TÂM LÝ HỌC GIAO TIẾP TÂM LÝ HỌC GIAO TIẾP PGS. TRẦN TUẤN LỘ Bài 1: GIAO TIẾP LÀ GÌ? PHÂN LOẠI GIAO TIẾP Bài 2: QUAN HỆ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP Bài 3: VĂN HOÁ GIAO TIẾP CỦA XÃ HỘI VÀ SỰ GIAO TIẾP CÓ VĂN HÓA CỦA MỖI CÁ NHÂN Bài 4: PHÉP LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP VỚI TỪNG LOẠI NGƯƠI TRONG XÃ HỘI Bài 5: PHÉP LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP Ở NHÀ, Ở CƠ QUAN VÀ Ở NƠI CÔNG CỘNG Bài 6: NHẬN THỨC VÀ ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI QUA GIAO TIẾP Bài 7: CHUẨN BỊ TÂM LÝ, NGOẠI HÌNH VÀ KHUNG CẢNH TRƯỚC KHI GIAO TIẾP Bài 8: KHOẢNG CÁCH VÀ KIỂU DÁNG ĐỨNG NGỒI TRONG GIAO TIẾP Bài 9: CHÀO HỎI, XƯNG HÔ, TỰ GIỚI THIỆU VÀ GIỚI THIỆU, XIN LỖI VÀ CẢM ƠN TRONG GIAO TIẾP. Created by AM Word2CHM Bài 1: GIAO TIẾP LÀ GÌ? PHÂN LOẠI GIAO TIẾP TÂM LÝ HỌC GIAO TIẾP 1 – ĐỊNH NGHĨA KHÁI NIỆM GIAO TIẾP 1. Giao tiếp là hoạt động trong đó người này, do có một nhu cầu nào đó, tiếp cận và tác động vào tâm lý của người kia, để tạo ra được một sự giao lưu tâm lý giữa hai người, nhằm mục đích biết nhau, thông cảm với nhau và đồng ý thực hiện những điều gì đó theo thỏa thuận của cả hai bên để đáp ứng nhu cầu của mỗi bên.
Cần phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ qua lại giữa các khái niệm: giao tiếp và giao lưu, giao tiếp và ứng xử, giao tiếp và tiếp xúc, giao tiếp và quan hệ, v. BẢN CHẤT CỦA GIAO TIẾP 2.1 - Giao tiếp là một nhu cầu bẩm sinh và suốt đời của con người. Đó là những nhu cầu: 2.Về người khác (nhu cầu có người thân ruột thịt (bố mẹ, anh chị em, ông bà), có bạn, có người yêu, có vợ có chồng, có con, có cháu v. để được gắn bó, yêu thương, chia sẻ, chăm sóc, giúp đỡ, bảo vệ.
Về những cái cần cho cuộc sống và hoạt động của bản thân nhưng phải thông qua người khác mới có được (ví dụ cần tiền, cần đồ vật, cần kiến thức và kỹ năng. thì phải giao tiếp với người có thể giúp mình có tiền, có đồ vật có kiến thức và kỹ năng.2 - Giao tiếp là một hình thức vận động và biểu hiện của những quan hệ giữa người và người trong xã hội. Có rất nhiều loại quan hệ giữa người và người trong xã hội: quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống (quan hệ vợ chồng, gia đình, họ hàng), quan hệ hàng xóm - láng giềng, quan hệ bạn bè, quan hệ thầy trò, quan hệ đồng nghiệp, quan hệ chủ - thợ, quan hệ cấp trên - cấp dưới, quan hệ tuổi tác, quan hệ nam nữ, quan hệ tình cảm, quan hệ kinh tế, quan hệ tôn giáo v. Giao tiếp là hoạt động xác lập và tiếp tục mối quan hệ giữa hai người, là sự phát triển và củng cố hoặc là sự duy trì trong một giới hạn nhất định mối quan hệ đó.
Giao tiếp là để thể hiện một thái độ, một hành động cư xử (là đối xử và ứng xử) với người khác một cách phù hợp hay không phù hợp với sự mong đợi của người đó và với đạo lý của xã hội, pháp luật của nhà nước hoặc giáo lý của một tôn giáo nào đó.3 - Giao tiếp giữa hai người với nhau là gặp nhau của hai nhân vật (tức là hai chức danh xã hội) và của hai nhân cách (tức là của hai tâm lý) khác nhau. Sự khác nhau giữa hai nhân vật sự là khác nhau về chức vụ, danh hiệu, quyền lực, lợi ích, trách nhiệm, uy tín, lý lịch, thanh thế v. Sự khác nhau giữa hai nhân cách là sự khác nhau về trí tuệ, tình cảm, ý chí, đạo đức, xu hướng (nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng, lý tưởng, ước mơ), năng lực, tính cách, khí chất v. Giao tiếp là sự truyền thông, sự giao lưu về tâm lý giữa hai người và nhiều người với nhau, qua ngôn ngữ, cử chỉ, bộ mặt và hành động của nhau và tùy thuộc vào sự hiểu đúng hay sai, đầy đủ hay không đầy đủ của mỗi bên đối với ngôn ngữ, cử chỉ, bộ mặt và hành động của bên kia.
Điều đó lại tùy thuộc vào cách sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ, cách thể hiện bộ mặt và hành động của mỗi bên cũng như tùy thuộc vào mức độ gây nhiễu nhiều hay ít của môi trường. Cấu trúc và cơ chế vận hành của sự truyền thông - giao lưu giữa hai chủ thể S1 và S2 trong một môi trường E có thể được phác họa qua sơ đồ dưới đây: 3. PHÂN LOẠI GIAO TIẾP 3. Giao tiếp công việc, giao tiếp tình cảm.
Giao tiếp việc riêng, giao tiếp việc công. Giao tiếp đời thường, giao tiếp nghiệp vụ. Giao tiếp trực tiếp (mặt đối mặt), giao tiếp gián tiếp (điện thoại, thư, E-mail, qua người trung gian). Giao tiếp ở nhà, ở nơi công cộng, ở nơi làm việc.
Giao tiếp giữa hai người với nhau, giữa một người với nhiều người và giữa nhiều người bên này với nhiều người bên kia. Giao tiếp giữa nam và nữ (khác giới): 3. Giao tiếp giữa người trẻ và người già và giao tiếp giữa người trẻ với nhau hoặc giữa người già với nhau, giao tiếp giữa người lớn và trẻ em, giao tiếp giữa trẻ em với nhau. Giao tiếp giữa cấp trên và cấp dưới, giao tiếp giữa đồng cấp.
Giao tiếp với người lạ, giao tiếp với người quen, người thân, người yêu và giao tiếp với người đối địch. Giao tiếp với người khỏe mạnh, bình thường và giao tiếp với người bệnh hoặc người tàn tật. Giao tiếp với người trong nước và giao tiếp với người nước ngoài. Giao tiếp với người cùng dân tộc và giao tiếp với người dân tộc khác.
Giao tiếp với người cùng tôn giáo và giao tiếp với người khác tôn giáo, giao tiếp giữa người không theo tôn giáo nào và người có theo một tôn giáo nào đó. Giao tiếp giữa người dân với nhau và giao tiếp giữa người dân với người Nhà nước đang thi hành công vụ. Giao tiếp giữa người bán và người mua. Giao tiếp giữa người nổi tiếng và những người hâm mộ ở nơi công cộng.
Giao tiếp giữa người giàu và người nghèo. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1 Giao tiếp là gì? 2. Phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ qua lại giữa các khái niệm: giao tiếp, giao lưu, giao thiệp, giao tế, giao dịch, giao ước. Phân tích bản chất của giao tiếp.
Vẽ và giải thích sơ đồ cấu trúc và cơ chế vận hành của giao tiếp xét về mặt nó là sự truyền thông - giao lưu giữa hai chủ thể S1 và S2 qua môi trường E. Có thể phân loại giao tiếp như thế nào? Created by AM Word2CHM Bài 2: QUAN HỆ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP TÂM LÝ HỌC GIAO TIẾP 1. QUAN HỆ XÃ HỘI Sự giao tiếp giữa hai người với nhau bao giờ cũng diễn ra trong một quan hệ xã hội nhất định nào đó giữa hai người (Ví dụ quan hệ vợ chồng, quan hệ bạn bè, quan hệ thầy trò, quan hệ chủ thợ, quan hệ người bán - người mua, quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân.) và do đó mỗi người có một tư cách nhất định để giao tiếp với người kia trong mối quan hệ đó (ví dụ tư cách người vợ, tư cách người bạn, tư cách người thầy, tư cách người chủ, tư cách người bán, tư cách người thầy thuốc khi giao tiếp với người chồng, với người bạn, với người học trò, với khách hàng, với bệnh nhân của mình). Một nguyên tắc của giao tiếp là phải giao tiếp với ý thức rõ ràng về tư cách giao tiếp của bên này và bên kia, về mối quan hệ giao tiếp giữa 2 bên, để hành vi giao tiếp không phá vỡ tính chất và không vượt quá giới hạn của mối quan hệ đó (Ví dụ: thầy trò giao tiếp với nhau thì thầy phải ra thầy, trò phải ra trò).Tất nhiên, khi giao tiếp với tư cách khác, trong mối quan hệ khác, thì sự giao tiếp cũng phải khác, để phù hợp với tư cách và quan hệ đã đổi khác.Sự chuyển đổi quan hệ và tư cách giao tiếp giữa hai người có thể được thực hiện cách nhau một thời gian dài (qua nhiều năm, tháng) hoặc ngắn (trong ngày), thậm chí ngay trong một lần giao tiếp.
MÔI TRUỜNG XÃ HỘI Sự giao tiếp giữa hai người với nhau bao giờ cũng diễn ra trong một môi trường xã hội nhất định nào đó, nghĩa là tại một chỗ nào đó, trong một khung cảnh nào đó, với sự có mặt của nhiều hoặc ít người khác (những người thứ ba) hoặc ở một nơi hoàn toàn vắng vẻ (ví dụ ở nhà, trong gia đình, trên đường phố, nơi công cộng, trong cơ quan, trong nghĩa trang, trong nhà thờ, trong rừng. Tuỳ theo chỗ giao tiếp là ở đâu, có những ai chung quanh hay không mà cách giao tiếp không chỉ phải phù hợp vời tính chất của mối quan hệ giữa hai người, mà còn phải phù hợp với môi trường, với khung cảnh chung quanh. Xét về mặt tâm lý, lối sống và hành vi, mỗi cá nhân là sản phẩm của nền văn hóa của dân tộc mà cá nhân đó là thành viên, cũng có nghĩa là sản phẩm của môi trường văn hóa trong đó cá nhân đó đã sinh ra và lớn lên. Mà môi trường văn hóa, cũng như môi trường kinh tế, môi trường chính trị, v.là một mặt của môi trường xã hội, thuộc về môi trường xã hội.
Vì thế, mỗi cá nhân, khi giao tiếp với ai, giao tiếp ở đâu thì cần phải lưu ý tới vấn đề: cách giao tiếp - ứng xứ của mình với người đó và ở nơi đó có phù hợp với môi trường văn hóa xung quanh và với đặc điểm văn hóa của cá nhân người đó hay không. HOẠT ĐỘNG TÂM LÝ 3.1 - Cảm giác và tri giác trong giao tiếp. Sự giao tiếp đầu tiên giữa hai người bao giờ cũng bắt đầu bằng những cảm giác và tri giác đo có sự tác động qua lại giữa hai người vào các cơ quan thị giác và thính giác là vào mắt, để được thấy, và tai để được nghe người mà mình giao tiếp. Những cảm giác và sự tri giác về nhau giữa hai người trong giao tiếp là quan trọng, vì chính những cảm giác đó, sự tri giác đó đưa đến sự đánh giá nhân cách của đối tượng giao tiếp.Nhưng đó chỉ là cảm giác, tri giác mà thôi tức chỉ là sự nhận thức cảm tính về những hiện tượng bên ngoài của đối tượng mà thôi.