CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN VỀ CÙ LAO ÔNG CHƯỞNG 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm Đời sống văn hóa: khái niệm đời sống văn hóa hiện được các nhà xây dựng chính sách đề cập dưới góc độ hoạt động thực tiễn. Ở đây chúng tôi gắn khái niệm này với lý thuyết tổng thể văn hóa tộc người về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần nên có khái niệm đời sống vật chất và đời sống tinh thần chứ chưa đủ nhận thức lý luận về khái niệm này.
Đời sống vốn được hình thành từ lối sống, ký ức sống tập thể. Lối sống cũng chính là phạm trù nghiên cứu gần sát với con người nhất. Phạm trù này dùng để chỉ quá trình hiện thực hóa các giá trị và hệ giá trị văn hóa trong thực tiễn cuộc sống hằng ngày của cá nhân hay cộng đồng nào đó. Nghiên cứu về con người trước hết và về bản chất, không gì khác hơn, chính là nghiên cứu về cuộc sống và văn hóa của con người.
Những đặc điểm về trang phục, ngôn ngữ, tôn giáo, lễ nghi, các chế định về ứng xử như luật pháp và đạo đức, mỹ thuật và nghệ thuật ẩm thực… đều là những khía cạnh phản ánh nên lối sống. Thông qua việc nghiên cứu lối sống, các hoạt động văn hóa của con người mới được nhìn nhận một cách đầy đủ nhất [43, tr. Tổng thể văn hóa tộc người: tổng thể văn hóa tộc người là một phạm trù để chỉ toàn thể văn hóa đặc trưng của một tộc người. Trong tổng thể văn hóa tộc người, người ta có thể phân chia văn hóa thành hai thành tố là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, 11 người ta cũng chia ra văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội hoặc văn hóa vật chất và văn hóa phi vật chất, nhưng tất cả những sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối vì giữa các thành tố này không thể có sự phân chia ranh giới rạch ròi mà thành tố này là tiền đề, là hình thức tồn tại của thành tố kia, chúng bổ sung và có mối liên hệ hỗ tương lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau để tạo thành tổng thể văn hóa tộc người.
Muốn hiểu văn hóa của một dân tộc, một cộng đồng cư dân nào cần phải hiểu toàn bộ tổng thể văn hóa tộc người, bởi nếu chỉ hiểu vài khía cạnh nhỏ sẽ dễ có cái nhìn phiến diện về một nền văn hóa. Trong ngành dân tộc học/nhân học, con người là chủ thể của nền văn hóa và là đối tượng chính để nghiên cứu chứ không phải là các sự việc. Mục đích cuối cùng của việc nghiên cứu các sự việc cụ thể đó nhằm để hiểu con người liên quan đến sự việc ấy một cách sâu sắc hơn (X. Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng khái niệm tổng thể văn hóa tộc người như khái niệm chính để tìm hiểu toàn bộ đời sống văn hóa vật chất lẫn đời sống văn hóa tinh thần của người dân trên cù lao Ông Chưởng.
Theo quan điểm của X. Tokarev, tổng thể văn hóa tộc người phân thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, trong văn hóa tinh thần bao gồm cả văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội. Do đó trong luận văn của chúng tôi khi đề cập đến văn hóa tinh thần cũng bao gồm luôn văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần. Cư dân vùng cù lao Ông Chưởng từ những buổi đầu khai hoang đã hình thành lối sống, đời sống riêng của mình theo đặc trưng môi trường địa lý.
Các giá trị văn hóa về tín ngưỡng, tôn giáo, văn học dân gian… đã thẩm thấu vào trong quá trình tích lũy và hình thành ký ức sống của tập thể, phản ánh cách thức mà con người xây dựng nền văn hóa địa phương. 1 Phan Thị Yến Tuyết, Ngô Thị Phương Lan (2013), Chương Văn hóa, trong sách Nhân học đại cương, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr. 12 Văn hóa vật chất Văn hóa tinh thần Văn hóa xã hội Văn hóa tinh thần Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổng thể văn hóa tộc người dựa theo quan điểm của X.Tokarev Văn hóa vật chất (material culture): văn hóa vật chất là điều kiện tồn tại của con người, đặc biệt là quá trình sản xuất của cải vật chất phục vụ cho đời sống hàng ngày. Theo Tokarev, văn hóa vật chất chủ yếu bao gồm nhà ở, trang phục, ẩm thực, phương tiện đi lại, dụng cụ lao động, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, hoạt động nghề thủ công… Văn hóa vật chất không chỉ đơn thuần là đồ dùng, mà còn thể hiện tính khu vực, tính dân tộc, tính thời đại.
Những dạng thức của văn hóa vật chất có khi chỉ là những món ăn, đồ vật bình thường, thậm chí không có gì quý giá, nhưng chúng ta phải nghiên cứu vì những gì hôm nay có thể là bình thường nhưng trong tương lai nó sẽ không còn nữa và nó sẽ trở nên quý giá vì nhờ có nó người ta mới hiểu cuộc sống của con người vào thời các đồ vật ấy tồn tại phổ biến và trở thành di sản văn hóa. Những dạng thức của văn hóa vật chất giúp chúng ta hiểu nền văn hóa đó hơn là văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội. Việc hiểu biết về các dạng thức văn hóa vật chất là yêu cầu quan trọng cho việc phục hồi và giữ gìn văn hóa, đó là hoạt động góp phần bảo vệ di sản văn hóa của dân tộc. Bởi vì khi một dạng thức văn hóa vật chất mất đi thì một phần của nền văn hóa dân tộc đó cũng mất đi [46, tr.
13 Cư dân vùng cù lao Ông Chưởng có một hệ thống văn hóa vật chất lâu đời, đó là nhà cửa, trang phục, ẩm thực, phương tiện đi lại, công cụ lao động, cơ sở của các tín ngưỡng, tôn giáo như dinh, đình, miễu, chùa, nghề thủ công… Tất cả đều là những dạng thức văn hóa đặc sắc tiền nhân để lại cho con cháu, không chỉ chứa đựng ý nghĩa lịch sử mà còn phản ánh giá trị văn hóa trong đời sống của con người vùng cù lao Ông Chưởng, những giá trị hóa của địa phương vì thế cần được những thế hệ sau trân trọng, gìn giữ, nghiên cứu, tôn tạo. Bởi vì trong tương lai, các dạng thức văn hóa này sẽ trở thành di sản văn hóa của dân tộc. Văn hóa tinh thần (spirit culture): văn hóa tinh thần hội tụ những khía cạnh thuộc về các lĩnh vực học thuật, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật. Tương tự như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần có thể trở thành di sản văn hóa nên cũng cần được gìn giữ, bảo tồn [18, tr.
Trong đời sống của cư dân vùng cù lao Ông Chưởng, văn hóa tinh thần được thể hiện ở nhiều dạng thức, đó là hệ thống các lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học dân gian… Mỗi dạng thức đều phản ánh những khía cạnh khác nhau trong sinh hoạt của con người và là cơ sở xác định đặc trưng của văn hóa địa phương. Ví dụ như lễ cúng Cầu an tại dinh, đình thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xem là lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng cù lao Ông Chưởng. Lễ hội này không những thể hiện lòng tri ân của thế hệ sau đối với bậc tiền nhân có công khai hoang mở cõi mà còn nhắc nhở con cháu phải biết trân trọng thành quả mà cha ông để lại trên mảnh đất này. Những tác phẩm văn học dân gian đang tản mác trong dân gian cần phải được sưu tầm, ghi chép và lưu trữ và nghiên cứu để tìm hiểu về bối cảnh, cách thức sinh hoạt của con người từ lúc mới đặt chân lên cù lao Ông Chưởng nhằm xác định sắc thái văn hóa trong đời sống tinh thần của cư dân.
Trong giới khoa học, người ta gộp chung văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần vào chung khái niệm văn hóa tinh thần. Do đó cần tìm hiểu văn hóa xã hội trong khái niệm văn hóa tinh thần. Trong luận văn này chúng tôi thực hiện theo quan niệm này. 14 Văn hóa xã hội (social culture): là những yếu tố thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, những sinh hoạt cộng đồng trong đó bao gồm tổ chức xã hội quan phương (tổ chức xã hội chính thức) như chính quyền các đoàn thể, các ban ngành… và phi quan phương (tổ chức xã hội không chính thức) như ban Quý tế đình, dinh, câu lạc bộ đờn ca tài tử… Tóm lại, giữa văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội không tách biệt rạch ròi mà luôn có mối quan hệ hỗ tương với nhau, văn hóa tinh thần gắn bó với văn hóa vật chất để tạo thành một hệ thống làm tiền đề hình thành nên sắc thái văn hóa một dân tộc ở địa phương cụ thể.
- Khái niệm về các loại hình cấu tạo đặc biệt của sông ở Nam Bộ An Giang là vùng đất đồng bằng – đồi núi, không giáp biển. Trong địa hình thuộc đồng bằng, có loại địa hình đặc biệt là cù lao. Những cù lao của tỉnh An Giang nói chung và cù lao Ông Chưởng nói riêng được hiểu là cù lao trên sông. Người dân ở địa phương có sự phân biệt rất rõ giữa các địa hình trong khu vực như cù lao (sông), cồn (sông) và doi sông, đây là những dạng địa hình gắn bó mật thiết với cuộc sống nông nghiệp nông thôn miền sông nước của cư dân.
Cù lao: Theo cách định nghĩa khoa học thì cù lao sông là phần đất phát triển ngang được nhô lên do dòng sông dịch chuyển hướng dòng chảy đi nơi khác. Ở giữa cù lao cao và thấp dần sang hai bên bờ. Cù lao có diện tích lớn, được hình thành lâu đời và ổn định. Thành phần đất chủ yếu là cát thô với bột sét mịn.
Nơi đây có cơ cấu cây trồng đặc biệt, gồm lúa, các loại cây ăn trái và hoa màu [1, tr. Cồn sông: người dân địa phương gọi cồn là những bãi bồi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, đây là phần trầm tích đáy của lòng sông Hậu và sông Tiền. Khi dòng nước mang vật liệu hạt thô bị chướng ngại vật ở đáy sông cản lại, dòng nước đột ngột yếu đi, vật liệu trầm tích bị bẫy lại, hình thành nên những lượn cát nhỏ ở đáy sông. Về sau, những lượn cát này phát triển thành những cồn ngầm, rồi dần dần nhô lên khỏi mặt nước, hình thành nên cồn.