Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca trung đại Việt Nam thế kỷ XV ghi nhận bước chuyển biến mang tính bước ngoặt với sự xuất hiện của tập thơ Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi. Trong suốt hơn 600 năm qua, thi pháp học truyền thống phương Đông vốn duy trì hệ quy phạm khắt khe về tính ước lệ, sùng cổ, trang trọng và cách điệu hóa cao độ, khiến lời ăn tiếng nói sinh hoạt đời thường hiếm khi được dung nạp vào văn học viết chính thống. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải mã phương thức Nguyễn Trãi vượt thoát khỏi hệ quy phạm ấy để đưa chất liệu khẩu ngữ dân gian vào thể thơ Đường luật viết bằng chữ Nôm. Mục tiêu cụ thể là khảo sát toàn diện 100% ngữ liệu tác phẩm, lượng hóa hệ thống thực từ, hư từ, mô hình cú pháp và biện pháp tu từ mang sắc thái khẩu ngữ, qua đó đánh giá cống hiến lịch sử của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi trong tiến trình xây dựng ngôn ngữ văn hóa dân tộc. Phạm vi nghiên cứu bao quát trọn vẹn 254 bài thơ Nôm trong giai đoạn lịch sử đầy biến động từ năm 1400 đến năm 1442 tại Đại Việt, đặt trong mối quan hệ đối sánh với văn học thời Lý - Trần và giai đoạn sau thế kỷ XV. Về mặt ý nghĩa học thuật, công trình cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng với độ chính xác đạt mức tin cậy tuyệt đối trên toàn bộ văn bản khảo sát, xác lập cơ sở khoa học vững chắc để khẳng định vai trò đặt nền móng của Nguyễn Trãi đối với nền thơ cổ điển dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết phong cách học ngôn ngữ tiếng Việt của các học giả Hoàng Phê, Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú kết hợp thi pháp học văn học trung đại. Trọng tâm lý thuyết phân định rõ hai biến thể phong cách chính: phong cách sinh hoạt hàng ngày (ngôn ngữ khẩu ngữ tự nhiên, thông dụng trong giao tiếp cửa miệng) đối lập với phong cách văn bản viết gọt giũa mang tính chất quy phạm. Hệ thống khái niệm then chốt được xây dựng gồm 5 nhóm thực từ khẩu ngữ (danh từ chỉ sự vật đời thường, động từ miêu tả hành động cụ thể, tính từ sắc thái hóa, số từ, đại từ), 3 nhóm hư từ tình thái (kết từ, tiểu từ, phụ từ), cùng các mô hình cú pháp hội thoại tự nhiên và cấu trúc cân đăng đối hài hòa của ca dao tục ngữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên cỡ mẫu toàn vẹn gồm 254 bài thơ Nôm trong tác phẩm Quốc âm thi tập, dựa trên văn bản chuẩn do Giáo sư Đào Duy Anh phiên âm và chú giải công bố lần đầu năm 1956 và tái bản năm 1976. Phương pháp chọn mẫu là điều tra toàn diện (exhaustive sampling) nhằm loại bỏ hoàn toàn sai số chọn mẫu, bảo đảm 100% ngữ liệu văn bản được khảo sát một cách hệ thống. Phương pháp phân tích được lựa chọn bao gồm sự kết hợp chặt chẽ giữa thống kê định lượng và phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa - tu từ học lịch đại. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì chỉ có thống kê toán học ngôn ngữ mới lượng hóa chính xác tần số xuất hiện của 2.471 thực từ và 2.090 hư từ, đồng thời phân tích định tính giúp làm sáng tỏ giá trị thẩm mỹ và chức năng biểu đạt của từng cấu trúc trong hoàn cảnh văn hóa trung đại. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý ngữ liệu và đối sánh với tác phẩm Cư trần lạc đạo phú thời Trần được thực hiện trong khung thời gian 24 tháng nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng trên toàn bộ 254 bài thơ Nôm ghi nhận những kết quả cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống thực từ mang tính khẩu ngữ xuất hiện với mật độ dày đặc đạt 2.471 lượt từ, tạo nên bức tranh đời sống hiện thực sinh động. Trong đó, động từ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39,7% (980 lượt), phản ánh hoạt động lao động cụ thể của người nông dân như cuốc, cày, vun, vãi, ươm, cấy. Tính từ chiếm 35,8% (885 lượt), trung bình đạt hơn 3 tính từ trên mỗi bài thơ, miêu tả trạng thái và phẩm chất một cách cụ thể, dân dã như gầy, xỉ, lù khù, đắng cay, mặn chát. Danh từ đời thường chiếm 11,6% (286 lượt), trong đó danh từ cây cỏ chiếm ưu thế với 201 lần xuất hiện qua 44 loại cây dân dã như núc nác, mồng tơi, bèo, muống, ổi; danh từ chỉ động vật xuất hiện 85 lần với 25 loài quen thuộc như hùm, chó, mèo, tằm, dế. Số từ chiếm 10,3% (255 lượt) và đại từ chiếm 2,6% (65 lượt).

Thứ hai, lớp hư từ khẩu ngữ ghi nhận 130 loại với 2.090 lượt xuất hiện, chiếm 19,2% tổng số lượt từ trong toàn bộ tác phẩm (trung bình cứ khoảng 5 từ thì có 1 hư từ). Cấu trúc hư từ bao gồm kết từ chiếm 47% (982 lượt), tiểu từ tình thái chiếm 30% (627 lượt) và phụ từ chiếm 23% (480 lượt). Nhiều hư từ mang tính hội thoại đạt tần số lặp lại rất cao như: chẳng/chăng (176 lần), đã (100 lần), thì (66 lần), ấy (57 lần), nào (56 lần), qua (50 lần), ở (49 lần), chi (47 lần), chớ (41 lần), lại (39 lần).

Thứ ba, phương diện cú pháp và biện pháp tu từ mang đậm dấu ấn lời nói thường ngày với 157 cụm từ cân đối hài hòa (gồm 131 cụm 4 chữ chiếm 83,4% và 26 cụm 6 chữ chiếm 16,6%), 103 câu sử dụng kết cấu liên kết "thì", "là", 96 câu nghi vấn bộc lộ tâm trạng, 28 câu cảm thán với các tiểu từ "thay", "vay", 53 câu chứa kết cấu "những + vị từ" hoặc "hãy + động từ", cùng 177 câu thơ sử dụng biện pháp so sánh ví von giàu hình ảnh (trong đó có 21 câu cấu trúc định dạng A như B hoặc bằng B).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc Nguyễn Trãi sử dụng đậm đặc tính khẩu ngữ bắt nguồn từ tư tưởng thân dân sâu sắc và ý thức tự tôn xây dựng nền văn hiến độc lập của dân tộc Đại Việt sau chiến thắng quân Minh năm 1427. Khi đối sánh với các áng văn thơ Nôm đời Trần như Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông hay Vịnh Hoa Yên tự phú của Lý Đạo Tái, thơ Nôm Nguyễn Trãi thể hiện bước nhảy vọt về mặt nghệ thuật khi chuyển hóa hoàn toàn ngôn ngữ giao tiếp đời thường thành ngôn ngữ văn hóa nghệ thuật đỉnh cao, vượt qua mọi rào cản quy phạm của thi pháp thời đại.

Toàn bộ dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 5 nhóm thực từ khẩu ngữ và bảng tổng hợp phân bố tần số của 130 hư từ theo 3 nhóm chức năng (kết từ, tiểu từ, phụ từ). Việc trình bày trực quan này làm nổi bật tính hệ thống và chủ đích nghệ thuật nhất quán của tác giả, cho thấy khẩu ngữ không phải là sự xuất hiện ngẫu nhiên mà là một mã nghệ thuật được tổ chức chặt chẽ nhằm diễn đạt trọn vẹn thế giới nội tâm và tư tưởng nhân đạo cao cả của thi nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới phương pháp giảng dạy tác phẩm của Nguyễn Trãi trong chương trình Ngữ văn lớp 10 bằng cách tích hợp phương pháp phân tích ngôn ngữ học định lượng vào các văn bản tiêu biểu, hướng tới mục tiêu nâng cao 35% khả năng cảm thụ và nhận diện thi pháp thơ Nôm của học sinh trong niên khóa 2026-2027 do các tổ chuyên môn Ngữ văn trường trung học phổ thông triển khai thực hiện.

Thứ hai, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu từ điển tần số từ vựng khẩu ngữ cho toàn bộ 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập, hoàn thành trong lộ trình 18 tháng do Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp cùng các khoa Ngữ văn trường đại học sư phạm chủ trì, nhằm phục vụ công tác tra cứu học thuật trực tuyến.

Thứ ba, chuẩn hóa giáo trình Văn học Việt Nam trung đại tại các trường đại học sư phạm trên toàn quốc theo hướng bổ sung tối thiểu 2 chuyên đề chuyên sâu về phong cách học khẩu ngữ trong thơ ca cổ điển, hoàn thành biên soạn và thẩm định tài liệu trước năm 2028 dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Thứ tư, mở rộng hướng tiếp cận thi pháp học tác giả từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận cho học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam và Ngôn ngữ học, yêu cầu áp dụng phân tích định tính kết hợp định lượng trong 100% luận văn thạc sĩ nghiên cứu về văn học chữ Nôm giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên và nghiên cứu viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Ngôn ngữ học lịch sử: Cung cấp nguồn ngữ liệu định lượng chuẩn xác với 2.471 thực từ và 2.090 hư từ làm cơ sở đối sánh thi pháp học thời trung đại, phục vụ trực tiếp cho các công trình nghiên cứu cấp cơ sở và cấp quốc gia.

Nhóm giáo viên Ngữ văn cấp Trung học phổ thông: Hỗ trợ xây dựng giáo án bài giảng chuyên sâu về các tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Trãi trong chương trình lớp 10, giúp giáo viên phân tích tường minh các cấu trúc cú pháp và từ ngữ dân gian để học sinh dễ tiếp nhận.

Nhóm học viên cao học và sinh viên đại học ngành Sư phạm Ngữ văn, Ngôn ngữ học: Là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thực hiện luận văn thạc sĩ kết hợp phương pháp thống kê định lượng và phân tích phong cách học trên toàn bộ cỡ mẫu 254 văn bản khảo dị.

Nhóm các nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc và độc giả yêu mến thơ cổ điển: Cung cấp góc nhìn sâu sắc về tư tưởng nhân văn, tình yêu quê hương đất nước và bản lĩnh văn hóa của Nguyễn Trãi thông qua 157 cụm từ cân đối mang đậm hồn cốt dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

Tính khẩu ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi được hiểu như thế nào? Tính khẩu ngữ trong tác phẩm là việc tác giả đưa các yếu tố ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày vào thơ ca, bao gồm 2.471 thực từ miêu tả đời sống, 2.090 hư từ tình thái và 103 kết cấu cú pháp giao tiếp tự nhiên. Đây là quá trình chuyển hóa tiếng Việt nói thành ngôn ngữ văn hóa nghệ thuật.

Tại sao hư từ lại đóng vai trò quan trọng trong Quốc âm thi tập? Hư từ chiếm tới 19,2% tổng số lượt từ trong 254 bài thơ, với 130 loại hư từ khác nhau. Sự xuất hiện của các từ như chẳng/chăng (176 lần), đã (100 lần), thì (66 lần) giúp câu thơ Đường luật thoát khỏi vẻ gò bó ước lệ, mang ngữ điệu đối thoại tự nhiên và giàu sắc thái biểu cảm.

Tỷ lệ thực từ khẩu ngữ phân bổ như thế nào trong tác phẩm? Trong 2.471 lượt thực từ khẩu ngữ, động từ chiếm tỷ lệ cao nhất với 39,7% (980 lượt), tiếp theo là tính từ chiếm 35,8% (885 lượt), danh từ đời thường chiếm 11,6% (286 lượt với 44 loại cây và 25 loài vật), số từ chiếm 10,3% (255 lượt) và đại từ chiếm 2,6% (65 lượt).

Nguyễn Trãi đã vận dụng ca dao tục ngữ vào cú pháp thơ ra sao? Nguyễn Trãi đã sáng tạo 157 cụm từ cân đối hài hòa, trong đó có 131 cụm 4 chữ và 26 cụm 6 chữ mô phỏng nhịp điệu dân gian như "nẻo có sâu thì bỏ canh", kết hợp với 177 câu thơ so sánh ví von để tạo nên nét dân dã, hàm súc và dễ hiểu.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa Quốc âm thi tập và thơ ca cùng thời là gì? Thơ ca cùng thời chịu sự chi phối nặng nề của thi pháp sùng cổ và từ ngữ đài các, trong khi Quốc âm thi tập lần đầu tiên sử dụng hàng loạt hình ảnh dân dã như rau muống, mồng tơi, quả núc nác cùng cấu trúc lời nói thường, tạo bước ngoặt khai sinh nền thơ cổ điển dân tộc.

Kết luận

  • Luận văn đã khảo sát toàn diện 254 bài thơ Nôm trong Quốc âm thi tập, xác lập hệ thống dữ liệu định lượng chính xác với 2.471 thực từ và 2.090 hư từ mang tính khẩu ngữ.
  • Chứng minh thành công bước chuyển biến mang tính cách mạng từ tiếng Việt sinh hoạt đời thường thành ngôn ngữ thi ca cổ điển có giá trị thẩm mỹ cao.
  • Phân tích chi tiết 157 cụm từ cân đối hài hòa, 103 câu sử dụng kết cấu "thì/là" và 177 cấu trúc so sánh tu từ đậm đặc chất liệu văn học dân gian.
  • Khẳng định bản lĩnh văn hóa độc lập và tư tưởng thân dân vĩ đại của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi trong thế kỷ XV.
  • Đóng góp khung phương pháp luận phong cách học định lượng kết hợp định tính làm tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các nghiên cứu văn học trung đại.

Về kế hoạch phát triển học thuật, trong giai đoạn 12 tháng tiếp theo, nhóm nghiên cứu khuyến nghị mở rộng phạm vi khảo sát đối sánh tính khẩu ngữ sang các thi phẩm Nôm thế kỷ XV - XVI như Hồng Đức quốc âm thi tậpBạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Quý độc giả, học viên và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn dữ liệu khảo sát của luận văn để phục vụ công tác giảng dạy, học tập và phát triển các công trình khoa học chuyên sâu về di sản ngôn ngữ dân tộc.