thích hiện tượng tương ñồng này là do các dân tộc có quan hệ thân thuộc và do giao lưu, ảnh hưởng qua lại.
Ở Phương ñông cổ ñại, ñặc biệt là Trung Quốc, người Hoa Hạ ở Trung Nguyên ñã có ý thức phân biệt văn hoá của họ và các dân tộc xung quanh, như với người Bắc ðịch ở phía bắc, Tây Khương ở phía tây, người ðông Di ở ven biển phía ñông và Bách Việt ở phương nam. Dưới con mắt của người Hoa phương Bắc, thì Man Di Bách Việt là một cộng ñồng văn hoá với các ñặc trương, như ở nhà sàn, trồng lúa nước, xăm mình, nhuộm răng, ăn trầu, tị Èm (uống nước bằng mòi), ngồi xổm (Trần Quốc Vượng, 1961). Thời Trung Cổ, Châu Âu chịu sự thống trị tinh thần của Giatô giáo, người ta tin rằng mọi dân tộc trên thế giới ñều sinh ra từ thuỷ tổ là Añam và Eva, nên ở các dân tộc khác nhau ñều có những hiện tượng văn hoá giống nhau. Từ thế kỷ XV trở ñi, châu Âu rung ñộng bởi những phát kiến ñịa lý vĩ ñại tìm ra châu Mỹ, tìm ñường sang châu Á, Ấn ðộ, thời kỳ cáo chung của chế ñộ phong kiến và ra ñời của chủ nghĩa tư bản, sự xuất hiện của nhiều ngành khoa học làm cho tầm quan sát của con người vượt ra ngoài Châu Âu chật hẹp ñến với các ñại lục rộng lớn khác nhau, với những môi Các lý thuyết và khuynh hướng nghiên cứu 27 trường ñịa lý, dân cư và văn hoá khác lạ với châu Âu.
Những nhân tố ñó càng kích thích nhu cầu hiểu biết của con người về sự tương ñồng và khác biệt văn hoá nhân loại. Càng ngày, người ta càng thu lượm ñược khối tư liệu khảo cổ học, nhân chủng học và dân tộc học - ñịa lý to lớn, ñòi hỏi cần ñược tổng hợp hơn và phân tích về các hiện tượng tương ñồng văn hoá và nó ñã trở thành ñối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học khác nhau. Vào nửa cuối thế kỷ XIX ñầu thế kỷ XX, bắt ñầu hình thành những ý tưởng, những lý thuyết và khuynh hướng nghiên cứu khác nhau nhằm nhận thức và lý giải hiện tượng tương ñồng văn hoá kể trên. Trong các thập kỷ cuối thế kỷ XIX, những người tiên phong của trường phái tiến hoá luận mà ñại biểu lớn nhất là L.
Taylor, khi xây dựng những lý thuyết của mình về tính thống nhất văn hoá nhân loại và quá trình tiến hoá của lịch sử các dân tộc, các ông cũng ñã trực tiếp ñề cập tới vấn ñề tương ñồng văn hoá. Thông qua các tư liệu về thần thoại, hệ thống thân tộc và một số hiện tượng văn hoá khác, các ông cũng ñã ñề cập tới nguồn gốc chung cũng như mối quan hệ ảnh hưởng, vay mượn lẫn nhau giữa các dân tộc là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng tương ñồng văn hoá giữa các dân tộc (L. Tuy nhiên, ñể lý giải hiện tượng tương ñồng văn hoá và nhận thức không gian phân bố các hiện tượng văn hoá ở các vùng, các dân tộc khác nhau trên thế giới, chúng ta thấy nổi bật lên một số khuynh hướng nghiên cứu và lý thuyết chính. ðó là lý thuyết "khuyếch tán" văn hoá ở Tây Âu, lý thuyết "Vùng văn hoá" ở Mỹ và lý thuyết "loại hình kinh tế - văn hoá"và "khu vực văn hoá - lịch sử" của dân tộc học Xô - Viết.
Thuyết "khuyếch tán văn hoá" ở tây âu Trước khi hình thành các trường phái chính của thuyết "khuyếch tán văn hoá" trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà bác học Âu - Mỹ ñã ñề cập tới cái gọi là "thiên di", "lan toả" (A. Bradford) "mô phỏng" (G. ñể giải thích hiện tượng tương ñồng văn hoá. Có thể coi ñó là những ý tưởng phôi thai tạo tiền ñề cho thuyết "khuyếc tán văn hoá".
28 Ngô ðức Thịnh Phải tới những năm 90 của thế kỷ XIX, ñặc biệt là những thập kỷ ñầu XX thì thuyết này mới phát triển tột ñỉnh và hình thành những trường phái chính. Ngày nay, trong quan niệm của các nhà nghiên cứu Mácxít, người ta quan niệm truyền bá luận như là một khuynh hướng của nhân học tư sản, giải thích các ñặc ñiểm văn hoá giống nhau ở các dân tộc khác nhau bằng "truyền bá" văn hoá từ một trung tâm. Truyền bá luận giải thích sự phát triển của các nền văn minh, văn hoá không phải là sự tiến hoá ñộc lập, mà cơ bản hoặc thậm chí chỉ bằng những sự vay mượn các thành tựu văn hoá hay bằng các cuộc thiên di của các dân tộc (A. Tuy nhiên trong thuyết "khuyếch tán văn hoá", các trường phái khác nhau giải thích hiện tượng tương ñồng văn hoá không phải hoàn toàn ñồng nhất, mà giữa chúng có sự khác nhau về quan niệm lý thuyết cũng như xem xét các hiện tượng văn hoá cụ thể.
Dưới ñây, chúng tôi xin giới thiệu một số trường phái của lý thuyết này ở ðức, Áo, Mỹ, Anh. Trường phái văn hoá - lịch sử ở ðức và Áo Những học giả tiêu biểu cho trường phải văn hoá - lịch sử là F. Ratsel là người xây dựng những cơ sở tư tưởng ñầu tiên cho lý thuyết này. Trong một số công trình xuất bản chính của ông từ năm 1882 ñến 1900, như "Nhân chủng học ñịa lý", "Nghiên cứu dân tộc" (F.
Ratsel, 1882), tác giả ñã trình bày những tư tưởng cơ bản của mình, ñưa ra các khái niệm về "khu vực văn hoá", "vòng văn hoá". Theo ông, cần phải xem xét tất cả những vấn ñề của con người trong mối quan hệ của nó với môi trường tự nhiên. Trong môi trường tự nhiên như vậy, sự di chuyển của các cộng ñồng người và văn hoá của họ là không có ranh giới, và theo ông, không thể có cái gọi là tộc người "bản ñịa". Thông qua việc xem xét sự phân bố của các loại hình vũ khí, công cụ, ñồ trang sức của các dân tộc, ông cho rằng, về cơ bản có sự trùng hợp về phạm vi phân bố các yếu tố ñặc trưng dân tộc (tức các hiện tượng văn hoá kể trên) với phạm vi phân bố tộc người, tức là những người sáng tạo hay sử dụng các yếu tố văn hoá ñó.
Ông coi sự tiếp xúc và truyền bá (lan truyền) các thành tựu văn hoá là Các lý thuyết và khuynh hướng nghiên cứu 29 thuộc tính cơ bản của văn hoá. Ông cũng nêu ra phương thức lan truyền, ñó là: a) Lan truyền toàn bộ văn hoá từ cộng ñồng này sang cộng ñồng khác hay còn gọi là hỗn dung văn hoá (acculturation) và, b) Lan truyền hay dịch chuyển từng yếu tố văn hoá riêng lẻ theo những hình thức khác nhau từ ñiểm cư dân này sang ñiểm cư dân khác. Ratsel, khái niệm "vòng văn hoá" còng như "khu vực văn hoá", là một không gian ñịa lý phân bố các yếu tố văn hoá thuộc về một dân tộc hay một số dân tộc có mối quan hệ nguồn gốc từ thời xa xưa. Từ những quan niệm lý thuyết như vậy, tác giả cũng ñã áp dụng ñể xem xét một số hiện tượng văn hoá cụ thể.
Từ việc nghiên cứu các loại cung tên ở Châu Phi, ông ñã phân các tộc người ở ñây thành các nhóm tuỳ thuộc vào việc họ sử dụng các loại cung tên như thế nào. Ông cũng ñã so sánh cung tên Châu Phi với Châu Á, Mêlanêdi, từ ñó nêu ra mối quan hệ văn hoá giữa các khu vực này. Ông cũng ñã so sánh văn hoá Châu Mỹ với Châu ðại Dương và xếp chúng cùng vào mét vòng văn hoá (hay khu vực văn hoá) Thái Bình Dương. Ratsel, người học trò của ông là L.
Frobenius ñã tiếp tục hướng tìm tòi này. Frobenus ñánh giá cao sù giao lưu và pha trộn văn hoá trong sự phát triển và chuyển giao văn hoá giữa các dân tộc và các vùng khác nhau trên thế giới, coi ñó như là quy luật cơ bản của phát triển văn hoá. Tuy nhiên, nếu với F. Ratsel văn hoá là bộ phận hữu cơ gắn với con người và dân tộc, thì L.
Frobenius lại có quan ñiểm trái ngược, coi quá trình phát triển văn hoá ñộc lập với con người và dân tộc với tư cách là chủ nhân của văn hoá. Rằng văn hoá phát triển tự thân thiếu bóng con người và dân tộc. Ông ñã ñưa ra hai hình thức truyền bá văn hoá, ñó là a) Ubertragung - tức là truyền bá không có sự vận ñộng ñáng kể của tộc người (không có di dân) và b) Verpflanzung - lan truyền cùng với sự di cư của tộc người. Trong công trình nghiên cứu "Nguồn gốc các nền văn hoá Châu Phi", L.Frobenius không chỉ ñưa ra các quan ñiểm mang tính lý thuyết trên, mà còn áp dụng vào phân tích các nền văn hoá Châu Phi.
Trên cơ sở phân tích hình thái các hiện vật văn hoá như cung ná, dao, nhà ở, nhạc 30 Ngô ðức Thịnh cụ, mặt nạ., tác giả ñã chia Châu Phi thành các vùng hay các vòng văn hoá với những ñặc trưng khác nhau: ðó là vòng văn hoá Nam Phi, Tây Phi và Bắc Phi. Theo ông, vòng văn hoá Tây Phi có các ñặc trưng, như nhà có mặt bằng hình chữ nhật, hai mái, cư dân dùng cung tên, méc bằng tre, âm mhạc dùng các nhạc cụ như sáo, tiêu và trống. Trong các nền văn hoá kể trên thì văn hoá Nam Phi là cổ sơ hơn cả, và chính ở ñây ông ñã tìm thấy những tương ñồng của nó với văn hoá ở Châu Á và Châu ðại Dương. Theo ông, sự giao lưu, pha trộn các nền văn hoá này làm nảy sinh các nền văn hoá mới (L.
Kế tục các nhà nghiên cứu thuộc trường phái văn hoá - lịch sử và trở thành người ñại biểu xuất sắc cho trường phái này là học giả người ðức F. Schimidt là người kế tục trường phái này sau một phần tư thế kỷ ñã ñánh giá F.