Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Nguyễn Du và thơ chữ Hán của Nguyễn Du 1. Thời đại Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một thời đại vô cùng rối ren của xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, một thời kì bão táp trong lịch sử dân tộc với những thay đổi khôn lường. Bức tranh toàn cảnh phong kiến thời Lê mạt–Nguyễn sơ đầy rẫy những biến động, chế độ phong kiến tập quyền ngày càng lộ rõ nhiều ung nhọt.
Đặc điểm nổi bật của lịch sử nước ta thời kì này là chế độ phong kiến bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, không có lối thoát. Chiến tranh giữa các phe phái không khác nào một nạn dịch lớn. Tiêu biểu là cuộc đối đầu giữa họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài hơn hai thế kỷ. Khủng hoảng bắt đầu từ Đàng Ngoài rồi lan rộng ra cả nước.
Chiến tranh kéo dài khiến cuộc sống của người dân lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn: mất mùa, tô thuế nặng nề, đói kém xảy ra liên tiếp. Làng xóm trở nên tiêu điều, người nông dân phải tha phương cầu thực khắp nơi. Đàng Ngoài hình thành cơ chế “Vua Lê chúa Trịnh”. Vua chúa thường lo việc ăn chơi hơn là việc trị nước.
Có thể nói chính quyền phong kiến giai đoạn này, từ trung ương đến địa phương đều thối nát, tệ tham nhũng và hối lộ ngày càng trầm trọng. Ở Đàng Trong, những mâu thuẫn vốn có của chế độ phong kiến dần trở nên gay gắt. Từ giữa thế kỷ XVIII, Đàng Trong bắt đầu rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, tổ chức lại bộ máy nhà nước.
Các gia đình quan lại, quý tộc cũng đua nhau xây dựng dinh thự, đua nhau chơi bời xa xỉ. Chính trị thối nát, nhân dân lầm than. Xã hội phong kiến Việt Nam đã đi vào con đường tự sụp đổ không thể cứu vãn. Giai cấp thống trị ngày càng tự đào hố chôn mình, giai cấp bị trị rơi vào cảnh 15 bần cùng, khốn khổ.
Trước tình hình đó, mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt. Người dân không chịu đựng cuộc sống như cũ. Mọi tầng lớp nhân dân đều mong muốn thay đổi hoàn cảnh hiện tại. Họ chỉ có một con đường duy nhất là nổi dậy chống chính quyền phong kiến đòi hỏi những quyền lợi chính đáng cho bản thân.
Các phong trào khởi nghĩa nông dân chống triều đình phong kiến bùng nổ mạnh mẽ và dữ dội. Ở Đàng Ngoài, từ cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, nông dân nhiều nơi đã nổi dậy cướp phá nhà giàu. Có thể kể đến các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất…Cuộc chiến đấu quyết liệt của những người nông dân tuy chưa được thắng lợi nhưng đã là hồi chuông báo động cho chế độ phong kiến nước ta lúc bấy giờ. Ở Đàng Trong, chế độ phong kiến bước vào giai đoạn suy tàn, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại làm rung chuyển cả nước.
Cuộc khởi nghĩa bùng lên từ đất Tây Sơn, do ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ lãnh đạo. Sau nhiều năm, quân Tây Sơn đã hoàn thành sự nghiệp: đánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống trị Lê – Trịnh – Nguyễn , làm chủ đất nước. Thời đại Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh xây dựng triều Nguyễn. Dưới sự thống trị nhà Nguyễn, khởi nghĩa nông dân cũng nổ ra liên tục.
Phong trào nông dân khởi nghĩa giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX không những đã làm cho giai cấp thống trị khiếp sợ mà còn làm cho hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến bị khủng hoảng và sụp đổ. Tóm lại, thời đại của Nguyễn Du diễn ra giằng co quyết liệt giữa nhiều xu thế chính trị khác nhau. Trong đời sống tư tưởng xã hội, từng mảng nhỏ của hệ thống tư tưởng phong kiến có nguy cơ bị lật đổ đến tận gốc rễ. Chiến thắng hiển hách của phong trào nông dân, rồi sự trả thù của nhiều thế lực phản động, sức vang dội của những đòi hỏi về công lí…tất cả khiến cho không khí thời đại càng trở nên phức tạp.
Như vậy, những biến động của xã hội phong kiến thời đại Nguyễn Du là bằng chứng cho một cuộc khủng hoảng trầm trọng không chỉ ở bề mặt mà ở cả chiều sâu. Thân thế và cuộc đời Nguyễn Du Nguyễn Du sinh năm 1765 tại phường Bích Câu (Thăng Long); quê quán Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Quê hương Tiên Điền của Nguyễn Du nổi tiếng khắp cả nước vì có nhiều người đỗ đạt cao. Đặc biệt dòng họ Nguyễn của ông được coi là dòng họ vinh hiển nhất.
Có rất nhiều người làm quan to, tiêu biểu là Nguyễn Nghiễm cha Nguyễn Du làm đến chức Đại tư đồ, tước Xuân Quận Công. Chính vì lẽ đó mà dân gian vùng Tiên Điền có câu hát: Chừng nào ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan. Mười năm đầu của cuộc đời Nguyễn Du trôi qua êm đềm và có phần tẻ nhạt trong dinh cơ của cha tọa lạc ở phía nam hoàng thành Thăng Long, ven dòng Bích Câu trong vắt chảy ra hồ Kim Âu, mùa hè ngát hương sen. Cảnh ở đây có lẽ đẹp nhất đế đô thời kì ấy.
Hồn thơ Nguyễn Du đã được nảy nở và nuôi dưỡng chính tại nơi đây, trong không khí và nếp sống của một gia đình Nho học, có truyền thống văn chương và mấy đời làm quan to. Nguyễn Nghiễm, thân phụ Nguyễn Du, là người có tài, ông đỗ tiến sĩ năm 24 tuổi và sau đó lập được nhiều công trạng, năm 1761 được thăng Đô ngự sử, sau đó thăng thượng thư bộ công, tương đương với chức tể tướng. Năm 1764 ông được thăng hàm thiếu phó. Năm 1767, Trịnh Sâm lên cầm quyền, ông được thăng làm Thái tử thiếu bảo, tước Xuân Quận Công.
Nguyễn Du ra đời khi gia đình đang hết sức thịnh vượng, giàu sang tột bậc. Năm ấy, Nguyễn Nghiễm đang làm tể tướng trong phủ, hai năm sau được thăng Thái tử thiếu bảo. Trong kí ức của Nguyễn Du vẫn còn lưu lại sự kiện cụ thân sinh vinh quy về làng. Năm Tân Mão 1771, Nguyễn Nghiễm 64 tuổi, xin về hưu.
Chúa đặc cách thăng chức Đại tư đồ và chuẩn cho vinh quy về làng. Cả nhà cùng về theo, được dự một cuộc tiếp rước long trọng từ bến Giang Đình về dinh thự ở Tiên Điền. Không chỉ công thành danh toại, gia đình Nguyễn Du còn có truyền thống văn chương. Theo cuốn “Nguyễn Du, tác phẩm và lịch sử văn bản” của Nguyễn 17 Thạch Giang và Trương Chính thì dòng họ Nguyễn Tiên Điền người nào cũng thơ hay.
Nguyễn Nghiễm có hai tập thơ “Quân trung liên vận” và “Xuân đình tạp ngâm”. Nguyễn Khản anh trai Nguyễn Du không có tập thơ riêng nào. Tuy nhiên, thơ ông được chép trong “Nguyễn Gia Phong vận tập”. Ông là một trong những người dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn.
Năm 1780 xảy ra vụ “Mật án Canh Tý”. Trịnh Sâm lập Cán thay Tông làm thái tử. Nguyễn Khản giúp Trịnh Tông nhưng việc bị lộ, Khản bị bắt giam. Khi bị bắt giam, ông có làm một bài thơ tự tình bằng quốc âm.
Trịnh Sâm xem xong cảm động tha tội cho ông. Hai người cháu gọi Nguyễn Du bằng chú, nhưng tuổi xấp xỉ là Nguyễn Thiện và Nguyễn Hành thường cùng nhà thơ ngâm vịnh. Hai người con gái của Nguyễn Khản là Nguyễn Thị Bành và Nguyễn Thị Đài đều giỏi thơ quốc âm. Ngoài ra, Nguyễn Du có điều kiện học và đọc rất nhiều sách thánh hiền từ bé, được tiếp xúc với những làn điệu dân ca quan họ, những truyền thuyết thần kì của dân tộc thông qua người mẹ rất mực dịu hiền xứ Kinh Bắc, một xứ sở nổi tiếng về nếp sống giàu có và lịch lãm.
Nhưng tuổi thơ tươi đẹp ấy không kéo dài được bao lâu. Năm Nguyễn Du tròn 10 tuổi đã có biến cố lớn xảy ra: Nguyễn Trụ, anh cùng mẹ với Nguyễn Du mắc bệnh mất ở Kinh giữa tuổi 18, tiếp đến Nguyễn Nghiễm cũng qua đời. Hai cái tang như cảnh cửa khép lại thời vàng son của gia đình họ Nguyễn và cũng kết thúc luôn thời thơ ấu ấm êm của ông. Sau này, trải qua hơn 20 năm lưu lạc, trở về dưới chân núi Hồng, nhà thơ không khỏi nhớ lại cảnh huy hoàng ngày ấy và ghi lại trong bài Giang Đình hữu cảm : Ức tích ngô ông tạ lão thì Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi Tiên chu kích thủy thần long đấu, Bảo cái phù không thụy hạc phi, Nhất tự y thường vô mịch xứ, Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi.
Bách niên đa thiểu thương tâm sự, 18 Cận nhật Trường An đại dĩ phi. (Nhớ xưa khi cha ta từ tạ vì già mà về hưu, Ở bến sông này phơi phới xe bồ ngựa tứ. Thuyền tiên cuộn nước như rồng thần đấu nhau Chiếc lọng quí trên không như chim hạc lành bay. Từ khi áo xiêm không còn tìm đâu thấy Khói trên ngọn cỏ hai bờ sông khiến lòng khôn xiết bi thương, Trăm năm cuộc đời biết bao việc thương tâm, Ngày gần đây Trường An đã khác xưa nhiều.) (Cảm xúc khi thấy Giang Đình) Đó là bài thơ ghi lại dấu ấn quá khứ vàng son của gia đình Nguyễn Du, để lại trong ông một ấn tượng sâu đậm để rồi khi nhớ lại ông không sao giấu được nỗi chua xót, ngậm ngùi.
Mồ côi cả cha lẫn mẹ, bốn anh em Nguyễn Du chưa người nào đến tuổi trưởng thành nên phải về ở với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản. Khản học giỏi, thông minh, đỗ đạt sớm, làm quan to, được chúa Trịnh yêu mến và là con người tài hoa, phong lưu rất mực. Chính hoàn cảnh đó ấy, cuộc sống ấy đã sớm in vào hồn thơ của Nguyễn Du nhiều ấn tượng sâu đậm. Cũng trong thời gian này, địa vị Khản thăng giáng bất thường, cho đến khi kiêu binh nổi loạn, ông trốn lên với Nguyễn Điều ở Tây Sơn rồi sau đó hai anh em bỏ về Hà Tĩnh (1784).
Năm Bính Ngọ 1786, Nguyễn Huệ chỉ huy đội quân thủy chiến tiến đến sông Vị Hoàng (Nam Định). Không đầy một tháng, quân của Nguyễn Huệ chiếm Thuận Hóa cho đến Vị Hoàng rồi tiến thẳng ra Thăng Long giương cờ phù Lê diệt Trịnh. Đến khi nghe quân Tây Sơn bắc tiến, Nguyễn Khản bàn tính mọi công việc với em là Nguyễn Điều rồi đi. Đến cửa Thần Phù (Ninh Bình), được tin báo quân Tây Sơn đã đến bến Vị Doanh, Nguyễn Khản đến Thăng Long gặp Trịnh Khải dâng kế.
Kế sách chưa được thực hiện thì đã bị bọn kiêu binh phá, ông phải chạy lên Tây Sơn.