Chương 1. BA CẤP BẬC ĐỜI SỐNG TÂM LINH TÂM LÝ VÀ HUẤN LUYỆN CƠ CẤU VÀ NĂNG ĐỘNG à Phần 1. CON NGƯỜI NỘI TÂM Nếu chúng ta xem xét mình một cách tường tận, chúng ta đi đến kết luận đầu tiên này, đó là con người có thể sống trên ba cấp bậc khác nhau: tâm lý-thể lý, tâm lý-xã hội và lý tính-tinh thần. Ba cấp bậc này thường liên kết chặt chẽ với nhau và có thể nhận diện qua hành vi cụ thể của con người, trong đó cấp bậc này có thể chiếm ưu thế hơn cấp bậc kia.
Thuật ngữ "cấp bậc" muốn nói đến giới hạn của sự hiểu biết và quan tâm của chúng ta, là độ cao từ đó chúng ta quan sát bản thân và thế giới. Khi chúng ta thay đổi cao độ, tầm nhìn chúng ta cũng thay đổi, tương tự như khi chúng ta leo lên các tầng lầu khác nhau. Trên tầng ba, toàn cảnh mà chúng ta nhìn khi ở tầng một được mở rộng hơn, những yếu tố mới được thêm vào và những yếu tố khác thu nhỏ lại, bởi vì các yếu tố đó được sáp nhập vào một tầm nhìn rộng lớn hơn. Ví dụ, ở cấp bậc tâm-thể lý thuần tuý, con người thấy mình có nhu cầu tính dục; nhưng khi ở cấp tâm lý-xã hội, con người cũng thấy mình có nhu cầu chia sẻ với người khác; và khi ở cấp lý tính, tất cả nhu cầu đó lại nhắm đến việc hoàn thành các mục tiêu và mục đích.
Khi chúng ta tiếp tục leo lên, các chiều kích trước không bị loại bỏ, nhưng được hội nhập vào một tầm nhìn rộng lớn và có ý nghĩa hơn. Tại mỗi cấp bậc, yếu tố tâm linh luôn luôn hiện diện, nhưng với mức độ và phẩm chất khác nhau. Bây giờ chúng ta sẽ mô tả ba cấp bậc trong đời sống tâm linh và sau đó nêu lên một vài lãnh vực để hòa nhập ba cấp bậc với nhau. MÔ TẢ CÁC CẤP BẬC 1.
Cấp Bậc Tâm sinh Lý Cấp bậc này bao gồm những sinh hoạt tâm linh gắn chặt với tình trạng thể lý khỏe mạnh hay đau yếu. Việc thỏa mãn hay không thỏa mãn các nhu cầu thể lý của cơ thể như đói, khát, ngủ, tồn tại và mạnh khỏe. quyết định tình trạng sức khỏe thể lý. Nguồn gốc và cùng đích của các sinh hoạt này được biểu hiện qua cảm giác thiếu hụt hay thỏa mãn trên bình diện bản năng.
Động cơ chi phối cấp bậc này là sự thỏa mãn các nhu cầu ấy. Người ta giải tỏa sự căng thẳng và thỏa mãn ước muốn này bằng những mục tiêu đặc thù, cụ thể và ở bên ngoài con người. Con người cảm thấy toại nguyện khi "chiếm hữu” đối tượng một cách nào đó. Bởi thế, có một chuyển động đi từ chủ thể đến đối tượng và rồi quay về với chủ thể.
Động tác tìm kiếm một đối tượng để thỏa mãn là một hành động thủ đắc; nhưng động tác đó khởi sự với một tiến trình sinh học nhất định. Tiến trình đó thúc đẩy người ta tìm kiếm một sự thỏa mãn hoàn toàn và ngay tức khắc. Do vậy, hành động đó luôn luôn có tính chất tự động. Ở cấp bậc này, người ta nhận thức thực tại một cách rời rạc và phiến diện.
Thật thế, người ta xem xét thực tại trong tương quan trực tiếp hay gián tiếp với nhu cầu thể lý của mình. Nhận thức đó bị giới hạn trong phạm vi hữu hình, thể lý và hữu ích. Nhận thức đó hoàn toàn chủ quan. Bên cạnh các nhu cầu khác nhau của thể lý, còn có một nhu cầu cơ bản hơn và được xem như động cơ đích thật thúc đẩy con người tồn tại và bảo toàn bản thân.
Nhu cầu này gắn liền với việc diễn giải tổng quát về thực chất của đời sống, có tính vị lợi và cá nhân hơn. Cấp Bậc Tâm Lý- Xã Hội Cấp bậc này bao gồm những hoạt động của đời sống tâm linh liên kết với nhu cầu phát huy những tương quan xã hội, tức là nhu cầu "sống với". Là sinh vật mang tính xã hội, con người cảm thấy cần tăng cường tình bạn, cần giúp đỡ và được giúp đỡ và cảm nhận mình là thành viên của cộng đồng nhân loại, v. Các hoạt động tâm linh này không bắt nguồn từ sự thiếu hụt trên bình diện thể lý hay do bản năng.
Chúng không tương ứng với chuyển động thể lý, nhưng cũng có thể nhận diện được và để lại dấu vết trong hệ thần kinh. Động cơ trực tiếp thúc đẩy con người hành động chính là ý thức về sự giới hạn và bất toàn của mình trong tư cách là một ngôi vị. Vì sự giới hạn và bất toàn này, chúng ta cảm thấy cần đến người khác. Đối tượng mang lại sự toại nguyện không phải là những đối tượng cụ thể như trong cấp bậc thứ nhất, vì ở cấp bậc tâm lý- xã hội chúng ta đối phó với những tình huống liên hệ đến con người.
Đối tượng luôn luôn ở ngoài, mà chủ thể không bao giờ có thể đem vào trong cơ thể mình hay chiếm hữu như ở cấp bậc tâm-sinh lý, bởi lẽ người khác không phải là một vật thể. Con người thủ đắc một phương pháp thỏa đáng là lặp đi lặp lại những hành động tỏ ra hữu hiệu trong việc đạt tới mục tiêu. Ngay cả trên cấp bậc này, cách vận hành cũng mang ít nhiều tính chất tất định (determinism). Đó là một sự tất định tương đối, chứ không hoàn toàn tuyệt đối như trong cấp bậc 1.
Sự tất định này có tính xã hội, qua đó con người bị thúc bách phải đi tìm một loại tương quan nhất định làm cho mình được thỏa mãn, hay khi đứng trước những tác nhân kích thích, sự tất định đó làm nẩy sinh nơi con người một sự đáp ứng ít nhiều tự động. Về phương diện nhận thức đối với thực tế, chủ thể chú ý và bị thu hút không phải vì đối tượng có những cấu tố hay giá trị nội tại của một ngôi vị, mà vì chủ thể xem đối tượng như một chức năng tạo nên tương giao tích cực. Tầm nhìn về thực tại tuy còn phiến diện và một chiều, nhưng cũng giả thiết là chủ thể đã có một khả năng nhất định trong việc diễn giải nhận thức mà mình đã trải nghiệm. Nhờ tầm nhìn đó, người ta có thể mở rộng nhận thức của mình, kể cả những chức năng khác và tiềm năng của con người.
Điều đó muốn nói rằng mọi người đều cảm thấy ("lương tri") các mối tương giao liên vị là nền tảng của việc sống chung, ít nữa như một thiên hướng muốn nhận biết công ích. Ngay trong cấp bậc này, ngoài nhu cầu cần có người khác và tương giao, chúng ta có thể nhận ra một điều gì đó cơ bản hơn: Đó là nhu cầu mở rộng và thể hiện bản thân thông qua người khác. Theo Nuttin, đó là cách biểu lộ bản chất tinh thần của con người; con người là một hữu thể hiện hữu trong tương quan lệ thuộc với người khác. Cấp bậc Lý Tính - Tinh Thần Cấp bậc này bao gồm những hoạt động tinh thần liên kết với nhu cầu muốn biết sự thật và khả năng của con người trong việc hiểu biết bản chất sự vật, nhờ việc suy diễn từ các dữ kiện khả giác.
Nhờ khả năng này, chúng ta khác biệt với mọi sinh vật khác và có khả năng hiểu biết yếu tính của các sự vật, nghĩa là nhờ khả năng trừu tượng hóa mà chúng ta biết được yếu tính của sự vật từ các dữ kiện khả giác. Khi quan sát các dữ kiện, con người có thể rút ra những nguyên tắc tổng quát, tức là những khái niệm và quy luật trừu tượng chi phối và giải thích các dữ kiện khả giác. Khả năng này là "tinh thần" con người, một thực tại tương phản với vật chất, không thể đo lường, không thể phân chia, vượt trên không gian và thời gian. Nhờ khả năng này, con người có thể định nghĩa những khái niệm, biết được các sự vật trừu tượng, phán đoán và siêu vượt cái "ở đây và bây giờ" để khẳng định và theo đuổi các giá trị tinh thần.
Động cơ nền tảng của hoạt động trí óc không hệ tại sự khiếm khuyết của các mô hay ý thức về sự bất toàn, nhưng nằm trong ước nuốn-nhu cầu muốn biết và giải quyết các vấn đề cơ bản như biết mình, chỗ đứng của mình trong thế giới, ý nghĩa cuộc sống và sự chết. Đồng thời, ước muốn-nhu cầu đó được hỗ trợ nhờ khả năng sử dụng chức năng - phương tiện của mình (instrumental-functional capacity) để nắm bắt ít là một phần, sự thật của các sự vật. Đàng khác, ước muốn-nhu cầu đó còn được duy trì khi con người nhận thấy bị lôi cuốn hướng về sự thật, một sự lôi cuốn vượt xa ước muốn đơn thuần và chủ quan, và chỉ cho thấy ơn gọi của mọi người là tìm kiếm sự thật. Đối tượng thỏa mãn khát vọng hiểu biết của con người được trình bày bằng những hạn từ hoàn toàn khác biệt với hai cấp kia (cho dù không loại bỏ chúng), cả về khía cạnh đặc trưng hay cụ thể (không phải là vật chất như hai cấp trên) và mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng thỏa mãn khát vọng của chủ thể.
Con người không thể chiếm hữu đối tượng như ở cấp bậc thứ nhất (vd. thực phẩm) và cũng không thể giải thích và phát biểu tùy tiện theo nhu cầu của mình như trong cấp bậc thứ hai (vd. kết bạn để khỏi cảm thấy cô đơn). Trong cấp bậc lý tính - tinh thần, đối tượng cũng trở nên thành phần của con người và căn tính của mình, bởi vì đối tượng đáp ứng nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của con người.
Đàng khác, trên cấp bậc này con người không lặp đi lặp lại những hành động theo một kế hoạch đã học được nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Một đàng, con người không bao giờ hoàn toàn toại nguyện trong việc tìm kiếm chân lý như Frankl đã nói: "Con người không thể trả lời cho câu hỏi về ý nghĩa tuyệt đối." Đàng khác, mỗi người có một cách tìm kiếm chân lý độc đáo của mình, người này không giống người kia và trong mức độ nào đó, ngay trong mỗi người thì cách thức tìm kiếm chân lý cũng thay đổi. Sự mãn nguyện hay thỏa mãn trên cấp bậc này thì phức tạp và cũng ít máy móc hơn hai cấp bậc kia. Sự mãn nguyện phát sinh từ chính việc tìm kiếm chân lý và từ sự tương hợp giữa bản thân mình và sự thật, rõ ràng là sự tương hợp đó không bao giờ trọn vẹn được.