Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA 1. Khái niệm văn hóa và một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một hiện tượng xã hội, gắn với hoạt động của con người. Lịch sử phát triển của văn hóa gắn với lịch sử phát triển lâu dài của loài người.
So với lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa, thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện muộn hơn, được ghi trong các thư tịch cổ chỉ mấy nghìn năm. Đến thời cận đại, từ “văn hóa” mới trở thành một thuật ngữ khoa học. Trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về “văn hóa”, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, tùy theo góc độ nghiên cứu của mỗi tổ chức, cá nhân. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” [15; tr. Như vậy, văn hóa không phải là lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa chính là chìa khóa của sự phát triển.
Ở Việt Nam, năm 1938, lần đầu tiên xuất hiện định nghĩa về văn hóa qua cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh. Theo tác giả, người ta thường cho rằng, văn hóa chỉ là những học thuật, tư tưởng của loài người, nhân thể mà xem văn hóa có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải như vậy, học thuật, tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi văn hóa, nhưng sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị và xã hội, cùng các phong tục, tập quán lại không phải ở trong phạm vi văn hóa? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người, cho nên có thể nói rằng văn hóa là sinh hoạt. Văn hóa sinh hoạt mà Đào Duy Anh nêu ra là phương thức hoạt động văn hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Nhưng ông mới dừng lại ở mặt bằng của văn hóa chứ chưa có điều kiện đi sâu vào bản chất của văn hóa và vai trò phát triển của văn hóa. 9 Năm 1942, khi đang ở nhà tù Quảng Tây (Trung Quốc), trong một bài viết về Huấn luyện cán bộ, Bác Hồ đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [9; tr. Theo quan niệm của Người, văn hóa chính là biểu hiện của sự hiểu biết, tài năng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, tâm hồn.
của con người và của mỗi cộng đồng dân tộc trong mối quan hệ với xã hội và tự nhiên. Như vậy, khi bàn về khái niệm văn hóa, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, tùy theo góc độ và phương pháp tiếp cận. Tuy nhiên, với cách diễn đạt khái quát nhất, không ai phủ nhận văn hóa là do con người sáng tạo, phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con người; nó là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy trong lịch sử, trong quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên, trong các mối quan hệ xã hội, trong ứng xử để tồn tại và phát triển. Từ đó có thể định nghĩa: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.
Khái niệm văn hiến, văn minh, văn vật 1. Khái niệm văn minh Hiện nay, khái niệm văn minh đang có nhiều quan niệm khác nhau. Theo nghĩa Hán - Việt, văn là vẻ đẹp, minh là sáng. Chữ văn minh trong tiếng Pháp là civilisation, trong tiếng Anh là civilization, còn có nghĩa là hoạt động khai hóa làm thoát khỏi trạng thái nguyên thủy.
Văn minh là thuật ngữ để chỉ một dân tộc, một xã hội đạt đến giai đoạn đời sống trí tuệ, hiền minh. Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Như vậy, văn hóa và văn minh đều là những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, nhưng văn hóa là toàn bộ những giá trị mà loài người sáng tạo ra từ khi loài người ra đời đến nay, còn văn minh chỉ là những giá trị mà loài người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển cao của xã hội. Đó là giai đoạn có nhà nước.
Thông thường, vào thời kì thành lập nước thì chữ viết cũng xuất hiện, do đó văn hóa có một bước phát triển nhảy vọt. Tuy nhiên, do hoàn cảnh cụ thể, có một số nơi, khi nhà nước ra đời vẫn chưa có chữ viết, nhưng đó là những trường hợp không điển hình. 10 Văn hóa thường hướng đến những giá trị nhân văn, còn văn minh không phải bao giờ cũng vì mục đích cao cả. Nếu văn minh phát triển một cách tự phát hoặc sử dụng văn minh vì mục đích phi nhân đạo sẽ gây hiểm họa cho con người, kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Khái niệm văn hiến Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã có khái niệm văn hiến. Từ thời Lý (năm 1009) người Việt đã tự hào nước mình là một nước “văn hiến chi bang”. Đến đời Lê (thế kỷ XV), Nguyễn Trãi viết “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ “văn hiến” mà Nguyễn Trãi dùng là một khái niệm rộng, chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.
Trong danh từ “văn hiến” thì “văn” là vẻ đẹp, là văn hóa, văn chương; còn “hiến” là hiền tài, là điển chương, chế độ. Nhà văn hóa Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” đã khẳng định: “Là sách vở” và nhân vật tốt đẹp trong một đời. Văn hiến là truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Truyền thống văn hóa lâu đời còn lưu giữ được chính là những giá trị tinh thần.
Từ quan niệm trên có thể khẳng định: Văn hiến là một bộ phận của văn hóa, là truyền thống văn hóa lâu đời thiên về những giá trị tinh thần, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ nét. Khái niệm văn vật Bên cạnh khái niệm văn hiến, ở Việt Nam còn có khái niệm văn vật. Có thể hiểu, văn vật là những sản vật của văn hóa như lễ nhạc, chế độ. Vật ở đây là những cái có trong khoảng trời đất, là những giá trị văn hóa đã được vật thể hóa, được biểu hiện ở nhiều di tích và nhân tài trong lịch sử.
Văn hiến và văn vật chỉ là những khái niệm bộ phận của văn hóa, chúng khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị. Văn hiến là văn hóa thiên về truyền thống lâu đời còn lưu giữ được chính là các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóa thiên về các giá trị vật chất. Đặc trưng và chức năng của văn hóa 1. Đặc trưng của văn hóa Từ những luận giải về khái niệm văn hóa, các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đã đúc kết thành nhiều đặc trưng của văn hóa, trong đó nổi bật bốn đặc trưng cơ bản sau: 11 - Tính hệ thống, bao gồm các mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng và sự kiện trong một nền văn hóa.
Đặc trưng hệ thống tạo cho văn hóa chức năng tổ chức xã hội, làm nền tảng ổn định cho xã hội. Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó. Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Nó là nền tảng của xã hội. Chính vì vậy mà người Việt Nam thường dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hóa (nền văn hóa); - Tính giá trị, bao gồm giá trị vật chất và tinh thần, giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị đồng đại, giá trị lịch đại. Đặc trưng giá trị tạo cho văn hóa có chức năng điều chỉnh xã hội, giúp xã hội duy trì trạng thái cân bằng động. Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị.
Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan - phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời. Vì vậy, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét.
Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ "giá trị" và “phi giá trị" của nó. Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn lịch sử.