phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, đề án gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của Trƣờng thi Bình Định. (28 trang) Chƣơng 3: Bảo tồn, phát huy giá trị di tích Trƣờng thi Bình Định. (17 trang) 10 Chƣơng 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA TRƢỜNG THI BÌNH ĐỊNH 1.
Bối cảnh lịch sử 1. Vị trí, điều kiện tự nhiên và xã hội Bình Định hiện nay là tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, nằm trong v ng kinh tế trọng điểm miền Trung. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hƣớng Bắc - Nam, diện tích tự nhiên: 6.071,3 km², diện tích v ng lãnh hải: 36. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (C Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn.
Tỉnh Bình Định gồm có 1 thành phố, 2 thị xã, 8 huyện trực thuộc tỉnh, đƣợc đánh giá là có vị trí chiến lƣợc hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của v ng kinh tế trọng điểm miền Trung, đƣợc xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và v ng nam Lào, đông bắc Campuchia và Thái Lan. Thành phố Quy Nhơn là trung tâm kinh tế- chính trị - văn hóa xã hội của tỉnh. Ngoài ra còn có đô thị An Nhơn vốn trƣớc đây là v ng đất có bề dày văn hóa và chiều sâu lịch sử trên ngàn năm, từng là kinh đô của vƣơng quốc Chăm-pa, vƣơng triều Tây Sơn- Nguyễn Nhạc, phủ lỵ Hoài Nhơn, Quy Ninh, Quy Nhơn, rồi tỉnh lỵ Bình Định. Xứ thành kinh sớm mọc lên làng nghề, phố thị ở hai bên các nhánh sông và dọc theo con đƣờng thiên lý Bắc- Nam nhƣ An Thái, Gò Chàm, Đập Đá, Gò Găng, Cảnh Hàng.
Bên cạnh đó còn nằm trên hệ thống các nhánh sông Côn (Kôn) chảy qua thuận lợi cho phát tiển nông nghiệp và giao thông, mạng lƣới giao thông kết nối với các tỉnh trên đƣờng thiên lý Bắc Nam, Nam, Ngãi, Bình, Phú. Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió m a, ôn hòa thuận lợi. Với vị trí, đặc điểm trên trong lịch sử An – Nhơn - Bình Định đƣợc lựa 11 chọn để xây dựng Trƣờng thi nhằm tuyển lựa nhân tài ở Bình Định và các tỉnh lân cận. Tháng 7 năm 1471, Lê Thánh Tông đã lấy v ng đất nam Quảng Nam, từ đèo Bình Đê đến dẻo Cù Mông lập phủ Hoài Nhơn- Bình Định ngày nay) gồm 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn thuộc thừa ty Quảng Nam.
Từ đó ngƣời Việt bắt đầu tiến vào sinh sống trên v ng đất Bình Định ngày nay. Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn. Năm 1651, dƣới thời Nguyễn Phúc Tần, chúa cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Ninh. Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn và vẫn đƣợc gọi suốt thời kỳ Tây Sơn.
Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt các đạo làm dinh, nhƣng cấp phủ vẫn giữ nguyên. Phủ Quy Nhơn vẫn thuộc về dinh Quảng Nam, đặt các chức tuần phủ và khám lý để cai trị. Phủ lỵ đƣợc dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn Châu Thành (nay thuộc phƣờng Nhơn Thành, thị xã An Nhơn). Từ năm 1793 – 1799, thành Hoàng Đế đổi thành phủ Quy Nhơn dƣới vƣơng triều Cảnh Thịnh, cũng là bƣớc đƣờng suy yếu của Tây Sơn.
Từ năm 1799 – 1802, thành Quy Nhơn bị quân Nguyễn Ánh chiếm đóng và đổi làm thành Bình Định và suốt chiều dài lịch sử, đây là trung tâm cai trị của triều Nguyễn tại Bình Định trong những năm đầu thế kỷ XIX. Năm 1832, vua Minh Mạng lập phủ An Nhơn gồm các huyện Tuy Phƣớc và Tuy Viễn, phủ lỵ An Nhơn đặt tại thôn Hòa Cƣ, xã Nhơn Hƣng, đến năm 1852 phủ lỵ dời về An Thái - Nhơn Phúc. Đến năm 1885, Bình Định là một tỉnh lớn ở Trung Kỳ, nhiều v ng đất của Gia Lai, Kon Tum còn thuộc về Bình Định. Năm 1890, thực dân Pháp sát nhập thêm Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn.
Nhƣng đến năm 1899, Phú Yên tách kh i Bình Phú, Bình Định lại trở thành tỉnh độc lập. 12 Năm 1907, toàn quyền Đông Dƣơng lại ra Nghị định bãi b tỉnh Plâycu Đe. Một nửa đất đai của tỉnh này cho sát nhập trở lại vào tỉnh Bình Định. Năm 1913, thực dân Pháp lại sát nhập Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú.
Năm 1921, thực dân Pháp tách tỉnh Phú Yên ra, lập lại tỉnh Bình Định và kéo dài cho đến năm 1945. Từ cuối năm 1975 đến năm 1989, tỉnh Bình Định hợp nhất với tỉnh Quảng Ngãi lấy tên là tỉnh Nghĩa Bình. Từ năm 1989, tỉnh Bình Định đƣợc tái lập trở lại từ tỉnh Nghĩa Bình. Từ đó đến nay, dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, phát huy truyền thống yêu nƣớc và cách mạng, nhân dân Bình Định đã ra sức xây dựng quê hƣơng ngày càng giàu đẹp.
Xã hội Bình Định có yếu tố đặc trƣng về dân tộc, ngoài dân tộc Kinh (Việt) chiếm 98 , tỉnh còn có các dân tộc khác c ng sinh sống trên địa bàn, trong đó chủ yếu là 3 dân tộc Chăm, Ba Na và Hrê sinh sống ở các huyện miền núi và trung du. Từ xƣa Bình Định là v ng đất hoang sơ, nơi cƣ trú của các bộ tộc bản địa và chƣa có tên nhƣ ngày nay mà mang tên phủ Hoài Nhơn. Từ năm 938- 1470 v ng đất này đã từng là trung tâm của vƣơng quốc Chăm-pa cổ đại với kinh thành Đồ Bàn hiện còn di tích ở thôn Nam Tân, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn). Ngƣời Chăm dƣới sự lãnh đạo của các lãnh tụ của mình đã xây dựng v ng đất này thành một quê hƣơng tr phú với nền văn hóa rực rỡ, in dậm sắc thái văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Chiêm Thành tạo thành những quần thể kiến trúc chung quanh thành Đồ Bàn nhƣ thành Cha, tháp Cánh Tiên (An Nhơn), thành đã Tà Cơn (Vĩnh Thạnh), tháp Dƣơng Long (Tây Sơn), tháp Bánh Ít (Tuy Phƣớc), tháp Đôi (Quy Nhơn) và những thành quách kỳ vĩ sống mãi với thời gian.
Nhân dân Bình Định sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp (khoảng 95 dân số), giàu truyền thống cần c lao động sáng tạo. Ngoài trồng lúa và 13 hoa màu là nghề chính hằng năm làm ra sản lƣợng lúa lớn, ngƣời dân còn làm thêm nhiều nghề thủ công nhƣ dệt vải, dệt chiếu, đan mây tre, làm bánh, nƣớc mắm, rƣợu,. Do đó, nhân dân Bình Định không những chăm lo tốt cho cuộc sống của mình mà trong cuộc kháng chiến đã có nhiều đóng góp về lƣơng thực, quân trang, quân dụng, dƣợc phẩm cho bộ đội. Về mặt phẩm chất, ngƣời dân Bình Định mang phẩm chất tốt đẹp của ngƣời Việt Nam là chất phúc đôn hậu, thông minh, sáng tạo và cần c , đoàn kết trong lao động và trong chống thiên tai và kẻ th.
Ngoài nét đẹp chung của ngƣời Việt Nam, ngƣời Bình Định còn có nhiều nét độc đáo riêng nhƣ truyền thống thƣợng võ, tự rèn luyện mình thành ngƣời có sức mạnh chống lại mọi áp bức bất công, đoàn kết thủy chung c ng bảo vệ quê hƣơng đất nƣớc. Truyền thống lịch sử, văn hóa của Bình Định Trải qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử đấu tranh chống thiên nhiên để tồn tại nhân dân Bình Định đã tạo cho mình một truyền thống đoàn kết lao động sáng tạo, tinh thần thƣợng võ, ý chí quật cƣờng và lòng quả cảm, liên tục v ng lên chống áp bức, bất công của tập đoàn phong kiến và giặc ngoại xâm. Trƣớc đây, Bình Định là v ng đất của nhà nƣớc Chăm-pa, mặc d có nhiều bƣớc thăng trầm, chiến tranh xảy ra liên miên, nhƣng văn hóa Chăm-pa ở đây vẫn phát triển cho đến khi nhà nƣớc Chăm-pa mất vai trò lịch sử. Dấu tích văn hóa của thời kỳ nhà nƣớc Chăm-pa tồn tại trên đất Bình Định còn để lại vô c ng phong phú, đa dạng về loại hình, nhiều về số lƣợng và trở thành đối tƣợng quan trọng trong việc tiếp tục nghiên cứu khảo cổ về Bình Định.
Đến thế kỷ XVI- XVIII, là thời kỳ suy yếu nhất của triều đại phong kiến Việt Nam, đất nƣớc bị chia cắt làm hai đàng, đàng Trong do chúa Nguyễn nắm, đàng Ngoài do vua Lê, chúa Trịnh thống trị, bọn vua chúa ăn chơi vô độ, xa xỉ, trụy lạc đến cực độ. Trái lại, ngƣời nông dân cực khổ, đời 14 sống phiêu tán, một mảnh đất cắm d i không có. Bọn chúng củng tăng cƣờng bóc lột dễ ăn chơi bao nhiêu thì dân tình c ng khổ cực bấy nhiêu, mâu thuẫn giữa nông dân và phong kiến ngày càng gay gắt dẫn đến các cuộc đấu tranh của nông dân. Năm 1769, căm ghét bọn tham quan ở lại và bọn địa chủ cƣờng hào sách nhiễu dân lành, Võ Văn Doan chàng Lía một thanh niên nghèo, gi i võ nghệ đã chiêu mộ nhân dân c ng khổ xây thành đắp lũy ở Trƣờng Mây- Hóc Sẩu (Ân Đức- Hoài Ân), dấy binh khởi nghĩa trừng trị bọn quan lại gian ác với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” đã làm cho bọn quan lại ở địa phƣơng hoang mang, khốn đốn, cuộc khởi nghĩa của chàng Lía đã gây tiếng ảnh hƣởng lớn trong nhân dân phủ Quy Nhơn lúc bấy giờ, để lại những ký ức tốt đẹp trong ký ức và truyền thống dân gian: Chiều chiều yến liệng Truông Mây.
Cảm thương chàng Lía bị vây trong thành. Một năm sau lại diễn ra của các dân tộc ít ngƣời ở miền Tây Bình Định chống lại vua quan triều Nguyễn, tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa này đều bị thất bại. Năm 1771 trƣớc tình hình mọi quyền lực đều tập trung trong tay Trƣờng Phúc Loan - một quần thần hết sức tham lam, tàn bạo ở phía Tây Bình Định, 3 anh em Tây Sơn. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã đứng lên dựng cờ khởi nghĩa, lấy Tây Sơn thƣợng đạo và Tây Sơn hạ đạo (Tây Sơn và An Khê ngày nay) làm căn cứ tập trung nhân tài vật lực.
Sở dĩ vì nơi đây tập trung đông ngƣời Kinh, Chăm, Ba Na- nguồn nhân lực quan trọng và cũng là v ng kinh tế phì nhiều sẵn có voi lớn, ngựa khúc, lƣơng thảo đầy đủ để lập căn cứ, rèn luyện quân sĩ, chiêu mộ nhân tài.